Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới. Nhìn từ
phía khoa học và công nghệ thì đây là thời đại văn minh thông tin với nền
kinh tế dựa trên tri thức. Thời đại văn minh mới này là một bước phát triển
vượt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên đất
đai là chính và thời đại văn minh cônh nghiệp với nền kinh tế dựa trên tài
nguyên khoáng sản là chính. Những đặc điểm chủ yếu của thời đại văn minh
thông tin có thể tóm tắt trong bốn yếu tố : Thông tin - Tri thức trở thành tài
nguyên quan trọng nhất; Khoa học – Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp; Hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng và cuối cùng
là máy tính cá nhân và Internet là phương tiện lao động phổ biến nhất và có
hiệu quả nhất.
Như vậy, người lao động ở mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải
không ngừng học hỏi, trau dồi tri thức đủ rộng, có tầm nhìn xa mang tính
chiến lược và đủ chiều sâu để có thể giải quyết nhanh chóng hơn những công
việc cụ thể, góp phần vào sự nhiệp CNH- HĐH đất nước. Chính vì vậy, Đảng
và nhà nước đã đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo là phải đào tạo đội ngũ
những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, tiếp cận và làm chủ được
công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng giáo dục, coi giáo dục là “Quốc
sách hàng đầu”, coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Tại hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng
định: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”.
1
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
2
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô
tận của loài người. Trong đó phân môn tập làm văn là phân môn thực hành,
tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn tiếng Việt ( tập đọc, luyện từ và
câu, chính tả, kể chuyện ). Chính vì thế, việc dạy và học làm văn là vấn đề
luôn luôn cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học
hôm qua vào hôm nay và mai sau.
*Cơ sở thực tiễn Đối với việc dạy cũng thế, trong việc kế thừa cái cũ,
cái vốn có đòi hỏi phải là một sự sáng tạo. Với các phân môn khác của tiếng
Việt trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học có chỉ rõ quy trình
các bước lên lớp rất cụ thể, rõ ràng; Còn với phân môn tập làm văn, các nhà
nghiên cứu chỉ đưa ra quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là
sự sáng tạo của giáo viên khi lên lớp. Thực tế dạy học cho thấy: dạy tập làm
văn là việc rèn luyện cho học sinh khả năng tổ chức giao tiếp, tổ chức lời nói
ngay từ khi học sinh học sinh bắt đầu đi học, đây là một việc làm hết sức khó
khăn mà không phải giáo viên nào cũng thực hiện được. Thường thì giáo viên
nào cũng dạy đúng, đủ quy trình các phân môn như tập đọc, luyện từ và
câu…, có nhiều giáo viên còn dạy rất tốt các phân môn này. Nhưng với phân
môn tập làm văn thì rất hiếm khi có giáo viên nào có đủ dũng cảm chọn nó
làm phân môn hội giảng, cũng có rất ít giáo viên có khả năng dạy một giờ tập
làm văn sinh động, hấp dẫn. Trong thực tế, giáo viên thường chưa quan tâm,
chưa chú trọng lắmm đến phân môn này, thường chỉ hướng dẫn qua loa cho
học sinh về nhà tự viết… Còn việc học thì sao?: Ngoài SGK tiếng Việt thì
hiện nay có rất nhiều loại sách tham khảo cho HS, giúp cho HS có có cái nhìn
đa dạng, phong phú hơn. Nhưng những cuốn sách tham khảo của phân môn
tập làm văn lại thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn
các em thường dựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao chép y nguyên bài
Hoa Th¸m - ¢n Thi - Hng Yªn với việc dạy và học tập làm văn lớp 4.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu.
- Điều tra, quan sát, đàm thoại, phỏng vấn.
- Phân tích, tổng hợp.
- Thực nghiệm, kiểm chứng.
4
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Hoạt động giao tiếp và việc làm văn:
- Giao tiếp là giao lưu, trao đổi tư tưởng tình cảm giữa con người với
nhau trong xã hội có thể diễn ra bằng nhiều hình thức với nhiều phương tiện
khác nhau, phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người là ngôn ngữ.
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn diễn ra giữa hai đối tượng
giao tiếp: người sản sinh văn bản và người tiếp nhận ( lĩnh hội ) văn bản với
sự tham gia của 5 nhân tố giao tiếp ( điều kiện hoàn cảnh giao tiếp, nội dung
giao tiếp, mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp, cách thức giao tiếp ) theo
một quy trình khép kín: Người sản sinh văn bản ( người nói, người viết ) tạo
lập ra văn bản ngôn từ và thông qua điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp đến với
người tiếp nhận văn bản ( người nghe, người đọc ). Trong quy trình đó, làm
văn chính là một khâu của hoạt động giao tiếp, đó chính là khâu sản sinh, tạo
lập văn bản.
Triết học Mác – Lê nin cho rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của con người , ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Vì vậy mục đích của việc dạy tiếng Việt trong nhà trường là làm
cho học sinh có khả năng sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao
quan hệ , các mối liên hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ trong cùng một văn bản
theo một trình tự hợp lý hợp với quy luật của hiện thực khách quan và hợp với
quy luật của nhận thức phản ánh.
Về mặt hình thức: Đó là những biểu hiện cụ thể của liên kết nội
dung trong văn bản được thể hiện ở hai phương diện ( phương thức liên kết và
phương tiện liên kết): Phương thức liên kết là những biện pháp, cách thức
chung trong việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tạo ra sự liên kết trong văn
bản đó là phép lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép trật tự tuyến tính, phép so
sánh đối chiếu, phép tỉnh lược, phép nối.; Phương tiện liên kết là những biểu
hiện cụ thể của các phép liên kết trong việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ làm
phương tiện để tạo ra sự liên kết trong văn bản.
6
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
- Tính hoàn chỉnh: Tính hoàn chỉnh được hiểu là tính chất trọn vẹn,
tính chất rõ ràng, đầy đủ của một văn bản cả về nội dung lẫn hình thức biểu
hiện của nó
Về mặt nội dung: Tính hoàn chỉnh được biểu hiện là mỗi văn bản phải
trình bày thể hiện về một vấn đề nhất định để giúp người tiếp nhận nắm bắt
được sự khởi đầu, quá trình diễn biến và sự kết thúc của sự vật hiện tượng,
vấn đề được trình bày được thể hiện.
Về mặt hình thức: Mỗi văn bản phải được tổ chức theo một kểu kết
cấu nhất định thông thường đó là kết cấu 3 phần với mỗi chức năng riêng biệt
của mỗi phần trong văn bản
Phần mở đầu: Giới thiệu, dẫn dắt về vấn đề cần thể hiện và nêu lên
giới hạn, phạm vi, cách thức trình bày vấn đề của người viết.
Phần giải quyết vấn đề: Toàn bộ quá trình hình thành một vấn đề cụ
thể.
Phần kết thúc: tổng kết, thâu tóm, khái quát vấn đề đã trình bày, bày
sử dụng câu, tổ chức xây dựng toàn văn bản phong cách nghệ thuật cũng hết
sức đa dạng, nó tuỳ thuộc vào năng lực, sở trường và mục đích sáng tạo của
người viết.
Các thể loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật gồm: Tường
thuật, kể chuyện, miêu tả, trong đó có thể nói thể loại miêu tả có trong tất cả
các thể loại khác ( trong tường thuật cũng có tả, trong kể chuyện cũng có tả ).
3.2. Thể loại văn miêu tả:
- Khái niệm: Miêu tả là một thể loại văn bản mà trong đó người viết
dùng ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình
ảnh chân dung của đối tượng miêu tả với những đặc điểm nổi bật cả về hình
thức bên ngoài lẫn những phẩm chất bên trong nhằm giúp người tiếp nhận có
những hiểu biết và dung cảm cảm nhận về đối tượng đó như được trực tiếp
tiếp xúc với đối tượng thông qua các giác quan của mình.
-Đặc điểm: Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình
ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được
thông qua các giác quan trực tiếp của mình. Bài văn miêu tả là thể loại văn
bản mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của người
8
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ giàu
sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ.
- Kết cấu: Kết cấu bài văn miêu tả cũng tuân thủ kết cấu 3 phần:
Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cản, quan hệ của
người miêu tả với đối tượng miêu tả.
Thân bài: Tái hiện, sao chụp chân dung của đối tượng miêu tả ở
những góc nhìn nhất định.
Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp
của người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả.
6
3
2
1
32 tiết
4
11
8
1
3
3
30tiết
19
1
10
11
8
3
2
2
3
3
62 tiết
Như vậy, ta thấy số tiết học về văn miêu tả là 30 tiết trong tổng số
62 tiết tập làm văn của cả năm học, rõ ràng là văn miêu tả chiếm gần nửa số
tiết học cả năm ( Không kể những tiết ôn tập ).Trong đó văn miêu tả kiến
thức được trang bị cho học sinh bao gồm:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động.
dạy cụ thể, giáo viên có thể dẫn dắt, giới thiệu bài bằng những cách khác
nhau, sao cho thích hợp.
(2) Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức và luyện tập
* Đối với loại bài hình thành kiến thức :
(a) Hướng dẫn học sinh nhận xét : Dựa theo câu hỏi, bài tập gợi ý của mục
I (Nhận xét) trong SGK, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm
của loại văn thông qua việc khảo sát văn bản, thảo luận, trả lời câu hỏi nhằm
11
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
tự tìm ra những điểm cần ghi nhớ ( được diễn đạt ngắn gọn, súc tích ở mục II
trong SGK).
(b) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ : Giáo viên yêu cầu học sinh nhớ kỹ mục
II ( ghi nhớ ) trong SGK, sau đó có thể nhắc lại để học thuộc và nắm vững.
(c) Hướng dẫn học sinh luyện tập : Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện
bài tập ở mục III ( Luyện tập ) trong SGK theo trình tự các thao tác : Đọc và
nhận hiểu yêu cầu của bài tập ; thực hành luyện tập theo từng yêu cầu của bài
tập ( có thể làm thử một phần bài tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau
đó trao đổi, thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm ) ; nêu kết quả trước lớp để
giáo viên nhận xét, đánh giá nhằm củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng
theo yêu cầu của bài học.
* Đối với loại bài luyện tập thực hành :
Đây là loại bài chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng làm
văn. Nội dung bài học thường gồm 3, 4 bài tập hoặc 1 đề bài tập làm văn.
Dựa vào mục đích yêu cầu của bài dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh
thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự các thao tác đã nêu ở mục (c)
của loại bài hình thành kiến thức, hoặc hướng dẫn học sinh lần lượt thực hiện
từng nội dung gợi ý trong SGK để luyện tập các kỹ năng tập làm văn dưới
hình thức nói, viết theo đề bài cho trước.
thức tăng cao hơn hẳn, trước đây mỗi kiểu bài của thể loại văn miêu tả
thường được cấu trúc dưới dạng các đề bài cho trước, mỗi đề bài lại được học
trong 4 – 5 tiết: Quan sát tìm ý, lập dàn bài, làm bài miệng, làm bài viết, trả
bài. Chương trình mới được cấu trúc khác hẳn: mỗi kiểu bài được học từ 8 –
11 tiết trong đó thường có 1 tiết lý thuyết chung, 1 tiết cho cấu tạo từng kiểu
bài, 1tiết cho quan sát đối tượng miêu tả, 2- 3 tiết luyện tập xây dựng đoạn
văn, 1- 2 tiết luyện tập xây dựng đoạn mở bài và kết bài, 1tiết kiểm tra và 1
tiết trả bài. Rõ ràng chương trình mới không có sự gò bó, áp đặt học sinh phải
miêu tả cùng một đối tượng nào cho trước mà tuỳ theo từng vùng, từng nơi,
tuỳ từng em có thể lựa chọn đối tượng miêu tả miễn là trong cùng kiểu bài ( tả
con vật hay tả cây cối, tả đồ vật), như vậy sẽ phát huy được tính độc lập, sáng
tạo của học sinh.
13
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
Với cấu trúc chương trình như vậy đòi hỏi lao động sư phạm của giáo
viên ở mức độ cao hơn rất nhiều, giáo viên không thể chỉ sao chép lại các nội
dung của sách bài soạn, sách hướng dẫn, “soạn bài cốt chỉ để cho giám hiệu
ký”, không thể cứ áp dụng phương pháp thuyết trình cổ điển, không thể
hướng dẫn, gợi ý qua loa cho học sinh về nhà tự viết… mà đòi hỏi phải có sự
chuẩn bị công phu, có sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình lên lớp. Phải dạy
sao cho giờ học là giờ hoạt động của học sinh, học sinh có hứng thú, tự giác,
tích cực hoạt động, hoạt động, sáng tạo đi trên con đường đúng để phát hiện
tri thức mới, chiếm lĩnh tri thức một cách nhẹ nhàng nhưng đậm nét, khó phai.
Đó chính là quá trình biến mục tiêu bài học thành cái chủ quan của học sinh.
Tức là thông qua hoạt động tích cực của học sinh mục tiêu bài học biến thành
kiến thức, kỹ năng, tình cảm, thái độ của học sinh. Với bất kỳ biện pháp, hình
thức, phương tiện nào nếu giúp cho học sinh càng hoạt động nhiều thì người
dạy càng thành công trong đổi mới phương pháp. Cái khó của giáo viên là ở
lượng lại thấp hơn hẳn. Qua xem bài làm của học sinh và khảo sát tình hình
học tập lớp của các em học sinh lớp 4 tôi thấy hầu hết các em nắm được kiến
thức cơ bản của các phân môn luyện từ và câu, chính tả nhưng các em chưa
biết vận dụng kiến thức của các phân môn này để làm bài tập làm văn.
Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4 hiện đang học thể loại bài miêu tả,
nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng bài làm
của các em còn viết theo một lối mòn khuôn sáo, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và
nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các
biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá,…Về mặt cấu tạo câu các em
cũng còn mắc rất nhiều lỗi về thành phần câu, về nghĩa của câu,…được thống
kê như sau:
• Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:
- Câu không đủ thành phần:
+ Những bông hoa thơm ngát.
+ Trên cánh đồng làng, chạy dọc theo con sông.
- Câu thừa thành phần : Lặp lại thành phần một cách không cần
thiết.
+ Cún con đó là một con vật thật đáng yêu.
+ Quyển sách tiếng Việt đối với em là người bạn thân thiết của em.
- Câu không phân định được thành phần:
15
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
+ Em phải giữ gìn chiếc bút chì đặt vào trong hộp.
+ Em thấy rất có ích đọc câu chuyện này.
• Lỗi về nghĩa:
- Câu sai nghĩa:
+ Bà em tinh mắt sâu kim trong bóng tối.
+ Con lợn nhà em bằng quả dưa hấu nặng 4 tạ.
thức đêm để trông nhà cho gia đình em.
Tóm lại: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn luyện từ
và câu nhưng khi áp dụng vào viết văn thì các em thường không chú ý diễn
đạt nên đã mắc phải một số lỗi như đã liệt kê ở trên. Từ chỗ mắc lỗi về câu
cộng với việc chưa biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại
nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các em thường khô khan, lủng củng nghèo
cảm xúc, bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả.
Tôi đã cho khảo sát chất lượng làm văn của học sinh hai lớp 4B và
4Cđể làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này:
Đề bài: Em hãy miêu tả một dụng cụ học tập của em mà em yêu thích
nhất . Chú ý mở bài theo kiểu mở rộng.
Kết quả cụ thể như sau:
Lớp
Số
HS
Điểm Giỏi Điểm Khá Điểm TB
Điểm dưới
TB
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
4B 28 1 3,6 5 17,9 14 50,0 8 28,5
4C 25 1 4 3 12 13 52 8 32
Kết quả trên cho thấy, hai lớp 4B và 4C có số học sinh gÇn b»ng như
nhau, chất lượng làm văn cũng gần tương đương nhau, bài làm có điểm khá,
giỏi rất ít, chủ yếu là điểm trung bình, điểm dưới trung bình còn chiếm trên
28%.
Từ thực trạng việc dạy học phân môn tập làm văn nói chung và việc
dạy học làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng tôi thấy rất cần thiết phải có những
17
18
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
em. Chính vì vậy mà những gì càng gần gũi, dễ hiểu bao nhiêu thì việc tiếp
thu của các em càng nhanh chóng bấy nhiêu. Hơn nữa nhận thức của các em
còn ở mức độ đơn giản nên giáo viên cần hướng để các em chọn đối tượng
miêu tả gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của các em.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài
phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn”, chất văn của bài làm.Muốn vậy giáo
viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn
nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
2. Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu
tả ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này:
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối
tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ
là sự sao chép, chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là
kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự
miêu tả thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của mỗi người.
Chẳng hạn, nhìn bầu trời sao Vich-to Huy-gô thấy giống như “một
cánh đồng lúa chín” mà ở đó người đi gặt đã “để quên lại một cái liềm con”
(Vành trăng non). Đối với nhà văn Nam Cao thì vành trăng và ánh sao lại
được nhìn nhận, được cảm theo một cách hoàn toàn khác: “Trăng là cái liềm
vàng giữa cánh đồng đầy sao, trăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời.
Trăng toả mộng xuống trần gian. Trăng tuôn suối mát để những tâm hồn khao
khát ngụp lặn…”. Còn với Trần Đăng Khoa, một tài năng ở tuổi thiếu nhi, thì
trăng không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc nữa, mà Trần
Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ
thơ, rất hồn nhiên trong sáng:
Trăng hồng lơ lửng trước nhà thơm ngon, ngọt mát nơi vườn quê
mình cần đi và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi
chọn lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và như vậy
chất lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn.
3. Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử
dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
20
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
Muốn một bài văn hay, có “hồn’, có chất văn thì các em phải có vốn
từ ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp.
Chính vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc,
luyện từ và câu và cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói
chuyện, trong các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo
chủ đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay
theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng. Giáo
viên cũng cần khuyến khích các em đọc sách báo để tìm hiểu thêm thông tin
tư liệu, có thể xây dựng tủ sách dùng chung trong lớp để các em trao đổi sách
báo cho nhau và em nào cũng được đọc. Hàng tuần hoặc hàng tháng giáo viên
có thể tổ chức cho các em những cuộc thi vui: thi xem ai đọc được nhiều sách
báo nhất ( kể tên những đầu sách và những tên bài mình đã đọc), thi tìm từ
ngữ theo chủ đề ( học sinh tự chọn một chủ đề bất kỳ và nêu những từ ngữ
thuộc chủ đề đó mà mình đã sưu tầm được),…Sau những cuộc thi, những
buổi trao đổi như thế chắc chắn vốn từ ngữ của các em sẽ tăng lên, khả năng
giao tiếp của các em cũng sẽ khá hơn, điều này giúp ích rất nhiều cho việc
làm văn của các em.
Sau khi các em đã có vốn từ phong phú, giáo viên tiếp tục rèn cho các
em cách lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh và
có sử dụng cá biện pháp nghệ thuật đã học. Giáo viên cần tiến hành theo mức
độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu
những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta cảm thấy
miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người
đọc người nghe.
Tuy nhiên, không phải học sinh nào cũng biết sử dụng các biện pháp
nghệ thuật khi miêu tả và cũng không phải tự các em có sẵn tâm hồn văn
chương như vậy. Như trong phần thức trạng đã nói: Học sinh khi học về các
biện pháp nghệ thuật thì có thể nhận diện được câu văn nào có sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì nhưng lại không biết áp dụng nó khi làm văn.Vậy ta phải
làm thế nào để học sinh có thể vận dụng lý thuyết khi thực hành làm văn?
Đây là vấn đề khó có lẽ nhiều giáo viên trăn trở và cũng không phải việc làm
22
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
một sớm, một chiều mà phải là sự tích luỹ lâu dài. Giáo viên có thể đọc cho
các em nghe và cho các em ghi chép vào sổ tay văn học những câu văn, câu
thơ có sử dụng biện pháp nghệ thuật vào cuối mỗi giờ tập làm văn học trong
các giờ học buổi . Chẳng hạn có thể đọc cho các em nghe:
* Nghệ thuật so sánh:
- Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
- Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
- Lá xoè từng tia nắng
Giống hệt như mặtt trời.
- Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Người rực rỡ như một mặt trời cách mạng
như vậy, dần dần nhiều ngày tích luỹ lại các em sẽ có vốn từ phong phú và sẽ
học được cách miêu tả sinh động của các tác giả, biết vận dụng khi làm văn.
4. Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những
phân môn thuộc môn tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy
tốt các phân môn khác.
- Ta có thể thấy, mỗi bài tập đọc là những đoạn văn mẫu mực cả về
câu, từ cả về cách cách diễn đạt, những văn bản trong các bài tập đọc đạt yêu
cầu lời hay, ý đẹp, dạy tốt tập đọc sẽ tạo điều kiện cho học sinh tăng thêm vốn
từ và biết được khả năng thể hiện của của tiếng Việt trong mọi trường hợp rất
phong phú, học sinh sẽ học tập được cách dùng từ, viết câu, diễn đạt.
Trong dạy tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kỹ năng, trong đó có
kỹ năng văn hay còn gọi là kỹ năng cảm thụ:
Làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong ngôn từ văn bản:
âm thanh, gieo vần, cách dùng từ, đặt câu, những biện pháp tu từ ( ví von, so
sánh, nhân hoá, từ láy, từ gợi tả, gợi cảm, )
24
Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4 Trang:
Khám phá ý nghĩa trong mỗi đơn vị ngôn từ, biết cách giải nghĩa từ
nhất là nghĩa của từ trong từng văn cảnh – ý nhĩa xung quanh nó tạo nên
nghĩa của từ:
Ví dụ: Sông hồng bận chảy
Chiếc xe bận chạy
Bận : bận rộn, nhiều việc, việc nọ kế tiếp việc kia, trong văn cảnh này
từ bận là từ dành cho con người được sử dụng cho những đối tượng không
phải là con người như sông Hồng, chiếc xe đó chính là biện pháp nhân hoá mà
tác giả sử dụng nhằm nói mọi sự việc hướng tới con người, vì con người.
Hay trong bài “Chú chuồn chuồn nước” : “Ôi chao! Chú chuồn chuồn
nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lơng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng