De cuong on tap hoc ki2 Ngu van 7 - Pdf 25

Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 7 HỌC KÌ II
VÀ MỘT SỐ ĐỀ THI
PHẦN A : NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 7
I.Văn bản:
Nắm được tác giả, tác phẩm, nghệ thuật và nội dung chính các văn bản sau:
1.Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất
2. Tục ngữ về con người và xã hội
3. Tính thần yêu nước của nhân dân ta ( Hồ Chí Minh )
4. Sự giàu đẹp của Tiếng Việt (Đặng Thai Mai )
5. Đức tính giản dị của Bác Hồ ( Phạm Văn Đồng )
6. Ý nghĩa của văn chương ( Hoài Thanh )
7. Sống chết mặc bay ( Phạm Duy Tốn )
8. Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu ( Nguyễn Ái Quốc )
9. Ca Huế trên sông Hương ( Hà Ánh Minh )
10. Chèo Quan Âm Thị Kính
II. Tiếng Việt:
Thế nào là câu rút gọn? Cách dùng câu rút gọn : BT SGK / 15, 16
Thế nào là câu đặc biệt? Tác dụng của câu đặc biệt: BT SGK/ 29
Về ý nghĩa: Trạng ngữ thêm vào câu để xác định gì?
Về hình thức: vị trí của trạng ngữ? Giữa trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngứ thường có ranh
giới gì?
BT SGK/47,48
Câu chủ động là gì? Câu bị động là gì? Nêu mục đích chuyển đối câu chủ động sang câu bị
động và ngược lại: BT SGK/58,64,65
Dùng cụm chủ vị để mở rộng câu? Các trường hợp dùng cụm chủ vị để mở rộng câu BT
SGK/65,69
Thế nào là phép liệt kê? Các kiểu liệt kê: BT SGK/104
Dấu chấm lửng dùng để làm gì? Dấu chấm phẩy dùng để làm gì BT SGK/123
Công dụng của dấu gạch ngang? Phân biệt dấu gạch ngang với dấu gạch nối BT SGK /
130, 131

là thương cả………………………
Chọn phương án trả lời đúng
Câu3: Câu nào sau đây là câu rút gọn?
A.Người ta là hoa đất. B. Uống nước nhớ nguồn.
C.Một cây làm chẳng nên non. D.Tấc đất,tấc vàng.
Câu4: Câu nào không phải là câu đặc biệt?
A.Một đêm mùa xuân. B.Tiếng vỗ tay. C.Em Sơn! D.Mây bay.
Câu5: Trong câu: “Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp.”Trạng ngữ của câu thuộc loại
nào?
A.Thời gian. B.Không gian. C.Cách thức. D.Nguyên nhân.
Câu6: Câu : “Cây bàng này lá đã rụng hết.”Có cụm chủ -vị mở rộng thành phần nào?
A.Chủ ngữ B.Vị ngữ C.Định ngữ. D.Bổ
I. LÝ THUYẾT: (4đ )
Câu 1: Nêu giá trị nội dung của văn bản “ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” ( 2đ )
Câu 2: Viết một đoạn văn ngằn ( khoảng 4-5 câu ) với chủ đề tự chọn, trong đó có sử dụng
câu đặc biệt
II. LÀM VĂN: (6đ)
Đề : Chứng minh rằng bảo vệ môi trường thiên nhiên là bảo vệ cuộc sống của con người
Đáp án:
I. Lý thuyết:( 4đ )
Câu 1: Giá trị nội dung của văn bản “ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”
- Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu ( 0,5đ )
- Truyền thống yêu nước của nhân dân ta theo dòng thời gian lịch sử ( 0,5đ )
- Nhiệm vụ của Đảng trong việc phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước của toàn dân
+ Biểu dương tất cả những biểu hiện khác nhau của lòng yêu nước (0,5đ )
+ Tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo để mọi người đóng góp vào công cuộc kháng chiến
(0,5đ)
Câu 2: Yêu cầu của đoạn văn
- Viết đoạn văn đúng hình thức, nội dung phù hợp, diễn đạt chặt chẽ ( 1,5đ )
- Sử dụng đúng câu đặc biệt, có gạch dưới câu đặc biệt có trong đoạn văn ( 0,5đ )

ĐỀ 2 :
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II (2007-2008)
MÔN: NGỮ VĂN 7
Thời gian 90 phút ( Không kể thời gian giao đề )

I.Trắc nghiệm: (4điểm)
Chọn rồi viết vào giấy kiểm tra chữ cái đứng trước câu trả lời đúng ( từ câu 1 đến câu 4-
mỗi câu 0,5 đđiểm)
Câu 1: Văn bản “Đức tính giản dị của Bác Hồ” viết theo phương thức biểu đạt nào?
A Biểu cảm. C. Nghị luận chứng minh.
B. Tự sự. D. Nghị luận giải thích.
Câu 2: Câu nào trong các câu sau đây là câu rút gọn?
A Chúng ta phải học đi đôi với hành.
B. Ai cũng phải học đi đôi với hành.
C. Học đi đôi với hành.
D. Cả ba câu trên.
Câu 3: Câu nào sau đây là câu chủ động?
Chúng em đến thăm thầy cô giáo cũ.
Em được điểm 10.
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
3
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
Chúng em cố gắng học tốt.
Các bạn đang chơi đùa dưới sân.
Câu 4: Nội dung hai câu tục ngữ “ Không thầy đố mày làm nên” và “ Học thầy không tày
học bạn ” có ý nghĩa loại trừ nhau ?
Đúng. B. Sai.
Câu 5 (0,5điểmCâu đặc biệt là câu ……………………(1)………………………. . . . . .
Câu 6( 0,5điểmChuyển câu bị động sau “Em được mọi người yêu mến” thành câu chủ
động.

- Học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học trên lớp, học trong sách vở, học từ thầy cô,
bạn bè, cuộc sống.
- Nắm vững kiến thức cơ bản để học theo yêu cầu công việc hoặc sở thích.
- Có thể học mọi lúc, mọi nơi.
- Cần có kế hoạch học tập cụ thể và ý chí thực hiện kế hoạch đó.
- áp dụng những điều học được vào trong cuộc sống.
* Liên hệ bản thân: Em đã và sẽ học tập như thế nào?
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
4
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
KB:
* Cách 1: Khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ trong lời khuyên của Lê-nin: Đây là lời
khuyên đúng đắn và có ích với mọi người, đặc biệt là người học sinh.
* Cách 2: “Đường đời là cái thang không nấc chót. Việc học là cuốn sách không trang
cuối”. Mỗi người hãy coi học tập là niềm vui, hạnh phúc của đời mình.
ĐỀ 4
ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN 7 KÌ II
I/ TRẮC NGHIỆM: ( 3 điểm ) Khoanh tròn chữ cái đứng trước đầu câu trả lời đúng.
Câu 1: Trong các câu sau, câu nào là câu chủ động?
a. Nhà vua truyền ngôi cho cậu bé b. Lan được mẹ tặng chiếc cặp sách
c. Thuyền bị gió đẩy ra xa d. Ngôi nhà đã bị ai đó phá
Câu 2: Trong câu rút gọn:
a. Chỉ có thể vắng chủ ngữ b. Chỉ có thể vắng vị ngữ
c. Có thể vắng cả chủ ngữ và vị ngữ d. Chỉ có thể vắng các thành phần phụ
Câu 3: Câu nào trong các câu sau là câu rút gọn?
a. Học đi đôi với hành b. Ai cũng học đi đôi với hành
c. Em tôi luôn học đi đôi với hành d. Rất nhiều người học đi đôi với hành
câu 4: Trong các câu sau, câu nào là câu bị động?
a. Mẹ đang nấu cơm b. Lan được thầy giáo khen c. Trời mưa to d. Cơm bị thiu
Câu 5: Trong chương trình ngữ văn 7 học kì II, các em đã học được mấy văn bản nghị

Câu1. Trong bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung có đoạn:
Ngời ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ
a, Tìm các từ đồng nghĩa trong đoạn trích trên?
b, Chỉ ra các nét nghĩa của mỗi từ trong các từ đồng nghĩa mà em tìm đợc?
Câu2. Hoàn thành các thành ngữ sau, chọn ba thành ngữ giải nghĩa?
- Đem con
- Nồi da
- Rán sành
- Hồn xiêu
- Một mất
- chó cắn
- Tiến thoái
- Thắt lng
Câu3.Chỉ ra câu rút gọn, và cho biết nó rút gọn thành phần nào? Hãy khắc phục câu rút gon
đó?
- Bạn đã học bài cha?
- Rồi?
Câu4. Hãy ghép các câu đơn sau đây thành câu có cụm C-V làm thành phần ( có thể thêm
bớt những từ cần thiết)
a, Lan học giỏi
b, Anh quen biết cậu ấy.
c, Chúng em biết
d, Bạn ấy đẹp
e, Hoa đã gặp bạn ấy
g, Bố mẹ luôn vui lòng
h, Bàn đã hỏng
i, Bạn ấy đã về nhà hôm qua.
Câu5. Cảm nhận của em về bài thơ :

b. - Ôi con ! ( Mẹ về đây con )
c. - Đói bụng lắm mẹ ạ. Làm thế nào bây giờ hở mẹ ?
d. - Mẹ sẽ nấu cơm ngay.
Câu4. Hãy chứng minh : Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
7
THI HC Kè II
MÔN NGữ VĂN KHốI 7
THờI GIAN: 90 PHúT
(Không kể thời gian phát đề)
Câu 1: (2 điểm)
a) Câu đặc biệt là gì?
b) Tìm câu đặc biệt trong đoạn văn sau và nêu tác dụng của những câu đặc biệt trong đoạn
văn đó ?
Đứng trớc tổ dế, ong xanh khẽ vỗ cánh, uốn mình, giơng cặp răng rộng và nhọn nh đôi
gọng kìm, rồi thoắt cái lao nhanh xuống hang sâu. Ba giâyBốn giâyNăm giâyLâu quá!
(Vũ Tú Nam)
Câu 2: (2 điểm)
Nêu lên ý nghĩa giá trị của kinh nghiệm hai câu tục ngữ sau ?
a) Tấc đất tấc vàng.
b) Nhất nớc, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Câu 3: (6 điểm)
Nhân dân ta có câu tục ngữ: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Hãy giải thích nội
dung câu tục ngữ đó.
P N : MễN NG VN 7 Kè II
Câu 1: (2 điểm)
a) Nêu đợc định nghĩa câu đặc biệt: (0.5 điểm)
- Câu đặc biệt là loại câu không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ
b) Học sinh xác định và nêu đợc tác dụng của câu đặc biệt trong đoạn văn (1,5đ )
- Những câu đặc biệt có trong đoạn văn:
+ Ba giâyBốn giâyNăm giây (Xác định thời gian) (1 điểm)

nghiệm, kiến thức một sàng khôn.
- Nghĩa bóng : nghĩa của cả câu tục ngữ muốn khuyên răn, nhắc nhở và khuyến khích
chúng ta kinh nghiệm của ông cha cần Đi một ngày đàng học một sàng khôn
(lấy dẫn chứng cụ thể chứng minh.)
- Mở rộng bàn luận:
Nêu đợc mặt trái của vấn đề : đi nhiều mà không học hỏi, không có mục đích của việc
học
c) Kết bài: (1 điểm)
- Câu tục ngữ ngày xa vẫn còn ý nghĩa đối với ngày hôm nay.
Lu ý:
Nội dung trên chỉ là định hớng chung. Học sinh có thể có nhiều cách làm bài khác nhau;
giáo viên cần vận dụng biểu điểm linh họat đánh giá đúng chất lợng làm bài của học sinh

8
THI Mụn:Ng vn 7
Thi gian: 90 phỳt
I/ Trc nghim (3 im)
c k on vn sau õy v tr li cõu hi bng cỏch chn phng ỏn tr li ỳng, chớnh
xỏc nht v trỡnh by vo phiu lm bi .
Tinh thn yờu nc cng nh cỏc th ca quý. Cú khi c trng by trong t kớnh,
trong bỡnh pha lờ, rừ rng d thy.Nhng cng cú khi ct giu kớn ỏo trong rng, trong
hũm.Bn phn ca chỳng ta l lm cho nhng ca quý kớn ỏo y u c a ra trng
by. Ngha l phi ra sc gii thớch, tuyờn truyn, t chc,lónh o, lm cho tinh thn yờu
nc ca tt c mi ngi u c thc hnh vo cụng vic yờu nc, cụng vic khỏng
chin.
(Trớch: Ng vn 7, tp hai)
Cõu 1: Dũng no sau õy nờu ỳng tờn tỏc gi v vn bn cú cha on vn trờn?
A.Phm Vn ng- c tớnh gin d ca Bỏc H.
B.Hoi Thanh- í ngha vn chng.
C.H Chớ Minh- Tinh thn yờu nc ca nhõn dõn ta.

II.Tự luận (6 điểm).
Câu 1:
-Nêu được suy nghĩ sau khi học xong văn bản “Đức tính giản dị của Bác Hồ”: Nhận ra sự
giản dị trong đời sống, sinh hoạt, lời nói và bài viết của Bác.Học tập , noi theo tấm gương
của Bác Hồ, (1 điểm)
Câu 2:
-Bài viết theo phương pháp lập luận chứng minh, học sinh làm rõ câu tục ngữ: “ Có công
mài sắt, có ngày nên kim”.
-Bài viết rõ ràng, mạch lạc, có tính liên kết, có bố cục ba phần rõ ràng.
A.Mở bài:
Nêu được câu tục ngữ và ý nghĩa của câu tục ngữ (1 điểm).
B. Thân bài:
- Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ (1 điểm).
- Nêu dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ (2 điểm).
C.Kết bài:
Khẳng định tính đúng đắn của câu tục ngữ.Rút ra bài học cho bản thân(1 điểm)
**** *** ***
ĐỀ 9
I. Phần Trắc nghiệm (3điểm, mỗi câu trả lời đúng được 0,5 điểm) Đọc kĩ các câu hỏi, chọn
và chép lại câu trả lời đúng. "Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong
tác phong, Hồ Chủ Tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết, vì muốn cho quần chúng
nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được. Suy cho cùng, chân lý, những chân lý lớn của
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
9
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
nhân dân ta cũng như của thời đại là giản dị:"Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "Nước
Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý
ấy không bao giờ thay đổi" Những chân lý giản dị mà sâu sắc lúc đó thâm nhập vào quả
tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là
chủ nghĩa anh hùng cách mạng". (Trích ngữ văn lớp 7 - tập II)

C. Ẩn dụ.
II. Phần Tự luận (7điểm) Nhân dân ta có câu: "Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm
lại nên hòn núi cao" Dựa vào lịch sử đấu tranh, lao động và xây dựng đất nước của nhân
dân ta Em hãy chứng minh sự đúng đắn của câu ca dao trên .

ĐỀ 10
ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN LỚP 7 - HỌC KỲ II
I.Phần Trắc nghiệm (3điểm, mỗi câu trả lời đúng 0,5 điểm).
Câu 1: B. Đức tính giản dị của Bác Hồ.
Câu 2: B. Sự giản dị của Bác trong lời nói , bài viết.
Câu 3: B. Dấu gạch ngang.
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
10
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
Câu 4: C. Có thể đứng ở đầu hoặc cuối câu.
Câu 5: A. Tỏ ý còn nhiều trường hợp chưa liệt kê hết.
Câu 6: B. Liệt kê.
II. Phần Tự luận: (7điểm)
* Yêu cầu:
- Về kiểu bài: Văn chứng minh.
- Luận điểm, luận cứ rõ ràng.
- Bố cục rõ ràng, ngôn ngữ diễn đạt trong sáng. - Bài viết có cảm xúc. 1. Mở bài: (1,5
điểm)
- Tục ngữ ca dao là kho tàng kinh nghiệm quý báu nói về tình cảm, kinh nghiệm đấu tranh,
lao động, xây dựng và bảo vệ đất nước. - Dẫn câu ca dao - Khẳng định sức mạnh của đoàn
kết.
2. Thân bài: (4 điểm)
+ Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng. (1 điểm)
+ Đoàn kết là sức mạnh giúp con người yêu thương gắn bó với nhau. Làm tăng nghị lực ý
chí để dễ dàng đi đến thành công: (1 điểm)

GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
11
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
Tinh thần đoàn kết từ lâu đã thấm nhuần tư tưởng của người dân VIỆT NAM bởi vậy dân
tộc LÔ LÔ từ lâu đã hình thành nên truyền thuyết kể về đoàn người đi san mặt đất"Nhiều
sứ chung một lòng-Nhiều lòng chung một ý"."San mặt đất"-một công việc tưởng chừng
như không thể thực hiện ấy đã được những người dân tộc LÔ LÔ thực hiện. Đó không chỉ
đơn thuần là một truyền thuyết mà nó còn mang tinh thần giáo dục về sự đoàn kết rất lớn.
Đó cũng chính là cơ sở để người dân VIỆT NAM đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Từ các đời vua Hùng Vương nhân dân ta đã biết đứng dậy cùng nhau đấu tranh chống giặc
ngoại xâm. Sau này khi đến đời vua Trần với tiếng hô "Quyết chiến!" vang như sấm dậy
của các bô lão trong hội nghị Diên Hồng hay những chữ "sát Thát"-giết giặc mông Cổ
được đồng loạt thích lên tay các tướng sĩ chính là những minh chứng cho sực quyết tâm
đoàn kết chống giặc của nhân dân ta. Đó cũng chính là động lực giúp nhân dân ta vượt qua
mọi rào cản ngoại xâm và ngày càng khẳng định rõ hơn vị thế của sự chung sức, chung
lòng.
Nhưng chưa dừng lại ở đó, sự đồng tâm nhất trí của dân tộc ta còn được thể hiện vô cùng
rõ nét qua giai đoạn lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhân dân ta đã thực sự
trải qua rất nhiều khó khăn gian khổ nhưng đó cũng chính là sợi dây vô hình nối mọi
người, mọi tầng lớp lại với nhau cùng nghe theo lời dạy của Bác:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại tành công"
Lời dạy ấy luôn luôn đi sâu vào tư tưởng mỗi người bởi nó mang một ý nghĩa thực tiễn rất
lớn. Câu nói, lời dạy ấy đã góp phần to lớn giải thoát, đem lại sự tự do cho cả một dân tôcj
với những trận Đống Đa, Gò Vấp, Điện Biên Phủ, Vậy liệu nó có xứng đáng được ghi
nhớ và học tập theo?
Tất nhiên là có. Chính vì thế mà lớp trẻ ngày nay đã không ngừng phát triển ngoại giao với
các nước với tiêu trí "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai". Cùng với đó là bao nhà máy
thủy điện nhiệt điện được xây dựng dựa trên bàn tay của biết bao người lao động cùng các
kĩ sư cả trong nước và nước ngoài. VIỆT NAM đang dần đi lên trên con đường hội nhập,

người. Và có rất nhiều mặt để đánh giá đạo đức, phẩm chất của con người. Một trong số đó
là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà người khác đã giúp đỡ mình. Đó cũng là một chân lí
thiết thức trong đời thường. Chính vì vậy ông cha ta có câu : “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Câu tục ngữ trên đều mang một triết lí nhân văn sâu sa. Đó là cần phải biết ơn những người
đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho chúng ta.
Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “ăn quả” và “trồng cây” ý muốn nói, khi được hưởng thụ
những trái ngọt, trái thơm, cần nhớ tới công sức, mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó.
Điều đó được ẩn dụ nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, cho
phải đối với những người đã giúp đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm. Hành
động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với
người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đó cũng
chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người. Tất
cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công
sức của biết bao lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người
nông dân làm ra, một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày
ta đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù
trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật, những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho
con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa mà thế hệ trước đã làm nên
nhằm mục đích phục vụ thế hệ sau. Tất cả, tất cả cũng đều là những công sức lớn lao, sự
tâm huyết của mỗi người dồn lại đã tạo nên một thành quả thật đáng khâm phục để ngày
nay chúng ta cần biết ơn, phục hồi, tu dưỡng, phát triển những di sản đó. Những lòng biết
ơn, kính trọng không phải chỉ là lời nói mà còn cần hành động để có thể thể hiện được hết
ân nghĩa của ta. Đó chính là bài học thiết thực về đạo lí mà mỗi con người cần phải có.
Lòng nhớ ơn luôn mang một tình cảm cao đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhân văn. Nó giáo dục
chúng ta cần biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những anh hùng vĩ đại đã hi sinh, lấy thân
mình, mồ hôi xương máu để bảo vệ nền độc lập cho đất nước, giữ vững bình yên vùng trời
Tổ quốc cho chúng ta có những năm tháng sống vui sống khoẻ và có ích cho xã hội, phần
để thực hiện đúng trách nhiệm, bổn phận của chúng ta, phần vì không hổ thẹn với những
người ngã xuống giành lấy sự độc lập. Có ai hiểu được rằng, một sự biết ơn được thể hiện
như một đoá hoa mai ửng hé trong nắng vàng, một lòng kính trọng bộc lộ như một ánh sao

Thầy không chỉ là người dạy dỗ chúng ta về kiến thức mà còn là người dạy ta đạo đức,
phẩm chất, giá trị mỗi con người. Học chữ, học làm việc, tất cả mọi cái học đều phải có
thầy. Có thể nói thầy như thế hệ đi trước, trải qua biết bao kinh nghiệm trong cuộc sống,
nay truyền thụ lại kiến thức cho học sinh, mở đường chỉ lối, giúp ta có con đường đúng đắn
nhất để đi. Công lao đó không gì sánh nổi. Những ngày đầu tiên bước vào lớp, thầy đã dìu
dắt, dạy dỗ, chỉ bảo. Thầy dạy học đếm, học viết, học đánh vần. Lên lớp cao, thầy dạy cho
chúng ta những điều sâu sắc. Suốt quá trình học tập thì thầy là người luôn sát cánh bên ta,
trợ giúp, nâng đỡ , chắp cánh cho ta bay vào tương lai. Không một người học sinh nào có
thể thành đạt vào đời mà không có sự kèm cặp của thầy. Tất nhiên là nếu thầy dạy cho
chúng ta mà chúng ta không biết tiếp nhận, không biết vận dụng thì công sức của thầy cũng
chỉ là không. Chính vì vậy chúng ta cần phải biết rằng tâm huyết của thầy dành cho chúng
ta là hết mình nên chúng ta cũng phải nỗ lực, cố gắng, chịu khó để không phụ lòng những
công ơn đó. Công lao của thầy đối với sự nghiệp sau này của học sinh là vô cùng lớn, nó
chính là mầm mống của sự thành đạt. Khi một người thầy hết lòng vì học sinh thì đó chính
là niềm đam mê yêu nghề của thầy và cũng là tư tưởng lớn trong nền giáo dục.
Chúng ta có được ngày hôm nay cũng chính là do sự dìu dắt của thầy. Thầy đã truyền thụ
kiến thức, rèn giũa những phẩm chất cao quý tốt đẹp trong mỗi con người chúng ta để
chúng ta trở thành những viên kim cương sắc bén, đã được gọt giũa, luôn toả sáng trong
đường đời, và cũng chính điều đó nhắc nhở chúng ta hãy biết kính trọng người thầy ở mọi
lúc mọi nơi, hình ảnh của người thầy phải đi vào sự tôn kính trong mỗi chúng ta. Hãy biết
vận dụng vốn kiến thức của thầy đã truyền thụ kết hợp với khả năng vốn có của bản thân
để tạo nên một sự thành đạt rực rỡ trong cuộc đời của mình. Đó chính là những gì thầy
mong muốn, gửi gắm niềm tin ở ta. Và nó cũng thể hiện lòng tôn kính một cách sắc nét
nhất đối với thầy. Câu tục ngữ này mang giá trị trường tồn cùng thời gian và trong bất kì
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
14
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
hoàn cảnh nào thì nghĩa của nó cũng luôn được chấp nhận, khẳng định. Không chỉ vậy, câu
tục ngữ còn mang hình thức giản dị, âm điệu vui nhộn, nhưng ẩn chứa trong đó là biết bao
nỗi niềm, tâm sự của ông cha ta.

còn là tâm điểm của vũ trụ, Từ xa xưa, con người đã biết dựa vào nhau để sống, đã biết
trao đổi của cải vật chất. Trải theo cùng năm tháng, thời gian thì những bông hoa đất đó đã
tạo nên được những thành tựu như ngày nay. Tất cả những điều đó đều thể hiện con người
là ngọn đèn bất diệt.
Không đâu xa lạ, ngay trên đất Việt Nam này, nhân dân ta đã phấn đấu xây dựng đất nước
mình suốt từ Bắc chí Nam. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã làm cho đất nước càng tươi
đẹp. Nhân dân ta có mối tình cao cả, đoàn kết anh em từ miền ngược tới miền xuôi. Các
Vua Hùng có công dựng nước, nhân dân mọi thời có công giữ nước. Những vị danh nhân,
những nhà thành đạt toả sáng trên đường đời. Những điều đó phần nào đã làm sáng tỏ được
câu tục ngữ trên.
Thời xưa ông cha ta có những lối suy nghĩ và câu từ giản dị nhưng nó chứa đựng biết bao
nhiêu điều mà khiến chúng ta ngày nay thấm thía, cảm nhận mãi mà vẫn chưa thể lĩnh hội
hết được. Câu tục ngữ trên là một điển hình rõ nét. Có thể nói câu tục ngữ này mang nhiều
ý tứ sâu xa nhưng đúc kết lại bài học của nó là sự trân trọng về giá trị con người. Đó không
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
15
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
chỉ là một lời ca ngợi mà còn là một sự khẳng định, một luận điểm đúng đắn sôi nổi thu hút
nhiều suy nghĩ của những người xung quanh.
Giải thích câu tục ngữ "Người sống đống vàng"
thichcĐề bài: Dân gian ta có câu “Người sống, đống vàng”. Bằng hiểu biết của mình, em
hãy làm sáng tỏ câu tục ngữ trên.
Bài làm
Trên thế gian này, con người là quý giá nhất. Con người có thể làm ra mọi thứ. Con người
nắm giữ, sử dụng thời gian, làm ra vàng bạc, lúa gạo, biết suy nghĩ. Sức lao động của con
người là vô hạn và cũng là cái để con người thực hiện những ước mơ, là phương tiện tồn
tại cùng với thời gian. Điều đó cũng được ông cha ta hiểu từ xưa tới giờ và được đúc kết lại
bằng câu tục ngữ: “Người sống, đống vàng”.
Câu tục ngữ trên thuộc câu so sánh ẩn dưới hai vế đối xứng với nhau. Vần lưng giữa câu
làm cho người nghe dễ nhớ, dễ hiểu. Câu tục ngữ mang hai nghĩa.

Câu tục ngữ có hai vế, đối rất chỉnh. tác giả dân gian đã mượn những thứ gần gũi, thiết
thực với đời thường để biểu lộ những tư tưởng, quan điểm của những người dân lao động.
Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “đói” và “rét” để nói lên hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn
của cuộc sống bấy giờ. “Sạch” và “thơm” là cách sống trung thực, không tham lam, biết
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
16
Đề cương ôn tập Ngữ văn 7 – Học kì II
giữ gìn phẩm chất trong sạch, không sa vào tội lỗi. Hai chữ “cho” có nghĩa là giữ lấy. Hai
động từ đó là hai động từ quan trọng nhất trong bài, thể hiện hành động, thói quen, những
biểu lộ của người dân lao động. Phải biết giữ gìn phẩm giá, nhân cách đó chính là bài học
của câu tục ngữ trên. Đó cũng chính là quan điểm sống của người dân lao động hoàn toàn
trái nghịch với cách sống của giai cấp thống trị.
Thời phong kiến xưa, xã hội đầy rẫy những bất công, rối ren, giai cấp thống trị nghiệt ngã,
bóc lột nhân dân ta dưới nhiều hình thức, coi thường, khinh rẻ những người dân lao động.
Theo bản năng của con người, “con giun xéo lắm cũng quằn”, đến mức đường cùng thì tự
nhiên phải biết chống lại bằng bất cứ hành động nào, có mấy ai nghĩ đến việc giữ gìn phẩm
chất, thanh danh. Ấy vậy mà những người dân lao động, đối với họ điều đó là quan trọng
nhất, là mục tiêu để hướng tới, là động lực thúc đẩy để sống. Dù có bần cùng, đói khổ đến
đâu thì ý chí kiên cường của họ vẫn luôn chiến thắng, niềm tin của họ vẫn không bao giờ
tàn lui. Từ xa xưa, nước ta vốn dĩ là một nước gắn liền với đồng ruộng, nhân dân ta lam lũ
cùng nắng mưa, giai cấp thống thị vẫn vắt kiệt sức của họ bởi những sưu thuế nặng nề,
chính sách áp bức đến tận xương tuỷ. Trong hoàn cảnh như vậy, con người mà không có
lập trường thì rất dễ bị nhơ bẩn về đạo đức. Những người dân lao động chỉ biết dựa vào
nhau, thốt nên lời những kinh nghiệm của cuộc sống để khuyên nhủ nhau sống sao cho
khỏi hổ thẹn với trời đất, sao cho khỏi cắn rứt lương tâm, danh dự, ám ảnh bới những tội
lỗi xấu xa mà mình đã gây ra.
Nói kết lại, đối với người lao động thời xưa, vật chất không có gì, họ chỉ biết sống dựa vào
ý chí, niềm tin, sự nỗ lực, phấn đấu. Nhờ vào những yếu tố đó mà họ đã vượt lên được số
phận, biết sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, không một sự bóc lột nào có thể tước đi được tinh
thần, lý trí của họ. Điều đó đã được đúc kết qua quá trình lao động sản xuất, cô đọng được

thức đã nhận ra rằng sự học hỏi là thiết yếu trong việc thay đổi cuộc sống thêm tiến bộ,
nhưng có mấy khi có điều kiện để vượt khỏi luỹ tre làng. Vì vậy đó là một ước vọng lớn
lao của ông cha ta. Không chỉ thời bấy giờ mà ngày này, xã hội ngày một văn minh, đất
nước đổi mới, con người đang bước sang kỉ nguyên hiện đại, yếu tố học hỏi là không thể
không tồn tại. Để theo kịp những tiến bộ khoa học, con người cũng phải tìm hiểu, học tập
lẫn nhau để xứng đáng là một phần tử của đất nước, xứng đáng là một con người văn minh,
lịch sự. Chính những sự giàu đẹp của đất nước ngày một tăng cao đã là sự thúc giục trong ý
thức học hỏi ngoài đời của mỗi con người. Trong tất cả các môi trường học tập thì dường
như xã hội là một nơi sâu thẳm về kiến thức, là nơi chứng kiến biết bao kinh nghiệm của
con người và cũng là kho tàng để chúng ta tích luỹ. Có biết bao nhiêu điều hay lẽ phải đang
chờ chúng ta. Chắc chắn mỗi người đi ra ngoài xã hội đều vấp phải những trở ngại, khó
khăn, nhưng chính những điều đó lại càng tăng thêm sức mạnh cho mỗi chúng ta. Tuy
nhiên thì không phải học tập ngoài xã hội chỉ đơn thuần như vậy mà còn cần phải học
khôn, học chọn lọc những tinh tuý, còn những điều tiêu cực thì lại là mặt trái để chúng ta
biết tránh xa.
Nói tóm lại câu tục ngữ trên khuyên răn chúng ta về cách mở rộng hiểu biết, mở rộng vồn
kiến thức để tạo nên những thành quả vượt bậc và cách sống cao đẹp.
Giải thích câu tục ngữ: "Có công mài sắt "
Đề bài: Nhân dân ta có câu câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”.
Hãy chứng minh câu tục ngữ trên.
Bài làm
Trong cuộc sống, con người ta đều có những thành công đạt được và những ước mơ muốn
vươn tới. Và để thực hiện được điều đó thì ta phải có lòng kiên trì, bền bỉ, nỗ lực. Chính vì
vậy ông cha ta đã có câu : “Có công mài sắt, có ngày nên kim” để động viên, khích lệ hay
nói một cách khác là khuyên răn con cháu, dạy bảo những kinh nghiệm trong đời thường,
cuộc sống.
Câu tục ngữ được chia làm hai vế, mỗi vế có 4 từ. Hai vế này có hai cặp từ tương ứng với
nhau: “Có công – có ngày ; mài sắt - nên kim”. Một vế chỉ sự nỗ lực, một vế chỉ thành quả
đạt được.
Cây kim tuy nhỏ nhưng nó rất có ích, tròn trịa, trơn bóng, sắc nét. Để mài được một cây

Câu tục ngữ trên với hình thức ngôn từ dân dã nhưng thật ngắn gọn súc tích, bao hàm
những ý nghĩa sâu sa. Đó chính là những đúc kết lâu đời trong quá trình lao động, kinh
nghiệm chiến đấu, sản xuất và cả trong đời thường cuộc sống của ông cha ta. Nó như một
bài học quý báu, một thông điệp hữu dụng, một lời dạy chân tình rằng: “Hãy biết tu dưỡng,
rèn luyện những đức tính, phẩm chất kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, cần cù, sáng tạo, kết hợp
với khả năng vốn có của bản thân để làm nên một sức mạnh vô địch vượt mọi gian truân,
vất vả trong cuộc sống, những trở ngại éo le nhất mà đi tới thành công, thắng lợi”. Nào
chúng ta hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất như học tập chăm chỉ, lao động cần cù để
trở thành con ngoan trò giỏi, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước nhé!!!
GV Hoàng Thọ Hữu Trường THCS TT Xuân Trường
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status