Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
Lời cảm ơn
Để thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp ngoài sự
cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo động viên của các
thầy cô giáo trong khoa Nông học, gia đình, bạn bè. Đặc biệt là sự hướng dẫn
giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo PGS.TS - Phạm Văn Cường và các thầy cô bộ
môn Cây lương thực.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo
PGS.TS – Phạm Văn Cường cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác tại Bộ môn
Cây lương thực và Khoa Nông học.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới nhà trường, gia đình và bạn bè đã động
viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập và hoàn
thành đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 13 tháng 01 năm 2010
Sinh Viên
Đoàn Thị Khuyên
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CER: Cường độ quang hợp
Ci: Nồng độ CO
2
trong gian bào
Cs: cộng sự
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Đ/C: Đối chứng
nghiệp, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu các ngành và
dân số thì sống chủ yếu dựa vào việc sản xuất nông nghiệp. Với tình trạng hạn
hán diễn ra ngày càng nhiều và trên diện rộng như hiện nay thì trong tương lai
ngành nông nghiệp của chúng ta sẽ như thế nào?.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đó chúng tôi tiến hành đề tài:“
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý và hình thái liên quan đến tính chịu hạn
của một số loài cỏ họ đậu (Fabaceae) làm thức ăn gia súc”.
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu tìm ra trong các giống cỏ họ đậu làm thí nghiệm giống có khả
năng chịu hạn và có năng suất chất lượng cao.
1.2.1 Yêu cầu
Xác định ảnh hưởng của hạn tới một số chỉ tiêu sinh lý và nông học như
cường độ quang hợp, tốc độ thoát hơi nước, độ nhạy khí khổng, chỉ số SPAD,
chiều cao cây, khối lượng chất xanh, khối lượng chất khô…của các giống cỏ thí
nghiệm.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình hạn hán trên thế giới và ở Việt Nam
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
2.1.1 Tình hình hạn hán trên thế giới
Tình hình hạn hán hiện nay đang diễn ra phổ biến ở nhiều nước trên thế
giới gây nhiều thiệt hại. Năm 2010 là một năm đáng nhớ trong lịch sử hạn hán
với tình trạng hạn hán xảy ra nghiêm trọng và trên diện rộng ở nhiều nước trên
thành ở Cuba hiện có mức nước dưới 50%. Tại 14 hồ chứa phục vụ nhu cầu sử
dụng nước của người dân 9 tỉnh hiện chỉ còn 1/4 lượng nước so với sức chứa
thiết kế. Chính phủ Cuba trong những tháng gần đây đã kêu gọi người dân tiết
kiệm sử dụng nước .
Tại Nga, Bộ Nông nghiệp Nga cho biết những đợt nắng nóng kéo dài và
nạn hạn hán nghiêm trọng tới mức kỷ lục ở nước Nga trong thời gian qua đã gây
thiệt hại ước tính gần 1 tỷ USD cho ngành nông nghiệp nước này. Theo thống
kê, sản lượng ngũ cốc năm nay của Nga chỉ đạt từ 60-65 triệu tấn, so với 97
triệu tấn năm ngoái và 108 triệu tấn trong vụ mùa bội thu trước đó. Dự trữ ngũ
cốc tính đến ngày 1/7 vừa qua chỉ còn khoảng 21,6-24 triệu tấn .
Vấn đề hạn hán đã và đang đe dọa cuộc sống của con người trên trái đất.
Nó đã trở thành vấn đề có tầm quan trọng trên toàn thế giới. Các nước trên thế
giới cần phải chung tay để khắc phục ảnh hưởng do hạn hán gây ra.
2.1.2 Tình hình hạn hạn ở Việt Nam
Ở Việt Nam trong 1 thập niên gần đây tình trạng hạn hán diễn ra liên tục.
Năm 2001, các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị là những
tỉnh bị hạn nghiêm trọng. Các tháng 6 và 7 hầu như không mưa. Chỉ riêng ở Phú
Yên, hạn hán đã gây thiệt hại cho 7200 ha mía, 500 ha sắn, 225 ha lúa nước và
300 ha lúa nương .
Trong 6 tháng đầu năm 2002, hạn hán nghiêm trọng đã diễn ra ở vùng
Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gây thiệt hại về mùa
màng, gây cháy rừng trên diện rộng, trong đó có cháy rừng lớn ở các khu rừng
tự nhiên U Minh thượng và U Minh hạ .Những tháng trước mùa mưa năm 2003,
hạn hán bao trùm hầu khắp Tay Nguyên, gây thiệt hại cho khoảng 300 ha lúa ở
Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia Lai và 50.000 ha đất canh tác ở Đắk Lắc; thiếu
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
nước cấp cho sinh hoạt của 100,000 hộ dân. Chỉ tính riêng cho Đắk Lắc, tổng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
Khi bị hạn cây thiếu nước. Lúc đó lượng nước hút vào không bù đắp
lượng nước bay hơi qua các bộ phận khác của cây. Chính vì vậy khi bị hạn các
quá trình trong cây sẽ bị đảo lộn.
2.2.1 Quá trình sinh trưởng và phát triển bị kìm hãm
Sinh trưởng và phát triển của thực vật cũng như các mô, các cơ quan gắn
liền với sinh trưởng và phát triển của mỗi tế bào. Sự sinh trưởng của tế bào thực
vật trải qua hai quá trình: phân chia tế bào và giãn dài tế bào. Đặc trưng của sinh
trưởng giãn dài tế bào là thể tích tăng nhanh. Sau cùng một thời gian thể tích của
tế bào ở pha phân chia tăng 1,5-2 lần trong khi đó ở pha giãn dài thể tích của tế
bào tăng 50-60 lần. Sự gia tăng không thuận nghịch như vậy chủ yếu là do sự
xâm nhập của nước. Quá trình sinh trưởng của thực vật đặc biệt nhạy cảm với
thiếu nước. Sự thiếu hụt nước xảy ra một chút ít đã ảnh hưởng đến áp suất
trương nước của tế bào. Hậu quả trực tiếp của sự giảm áp suất trương nước của
tế bào là sự đóng của khí khổng và sự tăng áp suất thẩm thấu của tế bào. Điều đó
ảnh hưởng đến sự thoát hơi nước và quang hợp của cây.
Thiếu nước còn ảnh hưởng đến quá trình phân hóa hoa đặc biệt là quá
trình thụ tinh. Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm được, ống phấn không sinh
trưởng giãn dài được, sự thụ tinh không xảy ra và hạt phấn sẽ bị lép, dẫn đến
giảm năng suất…
2.2.2 Hạn ảnh hưởng đến quang hợp
Bộ máy quang hợp và cụ thể là hệ sắc tố của thực vật rất nhạy cảm đối với
sự thay đổi của môi trường sống. Khi thiếu nước, nhiệt độ không khí, đất tăng
làm cho lục lạp có thể bị phân giải, hoạt tính thủy phân của enzym
chlorophylase tăng lên, sự tổng hợp diệp lục bị ức chế. Sự tổng hợp tiền lạp thể
cũng bị ức chế do sự bất hoạt của mọi enzym có trong quá trình tổng hợp
protorphyrin làm giảm hàm lượng diệp lục tổng số. Ngoài ra hạn làm giảm sự
bền chặt trong liên kết diệp lục với phức hệ protein – lipoit. Thiếu nước ảnh
hưởng đến trạng thái mở của khí khổng làm cho khí khổng đóng không cho CO
thường được là do khả năng hút khoáng của bộ rễ. Rễ hút khoáng theo nhiều cơ
chế khác nhau nhưng đều ở dạn ion được hút bám trên các hạt keo đất hay hòa
tan trong dung dịch đất .
Nước là dung môi hòa tan các hợp chất khoáng trong đất. Khi thiếu nước
trong đất, các hợp chất khoáng không phân ly thành các ion, hoặc ở dạng ion thì
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
liên kết chặt với keo đất nên cây không hấp thụ được. Còn khi thiếu nước trong
tế bào, nồng độ khoáng trong hệ dịch keo của tế bào chất cao. Cả hai hiện tượng
này đều dẫn đến khó trao đổi chất khoáng .
Khi thiếu nước, tế bào chất cũng chuyển sang trạng thái gel thậm chí trở
thành dạng coaxecva, gây cản trở cho hoạt động sống của tế bào rễ trong đó có
chức năng hút các dung dịch khoáng .
Quá trình hút khoáng của rễ bị ảnh hưởng của khô hạn sẽ làm cho cây
thiếu những nguyên tố khoáng quan trọng, do đó ảnh hưởng đến cấu trúc tế bào,
mô, nhiều cơ quan, hệ cơ quan, ảnh hưởng đến cấu trúc của các enzym và hoạt
động của chúng Kết quả là ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cơ thể.
2.2.5 Hạn ảnh hưởng đến vận chuyển và phân bố các chất hữu cơ trong cây
Các chất hữu cơ và vô cơ tan trong nước tạo nên dung dịch chảy trong hệ
thống mạch dẫn. Chính vì vậy nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc độ và chiều
hướng vận chuyển trong hệ mạch dẫn.
Các thí nghiệm đều khẳng định tốc độ của dòng vận chuyển trong hệ
thống mạch giảm 1/3 đến 1/2 lần khi thiếu nước. Sự ức chế này có thể cho hậu
quả gián tiếp làm cho quang hợp bị giảm và sinh trưởng bị chậm lại trong trường
hợp bị thiếu nước. Sự thiếu nước do ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận chuyển và
phân bố vật chất trong cây. Thiếu nước nhiều có thể gây nên hiện tượng “chảy
ngược dòng” các chất đồng hóa từ cơ quan dự trữ (bông, hạt, quả, củ) về cơ
quan dinh dưỡng (thân, lá rễ) và giảm nghiêm trọng năng suất cây trồng.
gặp hạn. Khí khổng của các thực vật chịu hạn này thường rất nhạy cảm với thiếu
nước. Các thực vật này thường sống ở sa mạc và thường là các thực vật CAM
nên có xu hướng mở khí khổng vào ban đêm để nhận CO
2
. Các cây xương rồng
ở sa mạc có thể đóng khí khổng liên tục trong thời gian rất dài nếu sức hút nước
của đất quá lớn. Ví dụ như sau 7 tháng không có mưa thì sức hút nước của cây
chỉ tăng 1-6 atm, trong khi đó sức hút nước của đất tăng 90 atm. Các nghiên cứu
của Viện Lúa Quốc tế IRRI cho thấy, mức độ đóng khí khổng của lúa cạn cao
hơn nhiều so với lúa nước.
Các thực vật chống chịu hạn thường có tầng cutin dày hơn để giảm lượng
nước bay hơi qua cutin.
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
Giảm sự hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời bằng cách vận động lá theo
hướng song song với tia sáng tới để nhận năng lượng ít nhất, nhất là vào ban
trưa hoặc có thể cuộn lá lại hay cụp lá xuống.
Giảm diện tích lá để giảm bề mặt bay hơi nước. Lá của nhiều thực vật có
thể biến thành gai như xương rồng. Lá của chúng thường sinh trưởng rất chậm
khi thiếu nước. Lá thường rất nhạy cảm với thiếu nước nên một số lá bị rụng đi
hay khô chết để giảm bề mặt bay hơi nước…
2.3.3 Duy trì khả năng hấp thu nước
Có hệ rễ phát triển mạnh và phân bố sâu xuống mạch nước ngầm để lấy
nước. Số lượng và mật độ rễ cũng rất cao và tỷ lệ rễ/thân lá cao hơn nhiều nhất
là khi chúng gặp hạn.
Về giải phẫu thì chúng có số lượng và đường kính mạch dẫn tăng lên để
tăng khả năng vận chuyển nước lên thân lá.
Tăng áp suất thẩm thấu và sức hút nước của mô bằng khả năng điều chỉnh
trong tế bào.
2.4 Tình hình chăn nuôi và nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và ở
Việt Nam
2.4.1 Tình hình chăn nuôi và nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO năm 2009
số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn trâu 182,2
triệu con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu
con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu
con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con… Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng
năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm.
Tại Châu Á theo số liệu thống kê của FAO năm 2009, tổng đàn trâu của
Châu Á là 176,7 triệu con chiếm 97% trâu của thế giới, tổng đàn bò 407,4 triệu
con, dê 415,2 triệu con, cừu 345,1 triệu con, ngựa 123 triệu con, lợn 534,3 triệu
con, gà 9101,3 triệu con và vịt 953 triệu con.
Dự báo về chăn nuôi Châu Á nói riêng và chăn nuôi thế giới nói chung
báo sẽ tiếp tục phát triển và tăng trưởng nhanh trong thời gian tới không chỉ về
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
số lượng vật nuôi mà còn về chất lượng sản phẩm chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng và tăng dân số trên trái đất. Chính vì vậy mà
vấn đề thức ăn chăn nuôi nói chung, cỏ thức ăn gia súc nói riêng rất được quan
tâm nghiên cứu trên thế giới.
Tại Thái Lan, nước đi đầu trong công nghệ sản xuất hạt giống cỏ ở khu
vực Đông Nam Á, từ năm 1997, mỗi năm sản xuất 200 tấn hạt cỏ hoà thảo và
250 tấn hạt cỏ họ đậu. Các tiến bộ kỹ thuật trong nghiên cứu sản xuất và xử lý
hạt giống cỏ bao gồm: Xác định các giống cỏ có thể ra hoa quả trong các điều
kiện địa lý khác nhau (Chaisang Phaikaew and Werner Stur), ảnh hưởng của các
yếu tố tự nhiên (ánh sáng, nhiệt độ, lượngmưa, đất đai…) đến khả năng ra hoa
Egyptianclover (Trifoloum aeguptium) được trồng làm thức ăn bổ sung cho khẩu
phần cơ sở là rơm lúa, yến mạch, thân lá ngô, ngọn lá mía cho gia súc trong suốt
mùa khô/đông (Dost muhâmd, 2001, 2002).
Tại Malaysia, hệ thống đồng cỏ cây họ đậu và cây hoà thảo đã tăng năng
suất động vật sống từ 2 - 3 lên 4 - 4,5 bò thịt /ha/năm (Wong Choi Chee and
Chen Chin Peng, 2000).
Tập đoàn cây họ đậu thích hợp với đất chua bao gồm: Digitaria sp; B.
hunidicola; B. dictyneura, Tripsacum andersonii. Vùng đất có nước ngầm cao các
giống P. purpurreum phát triển rất tốt về sinh khối và hạt giống(Wong and et al).
Tại Philipine, các giống cỏ hoà thảo P. purpurum và P. maximum TD58
và các giống cỏ họ đậu như L. leucocephala, C. pubeens, Stylo đã được thiết lập
thành công trong hệ thống nông hộ .
Giống cỏ Brchiaria muntica, brachiria decumben phát triển rất tốt dưới tán
dừa và góp phần tăng năng suất vật nuôi đã làm thu nhập các hộ tăng từ 7-28%.
Cũng tại Philipin các giống cỏ họ đậu như Leucaena leucocephala,
Caliandra, Glỉicili, Flemingia, Desmodium đã được thiết lập xen kẽ và có trật tự
với phương thức thâm canh thu cắt trong hệ thống canh tác trên đất dốc tạo
nguồn thức ăn xanh giàu protein phân bố cho gia súc chăn nuôi rải đều theo mùa
vụ và cải tạo đát, chống xói mòn ( Moong and et al,2000). Với 90% gia súc nhai
lại nuôi tại vườn nhà hoặc các trang trại nhỏ được trồng các giống Panicum
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
maximum, Paspalum atratum, Brachiaria brizantha, Stylo 184…chúng đều phát
triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra các giống cỏ trên còn
trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi trọc, trồng dưới tán
cây ăn quả. Hàng năm sản xuất được > 1 tấn hạt cỏ.
Ở Inddoneeesia: 56% thức ăn trâu bò là cỏ tự nhiên. Để đáp ứng nhu cầu
cho chăn nuôi thì bên cạnh việc thâm canh, trồng các giống cỏ tốt (cỏ Voi, cây
canh. Tuy nhiên, sản lượng này chỉ đáp ứng được gần 10% nhu cầu thức ăn thô
xanh của các loại gia súc ăn cỏ. Chính vì vậy vấn đề cây làm thức ăn cho gia súc
ở Việt Nam được quan tâm và nghiên cứu nhiều.
Nghiên cứu các giống cỏ trồng cao sản thích hợp cho từng vùng, Lê Hoà
Bình và cs (1993) đã tiến hành khảo sát một số giống cỏ mới nhập nội và một số
giống cỏ có khả năng đưa vào sản xuất. Qua 3 năm theo dõi tập đoàn các giống cỏ
đậu và hoà thảo nhập vào nước ta (36 giống), các tác giả đã xác định được những
giống có năng suất cao, thích hợp với điều kiện sinh thái của Việt nam để đưa vào
sản xuất gồm cỏ voi, ghinê, keo dậu Madagasca, stylo cock, stylo hamata.
Khổng Văn Đỉnh và cs (1996) nghiên cứu xác định giá trị cỏ ruzi trên
vùng đất xám Sông Bé đã đi đến kết luận cỏ ruzi tồn tại và phát triển tốt trên
vùng đất xám Sông Bé với năng suất và chất lượng khá, tỷ lệ tiêu hoá cao.
Các nghiên cứu về thích nghi các giống cỏ nhập nội tiếp tục được thực
hiện khi nhiều càng ngày có nhiều giống cỏ cao sản mới với năng suất cao, khả
năng tiêu hoá và sử dụng của gia súc cao được đưa vào Việt Nam. Trương Tấn
Khanh (1999) nghiên cứu khảo nghiệm tập đoàn giống cây thức ăn gia súc nhiệt
đới tại MaDrak và phát triển các giống thích nghi trong sản xuất nông hộ. Đề tài
đã nghiên cứu và khảo nghiệm 70 giống cây thức ăn thức ăn xanh tại MaDrak
trong đó có 10 giống thuộc họ đậu đã cho thấy có khả năng thích nghi và cho
năng suất, chất lượng tốt tại địa phương.
Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật gieo trồng và thời gian thu cắt đến
năng suất và chất lượng cỏ, Đinh Huỳnh và Lê Hà Châu (1993) đã tiến hành
nghiên cứu đánh giá năng suất và phẩm chất của một số giống cỏ trồng thu cắt
vào các thời kỳ khác nhau. Tác giả đã tiến hành trên 4 giống cỏ (3 hoà thảo và 1
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
bộ đậu) trồng đơn và trồng xen giữa thảo và bộ đậu đã xác định được thời điểm
thu cắt thích hợp, giá trị dinh dưỡng sản phẩm thu cắt và chế độ phân bón trong
Gồm 5 loại cỏ họ đậu.
Tên Kí hiệu
Stylo Ubon G1
Cỏ Croataria G2
Stylo guianensis G3
Cây keo dậu G4
CIAT 184 (S.CIAT 184) G5
3.2.2 Địa điểm
Nhà lưới số 10 thuộc bộ môn Cây lương thực, khoa Nông học, trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội.
3.2.3 Thời gian
Từ 19/08/2010- Đến 22/10/2010
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 2 nhân tố: Nhân tố hạn và nhân tố giống.
* Nhân tố hạn
Tiến hành ở 2 mức xử lý hạn sau:
• H
0
: Không xử lý hạn (đối chứng)
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
• H
1
: Xử lý hạn ở mức hạn là -60kpa. Mức hạn được đo bằng tensiometer.
* Nhân tố giống:
Bao gồm 5 loại cỏ họ đậu
(lấy mẫu giai đoạn phục hồi).
3.2.4 Các chỉ tiêu đo đếm
* Các chỉ tiêu sinh lý
• Cường độ quang hợp (CER) (µmol CO
2
/m
2
lá/s).
• Tốc độ thoát hơi nước (Tr) (mmol H
2
O/m
2
lá/s).
• Độ nhạy khí khổng (Gs) (mol H
2
O/m
2
/s).
• Nồng độ CO
2
trong gian bào (Ci) (
µ
mol CO
2
/mol). .
Các chỉ tiêu trên được đo bằng máy LICOR – 6400 (Hoa Kỳ) ở điều kiện
30
0
C, nồng độ CO
2
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của hạn tới các đặc tính sinh lý của các loại cỏ họ đậu
4.1.1 Cường độ quang hợp (CER)
Bảng 4.1.1: Cường độ quang hợp của các loại cỏ trong điều kiện hạn
Ghi chú : CV%: sai số thí nghiệm; LSD
0,05(G),
LSD
0,05(H),
LSD
0,05(H*G)
: Lần lượt là
giá trị sai khác nhỏ nhất ở mức xác suất 95% đối với nhân tố giống, nhân tố
hạn, của cả nhân tố hạn và giống.
Hoạt động quang hợp có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ với thực vật
mà với toàn bộ sinh vật trên toàn trái đất. Quang hợp là quá trình tổng hợp các
chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác dụng của năng lượng ánh sáng mặt trời và
sắc tố diệp lục. Để đánh giá khả năng quang hợp của cây người ta dựa vào giá trị
CER. Kết quả đo CER của các loại cỏ qua các giai đoạn trước hạn, hạn, phục hồi
được trình bày ở bảng 4.1.1.
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
Qua bảng cho thấy CER của tất cả các loại cỏ giảm ở giai đoạn hạn
-60Kpa và tăng cao ở giai đoạn phục hồi.
Ở thời điểm trước hạn CER của các loại cỏ G1, G2, G3, G5 không khác
lá/s) và thấp nhất ở G2 (8,40
µmol CO
2
/m
2
lá/s). Và trong giai đoạn này CER của các loại cỏ khác nhau ở
mức ý nghĩa. Phục hồi tốt nhất là các giống G1, G4.
4.1.2 Độ nhạy khí khổng (Gs)
Sự đóng mở của khí khổng liên quan trực tiếp tới sự xâm nhập của CO
2
từ
ngoài môi trường vào trong lá để tham gia các phản ứng tổng hợp các chất hữu
cơ, liên quan tới quá trình thoát hơi nước. Khi có sự kích thích của ánh sáng mặt
trời tế bào khí khổng hút nước, khi tế bào khí khổng no nước sẽ tự mở ra.
Để đánh giá độ nhạy khí khổng của các loại cỏ thí nghiệm khi xử lý hạn
chúng tôi đã tiến hành đo độ nhạy khí khổng qua các giai đoạn trước hạn, hạn,
phục hồi. Kết quả đo độ nhạy khí khổng của các loại cỏ thí nghiệm qua các giai
đoạn được trình bày ở bảng 4.1.2.
Khoa Nông học Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đoàn Thị Khuyên –
CT52B
Bảng 4.1.2: Độ nhạy khí khổng của các loại cỏ trong điều kiện hạn
Ghi chú : Như bảng 4.1.1
Qua bảng số liệu 2 ta thấy độ nhạy khí khổng của tất cả các loại cỏ đều
giảm ở giai đoạn hạn -60Kpa và tăng trở lại ở giai đoạn phục hồi.
Ở giai đoạn trước hạn độ nhạy khí khổng của G1, G2, G4, G5 khác nhau
ở mức ý nghĩa so với G3. Trong giai đoạn này thì độ nhạy khí khổng cao nhất
thể hiện ở G3 (1.03 mol H
2