Một số biện pháp dạy Tập làm văn miêu tả ở tiểu học - Pdf 25

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ Ở TIỂU HỌC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hàng năm, để bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho cán bộ giáo viên ngành
giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã tổ chức cuộc thi “ Nghiên cứu khoa
học, đúc rút sáng kiến kinh nghiệm”. Nhằm tìm ra những bài học kinh nghiệm hay,
có thể áp dụng vào công tác quản lí và giảng dạy. Hưởng ứng phong trào thi đua
này, tôi đã tiến hành nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm dạy học môn Tiếng Việt.
Như chúng ta đã biết, giáo dục tiểu học là bậc học mà mọi quốc gia đều quan
tâm. Bậc học này giúp học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ và các kĩ
thuật cơ bản để phát triển năng lực cá nhân; tính năng động, sáng tạo và hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân; chuẩn bị cho học sinh có thể học lên lớp trên một cách tốt hơn.
Môn Tiếng Việt rèn cho học sinh 4 kĩ năng cơ bản, giúp các em giao tiếp tốt
trong cuộc sống. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao
tác tư duy, tri thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Bồi dưỡng cho học sinh tình
yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đồng
thời thông qua bộ môn Tiếng Việt nhằm giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho
các em.
Phân môn Tập làm văn là một bộ phận của môn Tiếng Việt, song nó lại được
tích hợp từ tất cả những phân môn còn lại. Và thể loại văn miêu tả thuộc phân môn
này chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên trong quá trình dạy
học, tôi nhận thấy một điều là học sinh chưa làm được bài văn miêu tả hoàn
chỉnh.Vì vậy, tôi cố gắng tìm tòi, học hỏi để có được những tiết dạy làm văn thật
tốt nhằm giúp học sinh có những bài văn của chính các em.
Chính vì thế mà tôi đã tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm để rút ra cho mình
những kinh nghiệm tốt trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn ở tiểu
học.
PHẦN II: NỘI DUNG
1.Thực trạng
Mục tiêu của phân môn: Qua phân môn nhằm trang bị cho học sinh
những kiến thức và kĩ năng làm văn. Góp phần cùng môn học khác mở rộng vốn

+ Khi dạy làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng, để đối phó với học
sinh về việc làm bài kém, để đảm bảo chất lượng khi đi kiểm tra thi cử, nhiều giáo
viên cho học sinh đọc thuộc bài văn mẫu để các em gặp đầu bài tương tự cứ thế mà
chép bài.
+ Một thiếu sót nữa là giáo viên chỉ chú trọng dạy lí thuyết, coi nhẹ luyện kĩ
năng thực hành.
Kết quả cụ thể qua bài kiếm tra đầu Lớp 5A năm học 2012 – 2013.
TT Họ và tên học sinh Điểm khảo sát
1 NguyễnMinh Cảnh 5
2 Đinh Xuân Chung 7
3 Vi Đình Công 7
4 Trương. V. Cường 9
2
5 Cao Thị Mĩ Duyên 7
6 Vi Bình Dương 6
7 Vi Hải Dương 8
8 Vi Văn Dương 7
9 Sư Hữu Đạo 8
10 Vi Văn Định 5
11 Nguyễn Bá Hải 8
12 Lô Thị Mĩ Hạnh 7
13 Ngân Thị Hiền 4
14 Phan Đăng Hiền 7
15 Lô Trung Hiếu 6
16 Vi Ngọc Hoàng 8
17 Vi Văn Hợp 5
18 Võ Thị Huệ 8
19 Phan Thanh Hương 7
20 Hồ Thị Huyền 6
21 Nguyễn Thị Huyền 8

H3. Cái gì tạo nên màu sắc đẹp trong tranh?
H4. Mẹ và bé đi đâu?
H5. Tay mẹ và bé cầm gì?
H6. Mọi người trong tranh đang làm gì?
H7. Em có thích đi chợ tết không? Vì sao?
Để học sinh nói được nhiều ý trong 1 bài học thì giáo viên cần có nhiều câu
hỏi nhỏ và gọi nhiều em trả lời. Điều này giúp các em trong văn miêu tả cảnh sau
này.
*Lên lớp 2, lớp 3 nội dung miêu tả được thể hiện qua một số bài tập.
Ví dụ 2: Bài Tập làm văn tuần 20-SGK TV2 tập 2 trang 21.
Học sinh được tìm hiểu những dấu hiệu báo mùa xuân đến và cách quan sát
mùa xuân của tác giả qua đoạn văn “Xuân về” ở bài tập 1.
Sang bài tập 2 yêu cầu “Viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè”.
Mặc dù không yêu cầu tả mùa hè nhưng học sinh trả lời được câu hỏi gợi ý (Mùa
hè bắt đầu từ tháng nào trong năm? Mặt trời mùa hè như thế nào? Cây trái trong
4
vườn thế nào? Học sinh thường làm gì vào mùa hè?) là các em đã có một đoạn văn
tả cảnh.
Mùa hè bắt đầu từ tháng tư trong năm. Mặt trời chiếu ánh nắng chói
chang xuống mặt đất. Cây trái trong vườn mệt mỏi vì quá nóng. Học sinh
thường nghỉ học vào dịp hè.
Muốn có được nhiều đoạn văn khác nhau nói về mùa hè thì giáo viên có thể tổ
chức làm bài theo nhóm và có hệ thống câu hỏi khác nhau.
+ Nhóm 1: Các câu ở sách giáo khoa.
+ Nhóm 2:
H. Em thường làm gì khi hè về?
H.Dấu hiệu nào cho biết mùa hè đã đến?
H. Ánh nắng mùa hè thường như thế nào?
H.Những quả gì thường chín vào mùa hè?
H. Em có yêu mùa hè không?

+ Đôi mắt của Bác như thế nào? (Sáng như sao, rất hiền từ nhìn em trìu mến,
tinh anh…)
H. Nhìn ảnh Bác em muốn hứa với Bác điều gì? (Học giỏi, chăm ngoan, đoàn
kết với bạn bè, yêu quý mọi người…)
Qua phần trả lời chi tiết của bài tập 2 thì học sinh sẽ hoàn thành bài tập 3 một
cách dễ dàng.
Bài tập 3: “Dựa vào những câu trả lời trên, viết một đoạn từ 3-5 câu về ảnh
Bác Hồ”
Như vậy, chúng ta thấy mặc dù chưa dùng thuật ngữ “văn miêu tả” cho lớp 1,
2, 3 nhưng các em đã phải làm quen với văn tả người, tả cảnh.
Ví dụ 3. Bài Tập làm văn tuần 25 trang 64 sách giáo khoa Tiếng Việt 3 tập 2.
Với yêu cầu: Quan sát một ảnh lễ hội dưới đây, tả lại quang cảnh và hoạt
động của những người tham gia lễ hội (Học sinh quan sát ảnh lễ hội có trò chơi xít
đu hoặc trò chơi đua thuyền để miêu tả)
Qua bài tập, chúng ta thấy yêu cầu này quá cao và chênh lệch so với mục tiêu
của Tập làm văn của lớp 3. Nếu không gợi ý thì chỉ có học sinh có năng khiếu mới
làm được. Do đó, giáo viên cần đưa ra một hệ thống câu hỏi để gợi ý cho những
học sinh có lực học non hơn như sau:
+ Bức ảnh chụp cảnh gì?
+ Quang cảnh và không khí lễ hội ra sao?
+ Mọi người đang xem trò chơi gì?
+ Hãy mô tả lại trò chơi em thấy trong ảnh?
+ Theo em lễ hội được tổ chức vào những dịp nào?
+Ở địa phương em có lễ hội nào không? Tổ chức vào dịp nào?
* Lên lớp 4,5 văn miêu tả được phân cụ thể thành mảng.
- Miêu tả loài vật
6
- Miêu tả đồ vật
- Miêu tả cây cối
- Miêu tả cảnh

Tả hoạt động
+Nêu được nội dung ý chính của
từng đoạn, những chi tiết tả hoạt động
của nhân vật trong bài văn.
+Viết được một đoạn văn tả hoạt
động của một người.
2
Tả hoạt động
+Biết lập dàn ý bài văn tả hoạt
động của người.
+Dựa vào dàn ý đã lập, viết được
đoạn văn tả hoạt động của người.
7
16
1 Kiểm tra viết +Viết được bài văn tả người hoàn
chỉnh, thể hiện được sự quan sát chân
thực, diễn đạt trôi chảy.
17
2 Trả bài văn tả
người
+Biết rút kinh nghiệm để làm tốt
bài văn tả người.
+Nhận biết được lỗi trong bài văn
và viết lại một đoạn văn cho đúng.
19
1 Dựng đoạn mở bài
tả người
+Nhận biết được hai kiểu mở bài
(trực tiếp và gián tiếp) trong bài văn tả
người.

tiếng như Bà tôi của Mác –xim Go-rơ-ki, Người thợ rèn của Nguyên Ngọc.Chú
bé vùng biển của Trần Vân.
Theo tôi đây là những đoạn văn xuất sắc, vượt lên quá xa so với tầm suy nghĩ
của học sinh. Từ việc đặt câu, sắp xếp ý đến cả cách dùng từ học sinh đều không
thể dùng để tham khảo. Càng đọc những đoạn văn như thế thì học sinh lại càng rụt
rè, tự ti khi viết lên những câu văn của mình.
Ví dụ: Bà tôi của Mác –xim Go-rơ-ki: Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm
trên tay, bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào tâm trí tôi
dễ dàng và những đóa hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi mỉm cười,
hai con ngươi đen sẫm nở ra, long lanh, dịu hiền khó tả, đôi mắt ánh lên những tia
sáng ấm áp, tươi vui.
Người thợ rèn của Nguyên Ngọc: Dưới những nhát búa hăm hở của anh, con
cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch. Những chiếc vảy của nó bắn ra
tung tóe thành những tia lửa sáng rực. Nó nghiến răng ken két, nó cưỡng lại anh,
nó không chịu khuất phục.
Chú bé vùng biển của Trần Vân: Nó cởi trần, phơi nước da rám đỏ khỏe
mạnh của những đứa trẻ lớn lên với nắng, nước mặn và gió biển. Thân hình nó
rắn chắc, nở nang, cổ mập, vai rộng, ngực nở căng, bụng thon hằn rõ những múi,
hai cánh tay gân guốc như hai cái bơi chèo, cặp đùi dế to, chắc nình nịch.
Chính vì thế mà trong quá trình dạy học sinh lớp mình, tôi phải tìm hiểu và
linh hoạt thay một số ngữ liệu vào bài dạy. Những ngữ liệu này từ cách đặt câu,
dùng từ đều gần gũi, sát thực với các em.
Ví dụ:
+ Bà năm nay đã gần 60 tuổi, dáng người nhỏ nhắn hơi gầy với mái tóc pha
sương nay đã bạc màu tiều tụy. Lưng bà hơi còng xuống, nước da bị nắng cháy
xạm màu và đã trổ đồi mồi, có lẽ bà vì bà phải bươn chải tảo tần buôn bán để
nuôi mẹ, các cậu, các dì của em. Mắt bà không còn tinh tường, con ngươi hơi
đùng đục, nhưng cái nhìn của bà hiền hậu đầy yêu thương trìu mến. Hai gò má
của bà xuất hiện nhiều nếp nhăn ở đuôi mắt, khóe môi.

Ví dụ: Em của em năm nay khoảng 12 tháng tuổi. Em của em có đôi mắt
rất sáng. Em có cái miệng rất tươi. Hàm răng của em mới chỉ có 10 cái…Mọi
người thường khen em thật xinh và ngoan ngoãn.
Việc lặp từ này không có tác dụng liên kết câu mà chỉ làm cho người đọc bị
nhàm chán, các câu văn rời rạc.
Do đó, tôi giúp các em bỏ bớt từ lặp, thay bằng đại từ, thêm phần phụ của câu
vào, sử dụng cách viết của câu ghép (Mặc dù các em chưa được học thành bài cụ
thể).
Ví dụ: Em năm nay khoảng 18 tháng tuổi. Em có đôi mắt sáng, miệng cười
rất tươi. Khi cười để lộ hàm răng mới có 10 cái. Mọi người thường khen em thật
xinh và ngoan ngoãn.
Một điều quan trọng khi dạy Tập làm văn miêu tả đó là giáo viên phải chú ý
mục tiêu, yêu cầu bài học tuần tới để dặn dò học sinh về nhà quan sát, chuẩn bị
cho tiết học sau.
3. Những kết quả đạt được:
10
Sau thời gian áp dụng những biện pháp của mình vào thực tế dạy học. Đến bài
Kiểm tra định kỳ lần 2 (tuần 18) tôi đã thu được kết quả khả quan hơn. Em yếu
nhất bây giờ cũng đã tự viết được 6 -7 dòng với 3 phần đầy đủ theo cấu tạo của bài
làm văn. Tuy ban đầu chưa hay, chưa đúng lắm nhưng đó cũng là sản phẩm tự tay
các em làm ra. Tôi cảm nhận được niềm vui trong mỗi học sinh khi nhận được lời
động viên khích lệ từ cô giáo.
Kết quả như sau:
Bảng 1. Kết quả khảo sát, đối chứng:
TT
Họ tên học sinh
nhóm thực nghiệm
Nhóm thực
nghiệm Lớp 5A
năm 2012-2013

5 Cao Thị Mĩ Duyên 7 8 10 Hà Văn Cường 5 7 8
6 Vi Bình Dương 6 7 8 Ngô Kim Chi 7 8 8
7 Vi Hải Dương 8 7 8 Nguyễn Bá Chiến 8 8 10
8 Vi Văn Dương 7 8 9 Hà Công Đạt 7 8 9
9 Sư Hữu Đạo 8 8 10 Vi Thị Định 7 7 8
10 Vi Văn Định 5 7 8 Vi Văn Hiệp 6 7 8
11 Nguyễn Bá Hải 8 8 8 Phạm Thị Hoa 7 8 9
12 Lô Thị Mĩ Hạnh 7 7 9 Vi Quốc Hưng 7 8 9
13 Ngân Thị Hiền 4 7 10 Nguyễn Văn Lâm 8 8 10
14 Phan Đăng Hiền 7 7 9 Lê Thị Linh 8 9 9
15 Lô Trung Hiếu 6 6 8 Hồ Quang Linh 7 6 6
16 Vi Ngọc Hoàng 8 9 10 Lê Tuấn Minh 7 8 8
11
17 Vi Văn Hợp 5 7 9 Vi Bình Minh 6 7 7
18 Võ Thị Huệ 8 9 10 Lữ Văn Nam 7 8 7
19 PhanThanh Hương 7 7 9 Âu Dương Nhật 8 8 8
20 Hồ Thị Huyền 6 8 10 Võ Xuân Nhật 5 5 5
21 NguyễnThị Huyền 8 8 10 Trần Văn Nguyên 5 6 7
22 Trương Thúy Kiều 7 8 10 Đg.Ngọc Phương 9 9 9
23 Vi Quang Linh 4 7 6 Ng Hồng Phong 9 8 9
24 Nguyễn Đình Lộc 8 10 10 Hồ Thị Quỳnh 6 7 7
25 Hồ Hoàng Ngọc 6 8 9 Lương Văn Tình 4 5 5
26 Ng. Xuân Nghĩa 8 8 10 Vi Văn Tụng 6 6 7
27 Trần Thị Nguyệt 7 8 10 Nguyễn Thị Thảo 6 7 7
28 Cao Văn Nhâm 5 5 6 Võ Thị Thu 5 5 5
29 Vi Hồng Nhung 7 8 10 Lương Thị Thùy 6 6 7
30 Quán Vi Quyền 7 8 9 Vi Thị Kim Thoa 8 9 8
31 Trương Thị Quỳnh 7 8 9 Vi Quốc Trung 7 8 8
32 Vi Văn Thiên 5 7 9 Trương Đình Văn 6 7 7
33 Đinh Thị Thùy 6 7 9 Lê Thị Vy 6 6 7

thực
nghiệm
Lớp 5A (2012-
2013)
33 9.00 1.15
Nhóm
đối chứng
Lớp 5B (2012-
2013)
33 8.00 1.22
Từ bảng 2 ở trên cho thấy, điểm TB bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực
nghiệm lớp 5A là 9.00 (SD=1.15) so với nhóm đối chứng lớp 5B là 8.00
(SD=1.22). Điều này cho thấy nhóm thực nghiệm ở lớp 5A trong năm học 2012-
2013 đạt kết quả cao vượt trội so với nhóm đối chứng lớp 5B năm học 2012-2013.
Bảng 3. Phép kiểm chứng ttest độc lập:
Giá trị P Giá trị trung bình của hai nhóm
< 0.05 Chênh lệch có ý nghĩa
> 0.05 Chênh lệch không có ý nghĩa
Từ bảng trên dựa và kết quả của phép kiểm chứng ttest độc lập giúp chúng ta
xác định được độ chênh lệch giữa giá trị trung bình của hai nhóm khác nhau như
sau:
Dựa vào bảng 1 ta có P = 0.0029 và so sánh với bảng 3 thì ta thấy P = 0.0029
<0.05 cho thấy chênh lệch giá trị trung bình giữa kết quả kiểm tra sau tác động của
nhóm thực nghiệm ở hai lớp 5A năm học 2012-2013 với nhóm đối chứng lơp 5B
năm học 2012-2013 là có ý nghĩa.
Phép kiểm chứng ttest phụ thuộc (theo cặp):
Từ bảng 1 ta thấy lớp 5A năm 2012-2013 có giá trị trung bình kết quả kiểm
tra sau tác động tăng so với kết quả kiểm tra trước tác động của nhóm thực
nghiệm( 9.00 – 8.00 = 1.00 điểm). P = 0.0000003 < 0.05 cho thấy chênh lệch này
có ý nghĩa (không xảy ra ngẫu nhiên).

+ Khuyến khích học sinh tả thực với đối tượng miêu tả gần gũi với các em.
+ Cần có hệ thống câu hỏi gợi mở nhằm giúp học sinh tìm kiếm vốn từ gần
gũi trong thực tế.
+ Rất cần thiết việc tổ chức dạy học ngoài trời với các tiết học quan sát, miêu
tả những sự vật có trong khuôn viên nhà trường.
14
+ Đặc biệt giáo viên luôn phải quan tâm đến nội dung của tiết học sau để
hướng dẫn kịp thời việc chuẩn bị bài ở nhà.
+ Có những lời động viên, khích lệ kịp thời đối với những em còn rụt rè, tự ti
khi viết văn; những em thỉnh thoảng có được một vài câu văn hay
5. Phương pháp thực hiện sáng kiến.
Để thực hiện việc nghiên cứu, đúc rút SKKN, tôi đã sử dụng một số phương
pháp sau;
+ Phương pháp thảo luận.
+ Phương pháp đàm thoại, trao đổi.
+ Phương pháp điều tra, khảo sát.
6. Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của SKKN.
Trường tôi là một trường thuộc xã khó khăn, do điều kiện kinh tế còn nhiều
hạn chế nên phần lớn cha mẹ chưa có điều kiện quan tâm con. Dẫn đến lực học của
các em còn phụ thuộc vào thầy cô. Năm học này, tôi đã nghiên cứu SKKN nhằm
tác động lên đối tượng thầy cô thuộc các trường có chung điều kiện như trường tôi
nhằm giúp các em có hứng thú trong các tiết học Tập làm văn.
Do đó, SKKN của tôi sẽ áp dụng rộng rãi đối với các trường vùng sâu, xa, có
nhiều đối tựơng học sinh còn hạn chế về Tập làm văn.
PHẦN III. KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Nghiên cứu khoa học, đúc rút SKKN là một việc là thiết thực trong công tác
cải tiến, nâng cao chất lượng việc làm nói chung và nâng cao chất lượng dạy và
học nói riêng. Qua việc nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm dạy học của mình, tôi đã
thu được kết quả khá khả quan: Giáo viên, học sinh hứng thú hơn trong việc dạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status