Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Phần mở đầu
A Lý do chọn đề tài
Môi trờng và sự phát triễn bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của
thế giới và là một trong những đặc trng cơ bản của thời đại.
Bảo vệ và cải thiện môi trờng sống của con ngời là vấn đề lớn ảnh hởng đến
cuộc sống tốt đẹp của mọi quốc gia và phát triễn kinh tế trên toàn thế giới, đó là
khát khao khẩn cấp của các dân tộc và là nhiệm vụ của mọi chính phủ.
Đô thị đợc xem là một cơ thể sống động, nhất là ở một nớc phát triễn nh nớc
ta. Sự tăng trởng đi đôi với sự đòi hỏi tiện nghi và khi nền văn minh đã đợc giao l-
u trên toàn cầu thì nhu cầu của ngời dân đô thị không dừng lại ở sự hợp lý về
công năng mà còn phải thỏa mãn yếu tố thẩm mỹ ngày càng cao.
Một đô thị đợc hình thành không chỉ thỏa mãn một thế hệ mà phải phục vụ
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy, vấn đề tổ chức qui hoạch, xây dựng, quản
lý môi trờng cảnh quan tiện nghi và thẩm mỹ không chỉ xem xét đến những việc
làm hiện tại mà phải tận dụng tối đa cái tốt hiện có để phát triễn trong tơng lai.
Chúng ta phải biết sẵn sàng hi sinh, bỏ qua những cái lợi nhỏ nhặt trớc mắt để
nghĩ xa hơn về những điều tốt đẹp trong tơng lai.
Quá trình công nghiệp hóa và Đô thị hóa là xu thế tất yếu của thời đại. Đi
kèm với nó là những tác động tiêu cực đến môi trờng sinh thái và cảnh quan đô
thị nếu chúng ta không biết giữ gìn.
Trong những năm qua, Hà Nội với vai trò và vị trí là thủ đô của cả nớc đã
đạt đợc những thành tựu đáng kể về kinh tế xã hội. Nền kinh tế Hà Nội tăng trởng
với nhịp độ nhanh cha từng thấy, tỉ lệ tăng trởng tổng sản lợng theo khu vực
(RGDP) đạt 11,8% mỗi năm. Về khía cạnh phát triễn công nghiệp, Hà Nội là một
trong những tỉnh thành có mức công nghiệp hóa cao nhất, chiếm 85% tổng sản
phẩm công nghiệp của cả nớc.trong khi dân số chỉ chiếm 3%. Sự phát triễn nhanh
chóng về kinh tế và công nghiệp đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ra các vùng
ngoại thành Hà Nội và quá trình hiện đại hóa mạng lới đờng bộ, các khu nhà ở
mới
không gian của kênh mơng.
Đề xuất một số giải pháp kiến trúc, qui hoạch, quản lý đô thị, thoát n-
ớc để thực hiện cải tạo cảnh quan và giảm bớt ảnh hởng ô nhiễm môi trờng.
C Giới hạn của đề tài :
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
2
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Giới hạn về không gian : phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong địa bàn
của dự án Qui hoạch tổng thể thoát nớc thành phố Hà Nội do UBND thành phố
Hà Nội cùng Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đề xuất. Nội dung nghiên
cứu của đề tài có thể xem nh phần bổ sung của dự án về vấn đề cảnh quan kênh
mơng.
Giới hạn về thời gian : đề tài nghiên cứu cho giai đoạn 2005-2020.
Giới hạn về đối tợng : vấn đề ô nhiễm môi trờng nớc ở hệ thống kênh mơng
Hà Nội và giải pháp cho quận Đống Đa.
D Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp khảo sát thực địa.
Phơng pháp thống kê, thu thập tài liệu liên quan.
Phơng pháp bản đồ.
Phơng pháp đánh giá tác động môi trờng.
Phơng pháp dự báo.
Phơng pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh.
Phần nội dung nghiên cứu
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
3
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Chơng 1: tổng quan về lịch sử cảnh quan sinh thái
mặt nớc và hiện trạng hệ thống kênh mơng Hà Nội
Nội thành, Tô Lịch, Kim Ngu uốn khúc, nối liền với hồ Gơm và hồ Bảy Mẫu.
Thuyền mành san sát, đỗ vào tận bến Giang Tân ở mạn Nghĩa Đô, Yên Thái, nơi
Tô Lịch nhận thêm nớc của sông Thiên Phù từ sông Nhị chảy vào, len lỏi qua
làng La (Xuân La) nổi tiếng trồng da. Đời Lý Nhân Tông, sông Thiên Phù bị lấp,
sông Tô Lịch bị cát bồi nhiều, song nhà Lý vẫn rất cố gắn nạo vét sông Tô làm
trục giao thông thủy của Kinh thành, ven sông Tô Lịch mọc lên những vờn cây
trĩu quả ở các cửa ô : bởi, dừa, mơ, nhãn
Năm nhịp cầu bắc ngang sông Tô, thắng cảnh Thăng Long : cầu Đuống xây
đá (hàng Đờng), cầu gỗ Thái Hoà (mé dới nhà máy bia), cầu Cau (Thuỵ Khuê),
cầu Tây Dơng (cầu Giấy), cầu Dừa (ô chợ Dừa). Thân cau, thân dừa hoà với gỗ,
đá, than, gạch nhói trong tay ngời Thăng Long đều là vật liệu xây dựng đẹp bền,
đa dạng về kiểu dáng Và còn cầu Yên Quyết (cống Cót), cầu Nhân Mục (cống
Mọc) miền ven nội.
Kinh thành Thăng Long có nhiều cảnh trí thiên nhiên rất đẹp, lại dợc bàn tay
nhân dân các thời tô điểm ngày càng phong phú. Kinh thành có sông Hồng, sông
Nhuệ bao bọc và có sông Tô Lịch chảy qua, ngoài ra còn có nhiều hồ lớn nh hồ
Dâm Đàm (hồ Tây), hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm), Thái Hồ những sông hồ
ấy một mặt giúp cho kinh thành thoáng đãng êm dịu, mặt khác còn tạo ra những
nơi du lịch, giải trí, nghỉ ngơi tại những thăng cảnh đó.
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
5
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Hình 1.1 : thành thăng long 1490
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
6
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
B Thăng Long thời Lê (1428-1527), Mạc (1527-1592), Trịnh (1593-1787),
Tây Sơn (1788-1802)
Nguyễn Huệ và vơng triều Tây Sơn đóng đô ở thành Qui Nhơn, bắt đầu một giai
đoạn đổi mới của đô thị Thăng Long từ vị trí Kinh thành trở thành trấn thành.
C Thăng Long thời Nguyễn (thế kỷ XIX)
Sau khi Tây Sơn thất bại hoàn toàn 1802, nhà Nguyễn định đô ở Huế và thành
Thăng Long tiếp tục sự chuyển đổi của mình từ kinh thành trong 800 năm thành
Trấn thành rồi dần trở thành tỉnh thành.
Khu vực phía Bắc hồ Hoàn Kiếm ngày nay (thờng gọi là khu phố cổ 36 phố
phờng) đã đợc hình thành chủ yếu trong thời kỳ nàyvà đến nay trở thành một bộ
phận quan trọng trong di sản kiến trúc đô thị của thủ đô và cũng là một trong
những nét hấp dẫn của khách đến thăm thủ đô mà các nơi khác không có đợc. Ơ
đây ngời ta thấy có sự hoà trộn của những yếu tố kinh tế, chính trị, xã hộicủa một
nông thôn và của một thành thị, những dấu tích văn hoá,lịch sử gợi lại một thời
kỳ phát triễn đô thị lâu dài. Nhiều lớp nhà lô nhô bám theo một hệ thống đờng
nhỏ hẹp, nhiều chỗ quanh co đã cấu tạo nên một dạng cấu trúc đô thị khá đặc biệt
và gây nhiều ấn tợng.
D Đặc điểm cấu trúc không gian đô thị Thăng Long thời kỳ phong kiến
Trong sự hình thành nên không gian đô thị, yếu tố địa hình, địa thế có vai trò
quan trọng hàng đầu. Điều này đợc coi là chân lý nên trong các luận chứng kinh
tế kỹ thuật phát triễn đô thị chúng cũng thờng đợc coi là những căn cứ đầu tiên
làm chổ dựa cho việc nghiên cứu. Chân lý ấy không phải đến ngày nay mới nhận
thức đợc mà ngay từ thời Vua Lý Công Uẩn đi tìm đất định đô đã chọn nơi tiện
hình thế núi sông có địa thế rộng rãi mà bằng phẳng, đất đai cao ráo mà sáng
sủa
Một cách khái quát có thể xem cấu trúc không gian đô thị Thăng Long-Hà
Nội thời phong kiến gồm những yếu tố qui hoạch.
1) Khu hành chính-chính trị-quân sự : đây chính là phần đô của trung
tâm đô thị này mặc dù nơi này đã có ít nhiều dân c sinh sống (làng Hà Nội cổ).
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
8
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
9
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Hình 1.2 Hà Nội 1831 (thời nguyễn)
Đánh giá về vai trò của các dòng sông thời kỳ Phong Kiến
1) Nét địa lý trờng tồn của Thăng Long nghìn xa và Hà Nội ngày nay, đó là
đặc trng của thành phố sông ngòi: thành phố ngã ba sông, nếu lấy cả hai dòng
Nhị Hà- Tô Lịch làm hệ qui chiếu, làm trục chủ đạo; thành phố một bờ sông (bờ
phải), nếu chỉ lấy sông Nhị làm trục chính. Bên cạnh đó, do sự chuyển dòng của
sông Hồng cho nên đất Hà Nội là đất bãi do phù sa cá dòng sông bồi đắp và địa
hình địa mạo vùng Hà Nội có nhiều sông hồ.
2) Hà Nội nội thành, bên hồ Tây,có dòng ông Tô Lịch, lại có rất nhiều đầm
hồ. Xem trên các bản đồ từ thời xa cho đến giữa thế kỷ này, ta thấy lãnh thổ Hà
Nội là một vùng đầm lầy, một thành phố sông hồ, nửa đất nửa nớc. Qui hoạch Hà
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
10
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Nội cổ là nơng theo và thích ứng đến mức tối đa các hình thể tự nhiên sông hồ đó.
Phần lãnh thổ chủ yếu của Thăng Long-Hà Nội xa là phần đất bồi, đợc bao bọc
bởi sông Hồng ở phía bắc và phía đông, bởi sông Tô Lịch và sông Kim Ngu ở
phía tây và phía nam. Lũy bọc ngoài là đê mà cũng là thành đất, là đờng giao
thông (đê La Thành). Sông hồ là nguồn nớc mặt dùng trong sinh hoạt mà cũng
dùng trong hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống. Sông hồ cũng là những
điều kiện địa lý đợc dùng làm nguyên lý sơ khởi chỉ đạo việc qui tụ xóm làng, ph-
ờng phố và thành lũy phòng vệ (sử dụng những đoạn sông Hồng, sông Tô Lịch
làm ngoại hào). Nhị Hà,Tô Lịch, Kim Ngulà những trục chủ đạo, hồ Tây, hồ G-
ơm là những điểm trung tâm, từ đó tỏa ra phố giăng mắc cữi, đờng quanh bàn
cờ
3) Tóm lại, từ buổi đầu những dòng sông vừa là trục giao thông, trục qui
đã dần hình thành những khu chức năng riêng biệt. Khu thơng nghiệp, dịch vụ
trung tâm trên trục đờng Tràn Tiền-Hàng Khay, khu hành chính, chính trị ở phía
Đông hồ Hoàn Kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố.
Khu 36 phố phòng vẫn là khu thơng mại dịch vụ truyền thống. Năm 1889, thực
dân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ chỗ cửa sông Hồng (Hà Khẩu) qua Hàng Cá,
Hàng Lợc tới Thụy Khuê lập ra các phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Cá, Hàng
Lợc.
C Giai đoạn đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 2 (1920-1945)
Trong những năm từ 1920 đến 1945 thực dân Pháp tiến hành chơng trình khai
thác thuộc địa lần thứ hai với nhịp điệu và qui mô lớn hơn. Trong bối cảnh ấy, các
hoạt động xây dựng và qui hoạch thành phố Hà Nội có điều kiện phát triễn mạnh
hơn so với các thời kỳ trớcvới nhiều loại hình và phong cách kiến trúc khác nhau.
Căn cứ trên các đặc điẻm kiến trúc và qui hoạch thì khu phố Pháp ở Hà Nội đợc
xây dựng trong 80 năm đã có sự hoàn chỉnh theo phơng pháp qui hoạch phơng
Tây. Về phong cách kiến trúc đã có sự vận dụng linh hoạt từ kiến trúc thuần túy
Pháp đến các phong cách kiến trúc kết hợp khai thác các đặc điểm của kiến trúc
truyền thống Việt Nam và thích nghi với điều kiện khí hậu địa phơng. Khu phố
Pháp cùng với thời gian đã trở thành một quĩ đô thị đáng kể và có những giá trị
nhất định góp phần tạo nên nét hấp dẫn của Hà Nội. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa
công trình và khung cảnh thiên nhiên nhiệt đới, thông qua tỉ lệ công trình kiến
trúc vừa phải và sự chú ý đến cây xanh, cũng nh việc tạo nên một số trục chính có
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
12
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
công trình trọng điểm áng ngữ với vai trò là điểm nhấn, không gian và mặt nớc
hồ Hoàn Kiếm cũng đã đợc khai thác và tạo nét riêng cho Hà Nội .
D Cấu trúc không gian đô thị Thăng Long- Hà Nội thời Pháp thuộc
Cấu trúc đô thị mới đợc hình thành vào thời kỳ này (đầu thế kỷ XX) có thể
nhận biết rõ ràng trên bản đồ không gian đô thị Hà Nội và đợc đặc trng bởi các
pháp cho quận Đống Đa
Hình 1.5 : bản đồ Hà Nội - 1925
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
16
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
1.1.3 Từ 1945 đến nay (thời kỳ Cách mạng XHCN)
A Từ 1945 đến 1975 (thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc)
Sau Cách mạng tháng 8 thành công, công việc nặng nề trớc mắt của toàn dân
tộc là kháng chiến chống thù trong giặc ngoài. Cả Hà Nội sục sôi trong những
ngày đầu kháng chiến, ngày 10-10-1954 thủ đô đợc giải phóng tng bừng đón Bác
Hồ cùng Chính phủ về Hà Nội. Sau những năm đầu khôi phục và xây dựng, tháng
9-1959, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng đã ra nghị quyết về qui hoạch cải tạo và mở
rộng thành phố Hà Nội, qui định Hà Nội phải có bộ mặt xứng đáng, phơng châm
cải tạo và mở rộng thành phố phải phục vụ nhiệm vụ trung tâm chính trị, văn hóa
của cả nớc, phục vụ công nghiệp, sản xuất và đời sống nhân dân lao động. Do yêu
cầu đó, địa giới của Hà Nội đã đợc mở rộng, diện tích Hà Nội cũ (năm 1954) là
1200ha, đến năm 1959 đã mở rộng tới 2000ha, và dân số Hà Nội năm 1960 là
638000 ngời. Về mặt hành chính, Hà Nội gồm 4 khu : khu Ba Đình, khu Đồng
Xuân (về sau thuộc quận Hoàn Kiếm), khu Hoàn Kiếm và khu Hàng Cỏ (phần đất
phía Tây Bắc Hà Nội bao gồm 6 xã:Thụy Phơng,Phú Thợng, Từ Châu,Xuân La,
Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; Quận VI ở phía Tây và Tây Nam bao gồm 5 xã : Hòa Bình
, Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa, Trung Hòa, Mễ Trì. Quận VII ở phía Đông
Nam bao gồm 6 xã : Ngọc Thụy, Thợng Thanh, Việt Hng, Tiến Bộ, Hồng Tiến,
Gia Lâm (đều ở bờ Bắc sông Hồng).
Bộ mặt đô thị đã từng bớc đợc đổi mới với những khu sản xuất công nghiệp,
những khu lao động ít nhiều khang trang, một số công trình phúc lợi công cộng,
cây xanh, đờng xá điện nớc Công tác qui hoạch đã có những bớc đi ban đầu
đáng khích lệ, một đồ án kiến trúc qui hoạch xây dựng thủ đô đợc vạch ra với sự
đến đời sống kinh tế xã hội mà còn để lại nhiều dấu ấn rõ trên bộ mặt kiến trúc đô
thị. Cha bao giờ bộ mặt kiến trúc đô thị Hà Nội biến đổi nhanh đến thế, một sự biến
đổi đem lại nhiều điều phấn khởi lẫn nổi lo âu.
Sự bung ra của việc xây dựng nhà ở t nhân đã là mối đe dọa trớc tiên cho cảnh
quan đô thị ở những khu phố cổ, một cảnh quan đô thị độc đáo và một di sản quí
giá. Di sản đó lu giữ bên trong những truyền thống về cách ăn ở và sinh hoạt văn
hóa, cách thức cấu tạo không gian kiến trúc, nghệ thuật tạo cảnh với những sân
trong, những bể nớc, hoa lá và chim muông. Qua nhiều năm của nền kinh tế bao
cấp, di sản ấy không đợc tu bổ gì thêm mà trái lại bị áp lực của sự tăng dân số
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
18
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
làm cho tàn tạ đi nhiều. Tuy thế sự tàn tạ ấy không nguy hại bằng sự vô ý thức về
bảo tồn di sản. Khá nhiều nhà cũ này đã đợc thay bằng nhà mới, khang trang và
hiện đại hơn nhng hình ảnh ấm cúng, gần gũi của kiến trúc đô thị truyền thống đã
bị phá vỡ.
Làng cũ biến dạng và xuất hiện làng mới. Quá trình phát triễn của Thăng
Long-Hà Nội cũng là quá trình lùi dần của làng truyền thống, trong quá trình lùi
dần ấy, dấu tích của các cộng đồng c dân nông thôn thờng đợc bảo lu, để lại cho
Hà Nội ngày nay nhiều kỷ vật có giá trị, đó là những đình chùa, đền miếu, nhà
thờ họ, nhà văn chỉ rải rác trong nội thành hiện nay và là một trong những nét
đặc sắc của đô thị cổ kính này.
Các làng ở xung quanh vùng ven nội là nơI diễn ra những biến động rõ nét
nhất, trớc tiên là đất ruộng của làng phải nhờng chổ cho sự phát triễn những khu ở
mới của đô thị, các làng Kim Liên, Khơng Thợng, Quỳnh Lôi, Giảng Võ, Thành
Công, Nghĩa Đô đều đã nằm trong tình hình nh vậy. Mất đi đất canh tác, đơng
nhiên các làng phải chuyển hớng sản xuất sang các ngành nghề khác, thủ công,
thơng nghiệp, công nghiệp của đô thị và cũng có một số lao động chuyển đi các
vùng kinh tế mới. Từ đó một sự biến động lớn hơn nữa đã diễn ra trên phần thổ c
Hiện tại, có khoảng 120km cống (hệ thống cống chung) và 31,3km mơng
thoát nớc trong khu vực trung tâm đô thị chủ yếu ở 4 quận. Hệ thống kênh mơng
vẫn đảm nhiệm việc thoát nớc chung cả nớc ma và nớc thải sinh hoạt, công
nghiệp.
Các kênh mơng có loại tiết diện nhỏ nằm gọn trong các khu dân c chủ yếu
tiếp nhận nớc thải sinh hoạt. Lợng bùn cặn lắng rât nhiều do cha qua xử lý. Dòng
chảy nhỏ, về mùa khô nhìn thấy cả đáy mơng (mơng Nam Đồng).
Các kênh mơng lớn nhận nớc thải từ các cống trong lu vực và các hồ điều hoà
để thải ra sông. Lợng nớc thải từ các cống sau khi đổ vào hồ đã đợc xử lý sinh
học, đến khi mực nớc trong hồ đủ lớn sẽ đợc bơm ra các kênh mơng để đổ ra
sông. Do đó, chất lợng của loại nớc thải này là chấp nhận đợc.
Do kết quả của việc lắng đọng bùn cặn trong một thời gian dài, hiện tại tổng l-
ợng bùn cặn lu cửu khoảng 26.000m
3
ở các cống (chiếm 32% thể tích trong lòng
cống) và khoảng 90.000m
3
ở các kênh mơng (chiếm 24% diện tích dòng chảy)
gây giảm công suất dòng chảy một cách đáng kể. Lợng bùn cặn chiếm chổ gây
ngập úng thờng xuyên khu vực nội thành và gây ảnh hởng đến môi trờng sống
(mùi, cảnh quan, điều kiện vệ sinh ).
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
20
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Cách thức quản lý xây dựng đô thị không chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn
chiếm hành lang bảo vệ kênh mơng hay tự ý xây dựng các cầu bắc ngang kênh
mơng làm đờng dẫn vào nhà. Các kênh mơng phần bị lấp, phần bị lấn chiếm làm
giảm diện tích dòng chảy, góp phần gây ngập úng cục bộ.
Số liệu của mạng lới kênh mơng quận Đống Đa là một ví dụ
7 Nhà Dầu
2
57 30 84
8 Ô Chợ Dừa
1.5
130 130 130
9 Lơng sử
2.2
175 0 350
10 Phơng Mai
3.2
275 150 400
11 Chẹm- Xã Đàn
6
460 460 460
12
Thông Phong-
Linh Quang
2 40 40 40
13 Trung tiền
2.9
30 30 30
14 Mơng Tây Sơn
B>6 405
970 640
B<6 400
15 Mơng Nam Đồng 4 357 474 240
16 Mơng IF B>6 385 670 100
17 Mơng Hoàng Cầu 2.5 373 479 267
18 Mơng Y Khoa 2 734 891 577
Theo các số liệu điều tra của công ty t vấn cấp thoát nớc Hà Nội, tổng lợng n-
ớc thải sinh hoạt của 1.089.000 ngời dân tại khu vực nội thành Hà Nội hiện nay là
180.000m
3
/ngày đêm.
Tuy nhiên các phơng tiện vệ sinh tại chổ chỉ đợc sử dụng để xử lý chất thải từ
các toalet. Các chất thải sinh hoạt khác nh nớc bẩn và nớc thải thơng mại đợc xả
trực tiếp xuống hệ thống cống và kênh mơng. Các loại toalet nh loại xí nớc, xí
thải, xí 2 ngăn, xí thùng đang đợc sử dụng. Theo báo cáo của tổ chức UNDP số
dân sử dụng các loại xí nêu trên đợc tính nh sau
Bảng 2 : Tình hình sử dụng các loại hố xí
Loại xí Số ngời sử dụng Tỉ lệ (%)
Xí nớc 540.000 54
SVTH : Võ Quốc Bình - 46KSĐT Đồ án Tốt Nghiệp
22
Đề tài : Nghiên cứu vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội. Đề xuất giải
pháp cho quận Đống Đa
Xí 2 ngăn 200.000 20
Xí thùng 180.000 18
Hố xí công cộng 80.000 8
Tổng cộng 1.000.000 100
(Nguồn : Cơ quan phát triễn liên hợp quốc UNDP, 1997)
Mức độ xử lý của các phơng tiện vệ sinh nhìn chung là thấp, nớc bẩn đợc xả
trực tiếp vào các ao hồ, kênh mơng. Nguồn nớc công cộng càng bị ô nhiễm trầm
trọng khi mật độ dân c trong lu vực tăng lên.
b) Nớc thải sản xuất
Theo thống kê mới nhất của Sở GTCC, hiện thành phố Hà Nội có khoảng 369
nhà máy xí nghiệp, 15.880 cơ sở sản xuất t nhân, hơn 1.000 cơ quan trung ơng,
29 bệnh viện, 10 khu công nghiệp. Trong số các cơ quan dơn vị trên chỉ có 40 xí
nghiệp, nhà máy, 25 cơ sở dịch vụ lớn và 10 bệnh viện có đầu t hệ thống xử lý n-
bệnh viện C, bệnh viện K; khu vực bệnh viện Hữu Nghị, Quân y, bệnh viện Nhi
Việt Nam Thụy Điển, bệnh viện phụ sản Hà Nội hoặc phân bố rải rác trên
địa bàn thành phố. Trong số 29 bệnh viện trên địa bàn Hà Nội chỉ có 10 bệnh
viện lớn nh: Bạch Mai, Nhi TW, Quân y viện 108có trạm xử lý nớc thải cục bộ,
số còn lại nớc thải đều xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát chung của thành phố
Các bệnh viện trên hàng ngày xả vào hệ thống ao hồ, kênh mơng khoảng
80.000-90.000m
3
/ngày đêm. lợng nớc thải này chứa nhiều chất bẩn độc hại, hàm
lợng BOD cao, chứa nhiều vi trùng gây bệnh.
d) Rác thải
Rác thải là mối đe doạ trực tiếp cho việc thoát nớc vào mùa ma vì nó làm cản
trở dòng chảy của sông kênh mơng, sông ngòi. Nh vậy, một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, chất thải rắn cũng gây ra ô nhiễm môi trờng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn
nớc.
Hàng ngày công ty Môi trờng Đô thị thu gom đợc 1914m
3
rác/ngày,đạt
khoảng 63% tổng lợng phế thải phát sinh của thành phố. Mỗi ngày công ty thu
gom khoảng 120 tấn phân bắc trên tổng khối lợng phát sinh toàn địa bàn thành
phố ớc tính 200 tấn, phần còn lại ngời dân tự làm phân bón.
Chất thải thu gom chủ yếu đợc đem chôn lấp tại bãi chôn lấp của thành phố.
Chỉ có một phần rất nhỏ đợc đem xử lý ở nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn.
đây là nhà máy do UNDP tài trợ có công suất xử lý 30.000m
3
rác/năm, chế biến
đợc 7.500 tấn phân/năm. hiện tại nhà máy mới chỉ xử lý đợc gần 5% tổng lợng
phế thải của toàn thành phố.
Các bãi chôn lấp phế thải của Hà Nội từ trớc đến nay đều cha đạt tiêu chuẩn.
Chất thải công nghiệp và chất thải bệnh viện không đợc xử lý riêng mà đem ra