Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: QUẢN TRỊ RỦI RO
ĐỀ TÀI: DÙNG CÔNG CỤ PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGHỪA RỦI RO
TRONG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIÊT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS. MAI THU HIỀN
Nhóm sinh viên thực hiện : PHÙNG MINH BẮC
LÊ NGỌC QUÂN
NGUYỄN THỊ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐỨC
LÊ HOÀNG LONG
NGÔ THÁI SƠN
LÊ HƯƠNG GIANG
Lớp : 19A Cao học TCNH
HÀ NỘI 10/2013
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
MỤC LỤC
Nhóm sinh viên thực hiện : PHÙNG MINH BẮC 1
Chương 1: Tổng quan về rủi ro 3
1.1. Khái niệm: 3
1.2 Một số loại rủi ro các doanh nghiệp xuất khẩu thường gặp: 3
1.2.1. Rủi ro về tỷ giá 3
1.2.2. Rủi ro về lãi suất: 3
1.2.3. Rủi ro về giá cả 4
Chương 2: Các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro 5
2.1. Khái niệm các sản phẩm phái sinh trên thị trường hàng hóa 5
2.3 Các công cụ phái sinh có để quản trị rủi ro đối với hàng hóa 5
2.3.1. Hợp đồng kỳ hạn 6
thị trường giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa để các chủ thể có thể là nhà sản xuất,
xuất khẩu nông sản tham gia giao dịch để san sẻ rủi ro về giá cả hàng hóa cho đối tác
khác trên thị trường đó và cho thị trường quốc tế. Các hợp đồng này thực hiện thông
qua các trung tâm giao dịch hàng hoá tập trung lớn như tại Luân Đôn (LIFFE), New
York (NYBOT). Vì vậy không lý do gì Việt Nam không áp dụng hình thức này khi mà
sự phát triển sản phẩm giao dịch cho các hàng hoá Việt Nam là điều tất yếu và cần
thiết tương ứng với giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập hiện nay Đó chính là
công cụ phái sinh mà bọn em sử dụng trong tiểu luận “Dùng công cụ phái sinh để
phòng ngừa rủi ro trong xuất khẩu cafe của Việt Nam” để phòng ngừa rủi ro về giá
cà phê đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam.
I-Tính cấp thiết của đề tài
1
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Việt Nam gia nhập WTO. Khi gia nhập vào thị trường thương mại chung của
thế giới các doanh nghiệp sẽ chịu tác động của rất nhiều rủi ro trên thị trường thế giới
như rủi ro về tỷ giá, lãi suất, rủi ro về giá cả hàng hóa…Vì vậy khi tham gia vào thị
trường thế giới các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nói
riêng cần phải có các công cụ để quản trị rủi ro. Trong xuất khẩu cà phê, giá cá biến
động bởi rất nhiều các yếu tố vì vậy sự cần thiết phải có công cụ để quản trị rủi ro và
biến động của giá cả. Một trong các công cụ để quản trị rủi ro rất tốt trên thị trường
phái sinh đó là sử dụng hợp đồng tương lai (Futures Contract) để phòng ngừa rủi ro về
giá cà phê.
II-Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tổng quan về công cụ phòng chống rủi ro biến động giá đang được sử dụng
trên thế giới: sản phẩm phái sinh trên thị trường hàng hóa.
Tổng quan về thị trường cà phê những năm gần đây trên thế giới và Việt Nam;
xác định rủi ro mà ngành đang đối mặt đó là biến động giá cà phê nhân.
Tìm hiểu khái niệm, mục đích, kỹ thuật vận hành và những lợi ích từ việc sử
dụng hợp đồng tương lai cho giao dịch buôn bán cà phê, qua đó phục vụ cho công
cuộc phòng chống rủi ro sự biến động giá cả khi xuất khẩu cà phê trong giai đoạn hiện
ngay tương lai so với tỷ giá kì vọng. Sự sai biệt này đôi khi gây ra tổn thất cho DN,
nhưng đôi khi tạo ra lợi nhuận bất thường nếu như tỷ giá biến động theo chiều thuận
lợi cho DN.
Có thể nói rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu là loại rủi ro thường
xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu
mạnh. Sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các
khoản thu chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị
ảnh hưởng đáng kể và nghiêm trọng hơn có thể làm đảo lộn kết quả kinh doanh.
1.2.2. Rủi ro về lãi suất:
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất
giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm
giảm thu nhập của ngân hàng.
3
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền kinh tế, lãi suất là
yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh tế; hơn nữa, nó là công cụ trong
việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi
ro xuất hiện thường xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng .
Như vậy, rủi ro lãi suất là những tác động do biến động lãi suất đối với hoạt
động của ngân hàng. Rủi ro lãi suất bắt nguồn từ mối quan hệ qua lại của tài sản Có,
tài sản Nợ và các hợp đồng ngoại bảng.
1.2.3. Rủi ro về giá cả
Bất kể là hàng hóa nào dù vô hình hay hữu hình đều có giá trị của nó thông qua
quan hệ cung cầu. Khi nhu cầu tăng lên ắt hẳn giá cả cũng tăng lên và ngược lại. Chính
vì vậy bất ổn trong cung cầu sẽ làm thay đổi giá cả. Đối với nông sản là những nguồn
lương thực thiết yếu hầu như không có nhiều bất ổn về nhu cầu nhưng lại có rất nhiều
vấn để về nguồn cung. Thực tế nhìn chung khi nông dân được mùa thì giá cả có xu
hướng giảm còn khi mất mùa thì giá cả lại tăng. Nghịch lý này là điều dễ hiểu nhưng
xét trên góc độ tài chính chúng ta có thể tiến hành phòng ngừa bằng công cụ phái sinh.
Những biến động mạnh và thất thường về giá trên thị trường cà phê quốc tế cũng là
2.3 Các công cụ phái sinh có để quản trị rủi ro đối với hàng hóa
Tại Việt Nam hiện nay thị trường phái sinh chỉ mới hình thành trên trên lĩnh
vực ngoại hối và gần đây bắt đầu trên thị trường hàng hóa (cà phê, cao su, đậu nành
của Techcombank, cà phê của BIDV, ACB. Các công cụ phái sinh để quản trị rủi ro
5
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
đối với hàng hóa chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn còn hợp
đồng giao sau và hợp đồng hoán đổi chưa được thực hiện.
2.3.1. Hợp đồng kỳ hạn.
Là hợp đồng giữa 2 bên để mua hoặc bán tài sản vào 1 ngày trong tương
lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá
thực hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu giá thấp hơn, người sở
hữu hợp đồng sẽ chịu 1 khoản lỗ. Khác với quyền chọn, người sở hữu hợp đồng kỳ
hạn bắt buộc phải thực hiện hợp đồng.
Về cơ bản, hợp đồng kỳ hạn cần bao gồm 4 nội dung:
- Chỉ định hàng hóa cụ thể được giao dịch trong tương lai
- Khối lượng và chất lượng hàng hóa
- Giá cả hàng hóa tại thời điểm trao đổi
- Ngày hàng hóa được trao đổi trong tương lai
Có 3 loại hợp đồng kỳ hạn gồm:
-Hợp đồng outright: Là sự thỏa thuận giữa 1 ngân hàng và 1 khách hàng không
phải ngân hàng nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro cho khách hàng. Về nguyên tắc,
trước khi hợp đồng đến hạn chưa có việc chuyển giao tiền tệ giữa các bên tham gia
hợp đồng. Tuy nhiên, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ với 1 mức tối thiểu
nào đó hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng.
-Hợp đồng swap: Ngày nay, phần lớn các hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng swap.
Đây là loại hợp đồng có kỳ hạn giữa 2 ngân hàng theo đó 2 bên đồng ý hoán đổi 1 số
lượng nhất định ngoại tệ vào 1 ngày xác định sau đó hoán đổi ngược lại vào 1 ngày
trong tương lai.
-Hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là có thể thiết kế 1 cách linh hoạt tùy thuộc vào
chiều. Hợp đồng tương lai cũng được các nhà đầu tư (Speculators) sử dụng để tìm
kiếm lợi nhuận từ xu hướng giá của hàng hóa – xu hướng lên hoặc xuống.
Một trong những lợi thế chính của giao dịch hợp đồng tương lai là nó cho phép
đạt được lợi nhuận tiềm năng cao trong một khoảng thời gian ngắn. Đó là nhờ vào tính
chất đòn bẩy chứa đựng trong hợp đồng tương lai. Tuy nhiên, mặc dù tính chất đòn
7
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
bẩy và giao dịch ký quỹ cho phép đạt lợi nhuận cao thì nó cũng tiềm tàng một khoản
lỗ lớn tương đương. Chính vì vậy, bạn phải chắc chắn rằng cần phải có một chiến lược
kinh doanh rõ ràng và phải tuân thủ theo chiến lược đó một cách chặt chẽ cũng như sử
dụng lệnh dừng lỗ (Stop Loss) trong khi giao dịch.
2.3.3. Quyền chọn
Quyền chọn là những hợp đồng đưa cho người mua quyền mua hoặc bán một
loại hàng hóa náo đó tại giá cả chỉ định gọi là giá thực hiện trong 1 khoảng thời gian
đến ngày đáo hạn.
Quyền chọn là 1 công cụ tài chính cho phép người mua nó có quyền, nhưng
không bắt buộc, được mua, hay bán 1 công cụ tài chính khác ở 1 mức giá và thời hạn
xác định
Quyền chọn có thể được áp dụng cho nhiều thị trượng với nhiều loaik hàng hóa
khác nhau, có 2 loại quyền chọn, đó là:
-Quyền chọn mua: là loại hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng
không bắt buộc, được mua 1 số lượng hàng hóa ở 1 mức giá và trong thời gian xác
định trước.
-Quyền chọn bán: là loại hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng
không bắt buộc, được bán 1 số lượng hàng hóa ở 1 mức giá và trong thời gian xác định
trước.
Để nhận được các quyền này, người mua phải trả 1 khoản phí gọi là phí quyền
chọn.
8
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Ngoài ra, xuất khẩu tới một số thị trường khác có mức tăng rất mạnh như: Indonesia,
Mêhicô, Ai Cập, Canada, Pháp, Trung Quốc có mức tăng về lượng lần lượt như sau:
222,21%; 201,94%; 198,96%; 172,94%; 123,11%; 106,04%.
Đáng chú ý, xuất khẩu cà phê tới Bỉ trong năm 2012 sụt giảm khá mạnh và đã
nhường chỗ cho Tây Ban Nha tụt xuống vị trí thứ 12, chỉ đạt 62,4nghìn tấn, kim ngạch
trên 127 triệu USD, giảm 34,23% về lượng và 39,66% về kim ngạch so với năm 2011.
Thị trường xuất khẩu cà phê trong năm 2012
10
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
(ĐVT: lượng tấn; Kim ngạch: 1.000 USD)
Thị trường
Năm 2012
Giá trị xuất khẩu Khối lượng xuất khẩu
Mỹ 203.516 459.616
Đức 207.919 427.178
Tây Ban Nha 106.289 218.16
Italia 104.514 216.282
Nhật Bản 76.605 171.233
Pháp 36.393 73.567
Nga 35.276 82.556
Trung Quốc 50.674 130.326
Mêhicô 42.556 85.892
Hà Lan 17.261 36.595
Philippine 37.188 76.844
Bỉ 62.427 127.19
Anh 36.109 80.833
Angiêri 29.196 58.968
Ấn Độ 29.851 57.75
Hàn Quốc 34.673 72.328
Các nước
không ổn định nhất là về giá cả. Tổ Chức Cà Phê Thế Giới (ICO) do không còn giữ
được hạn ngạch xuất nhập khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có những
giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng có so với vài chục năm trở lại đây.
Từ năm 1999 bắt đầu cùng với cộng đồng cà phê thế giới, ngành cà phê nước ta
trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Giá cà phê liên tục xuống thấp đến mức
kỷ lục trong vòng mấy chục năm lại đây. Khủng hoảng đã kéo theo những hậu quả xấu
cho sản xuất và đời sống. Nông dân thu nhập thấp không đủ trang trải cho cuộc sống
hàng ngày và đầu tư cho tái sản xuất. Đã có những vườn cà phê bị bỏ không chăm sóc
và cũng có tình hình chặt phá vườn cà phê để trồng cây khác, kể cả cây lương thực. Từ
năm 2004, giá cà phê bắt đầu được cải thiện và giá lên cao vào các năm 2006, 2007
tuy còn thấp nhiều so với giá cà phê các năm 1995- 1998 nhưng với người trồng cà
phê thì mức giá hiện nay đã có sức hấp dẫn đáng kể. Cà phê được bán với giá từ 25-
12
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
30 triệu đồng Việt Nam 1 tấn. Và có lúc lên trên 30 triệu đồng 1 tấn. Lúc này lại có
hiện tượng ngược lại trước đây là người ta lại trồng mới, mở mang diện tích cà phê.
Đồ thị 2.1 .Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu
trong 17 năm từ 1991- 2007
Năm 2008: Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, thị trường nông sản
thế giới bước vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng.
Tình hình này tác động đến nhiều mặt hàng nông sản trong nước, sau cao su
đến cà phê rớt giá thảm hại.
Riêng đối với cà phê - một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực,
tháng 2/2008 giá xuất khẩu (FOB) tại Tp.HCM đã từng đạt 2.520 USD/tấn; tháng 9
giảm mạnh xuống ở mức 2.000 USD/tấn; giữa tháng 10 giá tiếp tục giảm, còn 1.700
USD/tấn; đến tháng 11 rơi xuống tồi tệ chỉ còn khoảng 1.480 USD/tấn.
Ngoài nguyên nhân chính do tác động của khủng hoảng tài chính, giá cà phê
xuất khẩu “trượt dốc không phanh” còn chịu sức ép phục hồi của đồng USD. Bên cạnh
đó, nhiều quỹ đầu tư đồng loạt rút vốn ra khỏi hoạt động đầu tư nông sản, dẫn tới sự
giảm cầu trên các thị trường kỳ hạn, làm giá nông sản giảm đột ngột.
phương pháp ký hợp đồng nhưng không chốt giá mà khi giao hàng mới chốt giá bán
dựa vào giá cà phê giao dịch trên thị trường London (Anh) và trừ lùi một khoảng
14
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
chênh lệch so với giá ở thị trường Luân Đôn vào thời điểm giao hàng, còn gọi là
phương thức bán trừ lùi (Differentials).
Phương thức bán trừ lùi phổ biến trong hơn chục năm qua thường áp dụng cho
các hợp đồng giao xa mà nhà nhập khẩu thường ứng trước 70% số tiền của hợp đồng
cho nhà xuất khẩu, phần còn lại được tính toán khi giao hàng và chốt giá dựa vào giá
cà phê giao dịch trên thị trường kỳ hạn London. Các năm trước, đây là phương thức
bán cà phê tiến bộ so với giao ngay bởi gắn giá cà phê Việt Nam với giá thế giới, hạn
chế thiệt hại so với phương thức giao ngay nếu giá cà phê thế giới tăng.
Với cách thức này doanh nghiệp có thể trúng lớn và cũng có thể lỗ nặng, tuỳ
theo giá thị trường thế giới lên hay xuống ở thời điểm giao hàng.
Để bảo đảm kinh doanh cà phê ở thị trường trong nước không bị lỗ trong tình
hình giá lên xuống chập chờn, nhà buôn cà phê sẽ mua bán một lượng cà phê trên
mạng, đặt lệnh bán ngay khi thấy giá có lời, đó là hình thức của giao dịch hợp đồng
tương lai, trong đó giá cà phê được "chốt" ngay tại thời điểm đặt lệnh (là thời điểm mà
giá cà phê trên thị trường quốc tế được Doanh nghiệp "ưng ý" nhất), còn hàng thì giao
sau với thời điểm do hai bên thỏa thuận. Điều quan trọng là, tại thời điểm giao cà phê,
giá lên hay xuống thì vẫn giao theo giá đã được "chốt" lệnh từ trước.
Giả sử mua cà phê vào giá 13.000đ/kg, khi xuất khẩu giá rớt còn 12.000đ/kg, bị
lỗ 1.000 đồng. Thế nhưng cũng trong cùng thời điểm đó, công ty đã mua vào và bán ra
trên thị trường kỳ hạn một lượng cà phê tương ứng với giá bán ra 15.000đ/kg, lời
2.000đ/kg. Nhờ cân đối được giữa mua bán trên thị trường trong nước và thị trường kỳ
hạn, công ty vẫn bảo đảm có lãi và tính toán giá mua cà phê của người nông dân ở
mức hợp lý.
Và cũng nhờ vào khoản lãi trên thị trường kỳ hạn, nhà xuất khẩu cà phê sẵn
sàng mua cà phê của nông dân với giá cao hơn giá thị trường. Thực tế, có thời điểm
giá mua vào trên thị trường trong nước là 14.300đ/kg, Công ty Inexim Đắc Lắc đã mua
ép giá người trồng cà phê. Với hợp đồng tương lai, doanh nghiệp sẵn sàng mua cà phê
của nông dân với giá cao hơn giá thị trường trong nước khi tính toán bán ra thị trường
kỳ hạn có lời.
Ví dụ: Giá ký hợp đồng xuất khẩu cà phê giao ngay là 915 đô la Mỹ/tấn, tương
đương mua vào của nông dân là 14.000 đồng/kg thì có lãi.
16
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Cùng thời điểm đó, giá London lên 1.095 đô la Mỹ /tấn, giá FOB sẽ là 1.005 đô
la Mỹ/tấn (trừ lùi 90 đô la Mỹ/tấn so với giá London ) như vậy có thể đẩy giá mua cà
phê của nông dân lên 15.400 đồng/kg. Rõ ràng, doanh nghiệp nếu đưa ra quyết định
mua bán trên LIFFE được đúng thời điểm giá lên thì sẽ mua được giá cao cho nông
dân.
Mua bán cà phê trên thị trường tương lai thật sự là một phương thức hỗ trợ tích
cực hoạt động xuất khẩu cà phê trên thị trường trong nước giúp nhà xuất khẩu cà phê
hạn chế rủi ro do giá biến động, kiểm soát giá cả trong tương lai và còn có thể kiếm
lời.
3.1.3.2 Hình thành sàn giao dịch giao sau cà phê phục vụ cho hình thức hợp
đồng tương lai
Trong khi ở một số nước sản xuất cà phê lớn, như Brazil, sàn giao dịch cà phê
được đại đa số nông dân trồng cà phê khai thác như phương thức bảo hiểm giá bán, thì
ở Việt Nam hoạt động mua bán cà phê qua sàn giao dịch còn quá xa lạ với người
trồng cà phê. Vị thế ngày càng vững chắc của cây cà phê Việt Nam là một trong những
cơ sở quan trọng để Hiệp hội Cà phê Ca cao (Vicofa) triển khai ý tưởng đưa cà phê
Việt Nam lên sàn giao dịch quốc tế.
Việc tổ chức thị trường giao sau ở Đắc Lắc thực tế đã có mầm mống từ năm
1995. Đắc Lắc là tỉnh đi đầu cả nước về việc tổ chức thị trường giao sau về cà phê.
Các công ty xuất khẩu cà phê và trung tâm thị trường của tỉnh đã tổ chức mua thông
tin về giá cà phê trên các thị trường thế giới của hãng Reuters. Các thông tin này được
công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, để làm cơ sở cho
việc định giá mua bán cà phê tại thành phố Buôn Ma Thuột. Việc làm này đã giúp cho
lượng hàng hóa. Để tránh trường hợp thao túng thị trường hay thỏa thuận để làm giá
mở cửa, giá đóng cửa, trong thời gian khớp lệnh định kỳ, mỗi thành viên không được
đặt lệnh giao dịch quá 100 lô (500 tấn). Biên độ dao động giá không vượt quá 8% so
với giá tham chiếu.
Để tránh lũng đoạn thị trường, tổng hạn mức giao dịch cà phê của toàn bộ các
hợp đồng trong thời hạn giao dịch không vượt quá 50% tổng khối lượng cà phê được
sản xuất ra ở Việt Nam của ngay năm trước đó dựa theo số liệu của Tổng cục Thống
kê và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hạn mức giao dịch của một thành viên
không vượt quá 10% tổng hạn mức được phép giao dịch của toàn thị trường.
18
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Khác với mua bán chứng khoán, giao dịch cà phê vừa có yếu tố hợp đồng giao
ngay và việc chuyển giao sản phẩm phải hoàn tất trong năm ngày kể từ ngày giao dịch
có kết quả. Còn các hợp đồng kỳ hạn phải hoàn tất vào ngày cuối cùng của tháng cuối
cùng của kỳ hạn hợp đồng, tính từ thời điểm “ngày giao dịch cuối cùng”. Một điểm
đáng chú ý là các hợp đồng kỳ hạn chưa đến hạn thực hiện nhưng việc thanh toán vốn
vẫn được thực hiện ngay sau khi giao dịch được khớp lệnh bằng cách thanh toán bù trừ
qua ngân hàng ủy thác.
Nhiều DN hội viên của Vicofa nhận xét rằng cách thức giao dịch ở BCEC, theo
dự thảo, cũng giống với thị trường kỳ hạn London (LIFFE) của Anh và New York
(NYBOT) của Mỹ. Tuy nhiên cũng có điểm khác là BCEC khống chế biên độ giá giao
dịch còn hai sàn LIFFE và NYBOT thì không. Như vậy, các thành viên tham gia giao
dịch với BCEC cũng có thể “lướt sóng” giống như chơi chứng khoán, hoặc dùng giao
dịch kỳ hạn (có thanh toán bù trừ) để phòng chống rủi ro cho giao dịch cà phê giao
ngay. BCEC có ba loại thành viên, bao gồm thành viên kinh doanh, thành viên môi
giới và thành viên quan sát. Thành viên kinh doanh bao gồm cả DN trong và ngoài
nước có hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cà phê, các nông trường, trang trại, hợp
tác xã, hộ gia đình cá nhân với điều kiện có ít nhất 3 héc ta cà phê trở lên. Thành viên
môi giới là các tổ chức môi giới tài chính, thương mại và mức phí môi giới được quy
định không quá 20% mức phí giao dịch mà BCEC thu của các thành viên. Các thành
nhất là 5 tỷ đồng, và có 3 năm liên tục gần nhất có số lượng cà phê xuất khẩu, chế biến
hoặc tiêu thụ ít nhất là 5.000 tấn/niên vụ. Đối với các tổ chức môi giới phải có giấy
phép hoạt động môi giới tài chính, thương mại và có vốn điều lệ tối thiểu là 3 tỷ đồng,
còn đối với các tổ chức môi giới nước ngoài là 2 triệu USD. Các tổ chức, đơn vị không
hội đủ các điều kiện để trở thành thành viên nhưng muốn tham gia giao dịch tại Trung
tâm phải được môi giới thông qua một tổ chức thành viên.
Trung tâm có sàn giao dịch nên các tổ chức thành viên có thể giao dịch trực tiếp
tại sàn hoặc giao dịch qua mạng Internet. Thời gian giao dịch tại trung tâm là 5
phiên/tuần bắt đầu từ 19h30 đến 21h00 theo giờ giao dịch của thị trường Luân Đôn.
Sản phẩm cà phê đăng ký tham gia giao dịch tại trung tâm gồm 2 loại cà phê
chính là cà phê Arabica ký hiệu trong giao dịch là A và cà phê Robusta ký hiệu là R.
Mỗi loại cà phê được phân thành 6 thứ hạng từ hạng đặc biệt đến hạng 5 và loại cà
phê nhân xô (hỗn hợp). Sản phẩm cà phê đăng ký giao dịch tại trung tâm phải đáp ứng
yêu cầu về phẩm cấp theo Quy định của Chính phủ
20
Tiểu luận môn học Quản trị rủi ro GVGD: TS. Mai Thu Hiền
Lâu nay, hầu hết DN xuất khẩu cà phê VN hằng ngày nhận thông tin qua mạng
Reuters, sau đó tính toán quy ra tiền Việt Nam và chốt giá. Với phương thức kinh
doanh đơn điệu này, các DN VN mới chỉ bán cà phê ngoài “cổng chợ” cà phê quốc tế
chứ chưa vào được trong chợ. Nay với phương thức mua bán qua sàn giao dịch, chúng
ta đang đột phá vào chợ cà phê quốc tế. Công ty Đầu tư Xuất nhập khẩu Đắk Lắk
(Inexim Daklak) là DN đầu tiên tham gia giao dịch mua bán cà phê trên thị trường kỳ
hạn(26/11/2004), để đột phá vào chợ cà phê quốc tế, một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ
với các DN VN. Qua đó, công ty đã nắm được giá cả và quy luật lên xuống của cà
phê, linh hoạt đặt giá nên hạn chế được nhiều rủi ro khi giá cà phê biến động mạnh,
đồng thời chủ động được nguồn hàng trong trường hợp khan hiếm. “Việc theo dõi này
rất hiệu quả nhờ tiếp cận nhanh với giá thị trường bên ngoài, DN và người trồng cà
phê đều có lợi. Khi giá lên như giá hiện nay, nếu DN thấy có lời, họ quyết định bán
hoặc thấy giá thấp thì họ mua vào. Nếu DN đưa ra quyết định mua bán đúng thời
điểm, có lời, thì nông dân cũng được hưởng lợi nhờ DN thu mua cà phê giá cao”.
• www.vietbao.vn.
• www.Cafeviet_com_vn
• www.VICOFA.com.vn
• www.VnExpress.net
• www.ketoantruong_com_vn
• www.Mfonews.net
23