Tiểu luận Triết học Mac Lênin về con người Nguyễn Minh Lợi - Pdf 25

TIU LUN : TRIT HC MC LấNIN

TIU LUN
Môn : Triết học Mác Lênin
Lp : Cao hc
Học viên: NGUYN MINH LI
T i : quan hên biện chứng giữa vật chất và ý thức trong hoạt động thực
tiễn
MC LC

1
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Mở đầu : Lý do chọn đề tài
PHẦN I : NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC
1. Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử
2. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác – Lênin về con người
PHẦN II : MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
1. Cá nhân và nhân cách
2. Quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội
PHẦN III : VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ CỦA CÁ
NHÂN – LÃNH TỤ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ
1. Khái niệm quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
2. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ
(Tài liệu tham khảo :
- Sách Giáo trình triết học Mác – Lênin (tập 2 : Chủ nghĩa duy vật lịch sử)
- Sách Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dùng cho hệ ĐH – CĐ)
- Website Chungta.com
- Website hochiminhcity.gov.com
- Website hnue.edu.vn)


I. NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC
1. Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử.
a. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông.
Trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại, con người là một vấn đề triết
học được đặt ra từ rất sớm. Từ những thế giới quan triết học và quan điểm chính
trị, xã hội khác nhau, các trường phái triết học, các hệ thống triết học tiêu biểu đã
có những kiến giải khác nhau về vấn đề con người.
Ngay từ thời cổ đại, trong triết học phương Đông (Trung Quốc và Ấn Độ),
“Con người được xem như là một vũ trụ thu nhỏ”. Các mối quan hệ giữa con
người với thế giới, con người với con người, con người với chính bản thân mình
đều đã được đề cập và luận giải khá sâu sắc. Những nhà thông thái vào thời đó
đã bàn nhiều đến sự hài hòa trong các mối quan hệ của con người. Nó trở thành
triết lý ứng xử và là nét bản sắc của con người phương Đông.
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ -
trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải
quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác
độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính
người là Thiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia). Các nhà tư
tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề
bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên của con
người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bản
tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các
trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị,
đạo đức và nhân sinh của họ.
Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trường phái
triết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,
giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu

4

5
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
hệ thống triết học của mình . Dù Đêcactơ đứng trên lập trường duy tâm và nhị
nguyên , nhưng trong luận đề nêu trên của ông đã thể hiện sự coi trọng đặc biệt
trí tuệ con người, đề cao tư duy khoa học lí luận.Hơn nữa, nó khẳng định vai trò
chủ thể của con người trong tư duy độc lập. Chính vì vậy, luận đề này có ý nghĩa
tích cực to lớn là cổ vũ sự phát triển của các khoa học lí thuyết và mở ra một thời
đại mới của triết học. Lênin đã từng nhận xét rằng: “Chủ nghĩa duy tâm thông
minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn.
Chủ nghĩa duy tâm biện chứng thay cho chủ nghĩa duy tâm thông minh; siêu
hình, không phát triển, chết cứng, thô bạo, bất động thay cho ngu xuẩn”. Nhận
xét này giúp ta đánh giá đúng đắn hơn cái hạt nhân hợp lí của triết học đã coi
trọng vấn đề con người.
Nhìn chung, quan niệm về con người trong triết học cua thế kỉ Ánh sáng
khá phong phú và co những bước tiến quan trọng. Con người là vấn đề trung tâm
trong các lí thuyết “thực thể”của Spinôza,trong lí thuyết “đơn tử” của Lépnít,
trong lí thuyết “năng lực tinh thần” của Bêcơn. Những quan điểm duy vật về con
người trong thời kì này trở thành cơ sở, nền tảng cho các khoa học nghiên cứu
con người về sau này.
Triết học cổ điển Đức (thế kỉ XVIII – XIX) là đỉnh cao của triết học
phương Tây cận đại. Các nhà triết học tiêu biểu của nền triết học này đã có cách
nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại. Do đó, họ có
những bước tiến trong quan niệm về khả năng và hoạt động của con người. Từ
I.Cantơ ( 1724 – 1804) đến G.V.Ph.Hêghen ( 1770 - 1831) đều đề cao sức mạnh
trí tuệ và hoạt động của con người. Con người được coi là chủ thể đồng thời là
kết quả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra. Tiến trình lịch sử của
nhân loại được các triết gia cổ điển Đức xem xét như một quá trình phát triển
biện chứng. Đó là những tư tưởng có ý nghĩa tích cực đã ảnh hưởng to lớn đến
triết học hiện đại. Hạn chế của họ là chỗ đã đề cao ý thức của con người tới mức
cực đoan, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức.

hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con
người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói:
Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự
nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự
nhiên.
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy
nhất quy định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con
người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử đã có
những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là
động vật sử dụng công cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội", hoặc con
người động vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn
mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên
được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con
người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà
trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. "Có thể phân biệt con người
với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được.

8
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người
bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ
chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của
mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của
mình".
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến
giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất
ra toàn bộ giới tự nhiên".
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt
động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người.

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người
vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối
quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa
người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và
mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"
1
.
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi
điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống
trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều
kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá
trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ
trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại;
quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con người mới
bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.

10
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ
nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn
tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu
sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh
khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người.
c) Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.

hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt
động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp
với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người
thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ
lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan
hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi
cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ
thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là "tổng hoà
các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư
cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến
đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy
định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của bản
chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm
cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là
toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh
hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa
định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách
tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt
động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất
trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động

12
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong
bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI. 1.
Cá nhân và nhân cách.

xã hội thì gọi là cá nhân, trong tư cách đại diện cho loài gọi là cá thể
Khái niệm nhân cách : Nói lên trình độ phát triển và trưởng thành về chất
lượng xã hội của con người.
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là
nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái
niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự
khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loài còn
nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng
biệt.
Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các
yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng có của cá nhân, đóng vai
trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động
của mình.
Nhân cách không phải là cái bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát
triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây. Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề
sinh học và tư chất di truyền học, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới
hữu sinh. Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát
triển của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường
và xã hội đối với mỗi cá nhân. Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan
cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu tố như quan điểm, lý luận, niềm tin, định
hướng giá trị Yếu tố quyết định để hình thành thế giới quan cá nhân là tính
chất của thời đại; lợi ích, vai trò địa vị cá nhân trong xã hội; khả năng thẩm định
giá trị đạo đức - nhân văn và kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Dựa trên nền tảng
của thế giới quan cá nhân để hình thành các thuộc tính bên trong về năng lực, về

14
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
phẩm chất xã hội như năng lực trí tuệ, chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức,
pháp luật, thẩm mỹ.
2. Quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội

tế, xã hội, cho sự phát triển được thực hiện. Xã hội càng phát triển thì cá nhân
càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh
thần. Mặt khác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện để
thúc đẩy xã hội tiến lên. Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích
chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Bất
cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu
lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và động
lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp.
Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội do sự quy định của mặt
khách quan và mặt chủ quan. Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển và
năng suất lao động xã hội. Mặt chủ quan biểu hiện ở khả năng nhận thức và vận
dụng quy luật xã hội phù hợp với mục đích của con người.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả dưới chế độ xã hội
chủ nghĩa, những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội vẫn còn tồn tại. Do đó, để
giải quyết đúng đắn quan hệ cá nhân - xã hội, cần phải tránh hai thái độ cực
đoan. Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập với xã
hội, nhu cầu cá nhân chưa phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội. Khuynh
hướng này có thể dẫn đến chủ nghĩa cá nhân. Hai là, chỉ thấy xã hội mà không
thấy cá nhân, quan niệm sai lầm về lợi ích xã hội, về chủ nghĩa tập thể, thực chất
là chủ nghĩa bình quân, coi nhẹ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân. Xã hội càng phát
triển thì nhu cầu, lợi ích cá nhân càng đa dạng. Nếu không quan tâm đến vấn đề
cá nhân, sẽ dẫn đến một xã hội nghèo nàn, chậm phát triển, không phù hợp với
bản chất của chủ nghĩa xã hội.
ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và văn hóa

16
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú. Lợi ích cá nhân ngày càng được chú
ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân. Tuy nhiên, cơ chế này có thể dẫn tới

Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sau đây:
Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh
thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân. Thứ hai, những
bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân
dân. Thứ ba, những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi
theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
b) Khái niệm cá nhân trong lịch sử
Trong mối liên hệ không rách rời với quần chúng nhân dân, những cá nhân
kiệt xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tiến trình lịch sử; đó là những vĩ
nhân, lãnh tụ.
Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
khoa học, nghệ thuật Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ là
những cá nhân kiệt xuất do phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân tạo
nên.
Để trở thành lãnh tụ gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm,
lãnh tụ phải là người có những phẩm chất cơ bản sau đây: Một là, có tri thức
khoa học uyên bác, nắm bắt được xu thế vận động của dân tộc, quốc tế và thời
đại. Hai là, có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành
động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế và thời đại. Ba
là, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hy sinh quên mình vì lợi ích của
dân tộc, quốc tế và thời đại. Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào, nếu lịch sử
đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân
dân, tất yếu sẽ xuất hiện những lãnh tụ, đáp ứng yêu cầu của lịch sử.

18
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
2. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ .

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân
dân, đồng thời đánh giá cao vai trò của lãnh tụ.
a) Vai trò của quần chúng nhân dân.
Về căn bản, tất cả các nhà triết học trong lịch sử triết học trước Mác đều
không nhận thức đúng vai trò của quần chúng nhân dân trong trong tiến trình
phát triển của lịch sử. Về nguồn gốc lý luận, điều đó có nguyên nhân từ quan
điểm duy tâm hoặc siêu hình về xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng
tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con
người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động của quần chúng
nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải thông qua
hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, để biến lý
tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội.
Vai trò quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở ba nội
dung.
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội,
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã
hội. Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mà những
nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất. Lực lượng sản xuất cơ
bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và
lao động trí óc. Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay có vai trò đặc biệt đối với
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song, vai trò của khoa học chỉ có thể phát
huy thông qua thực tiễn sản xuất của quần chúng nhân dân lao động, nhất là đội
ngũ công nhân hiện đại và trí thức trong nền sản xuất xã hội, của thời đại kinh tế
tri thức. Điều đó khẳng định rằng, hoạt động sản xuất của quần chúng nhân dân
là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc chuyển biến cách mạng nào

20

21
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Nam cũng khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, và quan
điểm "lấy dân làm gốc" trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra
lịch sử của nhân dân Việt Nam.
b) Vai trò của lãnh tụ.
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ có nhiệm vụ chủ yếu
sau: Thứ nhất, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại trên cơ sở hiểu biết
những quy luật khách quan của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội. Thứ hai,
định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách mạng. Thứ
ba, tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần chúng, thống nhất ý chí và
hành động của quần chúng nhằm hướng vào giải quyết những mục tiêu cách
mạng đề ra.
Từ nhiệm vụ trên ta thấy lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong trào quần
chúng Lênin viết: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ
chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong
trào"
1
. Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải bài trừ tệ sùng bái cá nhân.
Tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hóa cá nhân người lãnh đạo, sẽ dẫn đến
tuyệt đối hóa cá nhân kiệt xuất, vai trò người lãnh đạo mà xem nhẹ vai trò của
tập thể lãnh đạo và của quần chúng nhân dân. Căn bệnh trên dẫn đến hạn chế
hoặc tước bỏ quyền làm chủ của nhân dân, làm cho nhân dân thiếu tin tưởng vào
chính bản thân họ, dẫn đến thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng, không phát
huy được tính năng động sáng tạo chủ quan của mình. Người mắc căn bệnh sùng
bái cá nhân thường đặt mình cao hơn tập thể, đứng ngoài đường lối chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước. Họ không thực hiện đúng chính sách cán bộ
của Đảng, vi phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng, chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết, tạo
ra nhiều hiện tượng tiêu cực, đánh mất lòng tin trong cán bộ và nhân dân, phá

học. Khoa xã hội học đã đạt được rất nhiều thành tựu khi giải quyết và lý giải
các vấn đề xã hội của con người. Mặc dù nghành khoa học này đã nghiên cứu
các hình thái ý thức và tồn tại xã hội, các tổ chức và cơ cấu xã hội của con người,

23
TIỂU LUẬN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
song nó lại không có khả năng xây dựng một hệ thống lý luận về mặt tự nhiên
trong bản chất của con người.
Trong hệ thống lý luận triết học về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen, con
người phải có mối quan hệ cùng nhau. Con người sinh ra trong một xã hội nhất
định và nó nằm trong mối liên hệ lịch sử với các thế hệ trước, gắn chặt với các
quan hệ xã hội. Tính xã hội - lịch sử của con người được các ông đặt vào hàng
trung tâm. Sự phát triển nhiều mặt trong con người đều là sản phẩm của các qua
trình xã hội. Các khả năng bẩm sinh, cơ cấu tinh thần, cơ thể tâm lý… của con
người đều gắn với các quá trình lịch sử - xã hội. Tâm lý, ý thức của con người
vừa là sản phẩm, vừa phản ánh các quan hệ xã hội.
Hệ thống lý luận triết học về tính toàn vẹn sinh vật -xã hội - lịch sử của
con người mà C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng được dựa trên quan điểm thực
tiễn vật chất - tinh thần, trong đó, tâm điểm của nó là lao động của con người.
Như đã trình bầy ở trên, C.Mác mượn câu nói của Phơrăngcơlanh để định nghĩa
“con người là động vật biết chế tạo công cụ lao động”. Sự khác nhau giữa con
người và các động vật khác ở chỗ, con người tự tạo ra mình bằng các hoạt động
sáng tạo công cụ lao động. Bằng lao động, con người đã biến mình thành một
động vật trên sinh học. Nhờ lao động, con người đã biến đổi hiện thực khách
quan thành hiện thực của con người. Trong quá trình biến đổi đó, con người đã
biến đổi cả những điều kiện sinh hoạt của mình về mặt giống loài.
Quan điểm thực tiễn, quan điểm lao động của C.Mác và Ph.Ăngghen được
trình bầy trong Biện chứng của tự nhiên là một hệ thống lý luận về con người tự
sáng tạo ra mình thông qua lao động của bản thân. Quan điển này khác hẳn và
đối lập hoàn toàn với quan niệm thực tiễn tinh thần của Hêgen. Hoạt động sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status