TIỂU LUẬN đề tài “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở nước ta” - Pdf 15

1
TIỂU LUẬN

đề tài “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con
người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở nước ta” 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 3
1/ Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội. . 3
2/ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội 5
II VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1/ Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước 7
2/ Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có
hiệu quả ở nước ta hiện nay 9
3/ Những giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước ta hiện
nay . 12
KẾT LUẬN 15
Tài liệu tham khảo 16


4
NỘI DUNG

I QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1/ Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với
mặt xã hội.
Triết học Mác-Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch
sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất
giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm
của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính
sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên
quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ
của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản
phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Tuy
nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất
quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con
người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan
niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động
vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con
người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ
vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa
nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn
đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã
hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở
con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng
5

mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ
và hưởng các giá trị tinh thần.
Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự
nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt
con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá
trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly
khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa
quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã
hội.
2/ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con
người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan
hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con
người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong
đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất
cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan
đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã
nêu lên một mệnh đề nổi tiếng “Luận cương về Phơbách” “Bản chất con
người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối
quan hệ xã hội”.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn
tại con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa
lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn
7
luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học

là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều
kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con
người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể
sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho
phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy
định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi
của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần
phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn
cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con
người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục
đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người
tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên
nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành
vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các
quy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn
nào của lịch sử xã hội loài người.

II VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1/ Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước
a. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Theo quan điểm của Đảng ta xác định công nghiệp hóa là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
9
và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng khoa học công nghệ tiên tiến

vốn nhân lực bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền
thống của dân tộc là vốn quý nhất, quyết định sự phát triển của đất nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước để xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế giải phóng tiềm năng con người, để phát
huy tối đa nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
là một trong những quan điểm đổi mới có tính đột phá trong đường lối
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
2/ Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn
nhân lực có hiệu quả ở nước ta hiện nay
a. Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điều kiện một nền kinh tế thấp
kém, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Dù miền Bắc đã có gần 60 năm và cả nước đã có trên 30 năm xây dựng
chủ nghĩa xã hội nhưng một phần lớn thời gian vẫn là tình trạng "một chủ
nghĩa xã hội thời chiến". Bên cạnh thành tựu to lớn phục vụ cho công
cuộc kháng chiến và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thì chúng
ta cũng mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng trong tổ chức quản lý,
những năm 80 lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Sau hơn
20 năm đổi mới nền kinh tế đã có những thay đổi quan trọng, đã tương
đối ổn định và phát triển tạo nên thế và lực mới của cách mạng nước ta,
nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trình độ lực lượng
sản xuất kém phát triển đang còn là cản trở chủ yếu của việc xây dựng
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà quan hệ sản xuất này vốn mang bản
chất xây dựng hoá nền sản xuất xã hội. Người lao động yếu tố động nhất,
quyết định nhất của lực lượng sản xuất vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng
được công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

11
Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số cao, số

giỏi nếu được giáo dục, tự tin và cần có một môi trường thuận lợi để phát
huy.
b. Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cũng là yêu cầu và xu thế
chung của thế giới.
Ngày nay khi loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học
công nghệ lần thứ 3 thì nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh
tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Xu thế phát huy yếu tố, nguồn nhân
lực là xu thế chung toàn cầu. Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ
và tay nghề ngày càng trở thành một lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia.
Nếu nguồn nhân lực chỉ hàm chứa lao động giản đơn thì sẽ là một sức ép
đối với quá trình tăng trưởng và phát triển ở các nước chậm phát triển.
Nguồn nhân lực có dồi dào hay không là do chính sách đào tạo.
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi trở thành quốc sách
hàng đầu với các quốc gia. Các nước phát triển lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ
thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân tài, tranh giành người tài với các nước
khác. Các nước đang phát triển tăng cường đầu tư kinh phí cho khoa học
công nghệ giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máu chất
xám bằng những chính sách ưu đãi thích hợp.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế
đất nước chúng ta cần hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nước ta tham gia
vào rất nhiều các tổ chức kinh tế như ASEAN, APEC và đặc biệt khi gia
nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO thì tính cạnh tranh của nền
kinh tế phải được nâng cao. Do đó việc nắm được khoa học kỹ thuật công
nghệ hiện đại để chủ động trong quá trình sản xuất, kinh tế đối ngoại…
rất quan trọng, chúng ta phải xác định rõ ràng những chính sách thích hợp
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

13
3/ Những giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực
nước ta hiện nay

quyết hiệu quả những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài của nguồn
nhân lực, trong đó có vấn đề khai thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân
lực, tạo một chuyển biến thật sự mạnh mẽ trong việc khai thác, đào
tạo, sử dụng từ nguồn nhân lực trong công nhân, nông dân, trí thức,
doanh nhân, dịch vụ,…
• Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân,
công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng các nguồn nhân lực cho đúng.
• Không ngừng nâng cao trình độ học vấn. Hiện nay, nhìn chung, trình
độ học vấn bình quân của cả nước mới khoảng lớp 6/ đầu người (có
người tính là lớp 7). Tỷ lệ biết chữ mới đạt khoảng 93% (có người tính
là 94 - 95%). Vì vậy, vấn đề đặt ra một cách gay gắt là phải bằng mọi
biện pháp và đầu tư để nâng cao trình độ học vấn của cả nước lên,
bằng không, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội. Thực hiện toàn xã hội học tập và làm việc.
• Đảng và Nhà nước cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn
đối với việc việc sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các
nhà khoa học và chuyên gia thật sự có tài năng cống hiến. Phải có sự
phân biệt rành mạch giữa tài thật và tài giả, giữa những người cơ hội
và những người chân chính trong các cơ quan công quyền. Không giải
quyết được vấn đề này một cách rõ ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ
lại "rơi lả tả như lá mùa thu", "vàng thau lẫn lộn", làm cho những
người thật sự có tài năng không phát triển được, trong khi đó, những
người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ đỡ lại tồn tại trong các cơ
quan công quyền.

15
• Chính phủ cần có những quyết định đúng đắn về việc được phép đầu
tư vào cái gì trong nguồn nhân lực; cải thiện chính sách tiền tệ và tài
chính, phát triển cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa giáo dục là những vấn đề

yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con
người. Điều khẳng định trên lại càng đúng với hoàn cảnh nước ta trong
giai đoạn cách mạng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
So sánh các nguồn lực với tư cách là điều kiện, tiền đề để phát triển đất
nước và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nguồn nhân lực có vai
trò quyết định. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực
phải chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nước ta.
Để bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam với tư
cách đó, chúng ta cần phải tạo ra mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng
kinh tế nhanh với tiến bộ xã hội, đảm bảo công vụ và quyền lợi công dân,
cải thiện và nâng chất lẫn tinh thần; giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa
lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích tập
thể, lợi ích cá nhân; không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hoá cho
họ trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc.

17
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status