BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC ĐỖ PHÚC THANH
NGHIÊN CỨU ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH IN VITRO
VỚI KHÁNG NGUYÊN ĐẶC HIỆU VI KHUẨN LAO
ESAT-6, CFP-10, TB7.7 Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI
VÀ NGƯỜI NHÀ TIẾP XÚC TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH NGHIÊN CỨU ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH IN VITRO
VỚI KHÁNG NGUYÊN ĐẶC HIỆU VI KHUẨN LAO
ESAT-6, CFP-10, TB7.7 Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI
VÀ NGƯỜI NHÀ TIẾP XÚC TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH Chuyên ngành: Nội Khoa
Mã số: CK 62 72 20 40
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: PGS.TS.TRẦN THỊ MINH DIỄM
Hướng dẫn 2: TS. HOÀNG VIẾT THẮNG
có hiệu quả bảo vệ cao hơn BCG. Ở Trung Quốc, người ta đã thử nghiệm test
da trên chuột với kháng nguyên tiết ESAT-6 và theo dõi đáp ứng miễn dịch tế
bào qua việc định lượng IFN-γ ở môi trường nuôi cấy tế bào đơn nhân/đại thực
bào và tế bào lympho T.
Trong bệnh lao, đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào do các tế bào
lympho T và đại thực bào thực hiện thông qua các cytokin. Khi cơ thể tiếp xúc
với vi khuẩn lao lần đầu tiên thì sẽ sản xuất các tế bào lympho T mẫn cảm (tế
2
bào lympho TCD4
+
và TCD8
+
). Khi vi khuẩn lao xâm nhập những lần sau thì
các tế bào này sẽ phản ứng lại và tiết nhiều cytokin hòa tan, đặc biệt là IFN-γ.
Đo nồng độ IFN- γ được sản xuất từ nuôi cấy tế bào đơn nhân ngoại vi khi
được kích thích bởi kháng nguyên đặc hiệu của Mycobacterium tuberculosis
(MT) có thể đánh giá đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào của từng cá thể, kỹ
thuật này như đã mở ra một khía cạnh mới trong lĩnh vực miễn dịch học chẩn
đoán bệnh lao.
Nghiên cứu sử dụng bộ hóa chất QuantiFeron-TB Gold in tube (QFT-
GIT) đo lượng IFN-γ được tiết ra từ các tế bào đơn nhân máu ngoại vi bị kích
hoạt bởi kháng nguyên đặc hiệu MT là ESAT-6, CFP-10, TB7.7, gọi là kỹ
thuật IGRA (interferon gamma releasing assay). Phân tích, so sánh để tìm mối
tương quan giữa đáp ứng miễn dịch nói trên và các dữ liệu lâm sàng, X-quang
phổi, chỉ số AFB xét nghiệm đàm … ở người tiếp xúc trong gia đình bệnh
nhân lao, nhằm xác định người nhiễm lao có nguy cơ phát triển thành bệnh lao,
đồng nghĩa với chẩn đoán sớm bệnh lao, và đây cũng là một mục tiêu chính
trong chương trình phòng chống lao quốc gia. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đáp ứng miễn dịch in vitro với kháng nguyên đặc hiệu vi
Tỉ lệ người hiện mắc lao trong quần thể dân số nhất định tại khoảng thời
gian hoặc thời điểm xác định.
Tỉ lệ hiện mắc cho thấy mức độ trầm trọng của dịch bệnh về số nguồn lây
đang lưu hành, xu hướng dịch tễ, và hiệu quả của chương trình chống lao.
1.1.2.2. Tỉ lệ mắc mới hàng năm (incidence rate).
Tỉ lệ người mới mắc bệnh lao trong quần thể nhất định trong khoảng thời
gian một năm .
Tỉ lệ mới mắc cho phép đánh giá tác động của các yếu tố nguy cơ của
bệnh lao và là căn cứ hoạch định chính sách can thiệp để làm giảm các nguy cơ
đó trong một quần thể [6].
4 1.2. SINH BỆNH HỌC CỦA BỆNH LAO
1.2.1. . Đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu
Đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể xuất hiện tại tổn thương
trong những ngày đầu nhiễm lao nhằm tiêu diệt VK. Nếu đáp ứng tốt, số lượng
VK ít, VK lao có thể bị tiêu diệt ngay. Thành phần miễn dịch không đặc hiệu
được biết gồm có: bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào phế nang, tế bào
T-γ/δ, T-α/β, protein của đại thực bào liên quan đến tính kháng tự nhiên
(Nramp) và một số tế bào khác [10], [32].
1.2.2. Đáp ứng miễn dịch đặc hiệu
Miễn dịch đặc hiệu hay miễn dịch thích nghi khởi phát khi kháng
nguyên vi khuẩn lao được đại thực bào trình diện cho các lympho T với sự
hỗ trợ của phân tử MHC lớp II đối với T CD4 và lớp I đối với T CD8. Chỉ
dưới 5% trường hợp có hệ miễn dịch không kiểm soát được nhiễm khuẩn
nên VK lao có thể phát triển lan tràn (theo đường máu và bạch huyết) gây
bệnh ở nhiều tạng trong cơ thể (lao kê, lao nhiều tạng, v.v.). Phần lớn các
trường hợp (90%) sau nhiễm khuẩn không bị bệnh, trong đó có những cơ
thể bị nhiễm lao tiềm tàng. Trong số này chỉ 5%-10% trường hợp chuyển
nhóm tế bào T mang kháng nguyên bề mặt CD4 (lympho T CD4), có nhiệm vụ
kích thích đáp ứng miễn dịch của tế bào khác. Nhóm tế bào T gây độc, chủ
yếu là tế bào T mang kháng nguyên bề mặt CD8 (lympho T CD8), có nhiệm vụ
nhận biết và tiêu diệt những tế bào đã bị nhiễm và hoạt hoá tế bào thực bào
tiêu diệt tác nhân gây bệnh [1], [20],[82] .
Miễn dịch tế bào đóng vai trò quyết định trong đáp ứng miễn dịch bảo
vệ cơ thể chống lại VK lao, các loại tế bào tham gia vào quá trình miễn dịch
rất phong phú [27], [54], điển hình là một số loại sau:
- Quần thể tế bào lympho T:
Dựa trên cấu trúc thụ thể bề mặt của tế bào lympho T, quần thể tế bào
lympho T được chia ra các nhóm T CD1,3,4,8, v.v. Tế bào lympho T có 2 chức
6
năng chính là sản xuất ra các cytokin để hoạt hoá đại thực bào và diệt các đại
thực bào kém hoạt hoá chứa VK lao. Sự thay đổi các đặc điểm chức năng của
tế bào lympho T trước và sau điều trị đã đưa ra giả thiết về dấu ấn miễn dịch
mới của tình trạng lao lâm sàng và khối lượng lớn kháng nguyên VK lao, đây
cũng là vấn đề cần được đánh giá ở những nghiên cứu rộng hơn trong tương
lai [82].
* Tế bào lympho T CD1: một số tác giả cho rằng T-CD1 nhận dạng
kháng nguyên lipid và hoạt hoá tiêu diệt các đại thực bào chứa VK lao.
* Tế bào lympho T CD4: có vai trò chủ chốt trong đáp ứng miễn dịch
bảo vệ chống VK lao của cơ thể. T CD4 có 2 chức năng chính là nhận dạng các
kháng nguyên ngoại bào từ phân tử MHC lớp II, tiết ra IFN-γ và các cytokin
khác hoạt hoá đại thực bào để thực bào VK lao, khởi xướng đáp ứng miễn dịch
tế bào. Đại thực bào thiếu thụ thể của CD4 sẽ giảm khả năng di chuyển, giảm
tổng hợp và tiết ra, cụ thể do Th1 tiết ra khi Th1 được hoạt hoá và có vai trò
hoạt hoá đại thực bào [3], [10], [82]. Chức năng ban đầu của IL-2 là hỗ trợ
phát triển tế bào T đặc hiệu kháng nguyên và tạo trí nhớ định hình. Ngoài ra,
IL-2 có khả năng tác động đến tế bào giết tự nhiên (NK), tế bào B và chức
năng thực bào. Như vậy, IL-2 gia tăng hoạt tính diệt khuẩn của đại thực bào,
tăng khả năng tạo cytokin và bộc lộ thụ thể của cytokin trên bề mặt tế bào.
Trong thực tế, IL-2 cần thiết cho quá trình phòng vệ của cơ thể chống nhiễm
khuẩn tế bào. Mặc dù, IL-2 kích thích chức năng miễn dịch tế bào nhưng
không đặc hiệu riêng biệt cho kiểu đáp ứng týp 1. Tế bào T tiết IL-2 và tế bào
Th2 xuất hiện ngay sau khi có kháng nguyên kích thích và biệt hoá thành dòng
tế bào týp 1 hoặc týp 2 dưới tác động của cytokin khác. IL-2 kích thích TCD4
tiết IFN- ở giai đoạn khởi đầu và trình diện, nhưng chỉ tác động tiết IL-4
trong giai đoạn khởi đầu. Tóm lại, IL-2 đóng vai trò trung tâm trong quá trình
8
miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể, tạo ra đáp ứng miễn dịch trong bệnh
lao do khởi động một “kho chứa” tế bào lympho T đặc hiệu.
* IL-4: do Th2 tiết ra, làm giảm đáp ứng của Th1, nhưng không tăng
đáp ứng của Th2. IL-4 tăng cường IFN- tới u hạt.
* IL-6: do tế bào lympho B tiết ra, tham gia giảm phản ứng viêm, tạo
máu, biệt hoá tế bào lympho T, ngăn chặn đáp ứng của tế bào lympho T [3],
[32].
* IL-8: do tế bào đơn nhân, đại thực bào, tế bào biểu mô phế quản, tế
bào xơ và cả tế bào lympho T tiết ra, có vai trò liên kết tổ chức tạo thành hang
lao, làm cho tổn thương ổn định, hoá hướng động quan trọng, có khả năng
chiêu mộ bạch cầu đa nhân, tế bào lympho và bạch cầu ưa bazơ.
* IL-10: có tác dụng chống viêm, được tiết từ đại thực bào và tế bào
lympho T khác, có tác dụng ức chế tiết IL-12, do đó làm giảm tiết IFN-. IL-
10 trực tiếp ức chế đáp ứng của TCD4 và chức năng của tế bào trình diện
hình thành đáp ứng viêm, TNF-α thúc đẩy huỷ hoại tế bào ở phổi và các vùng
khác qua cơ chế chết theo chương trình (apoptosis). TNF-α có khả năng kiểm
soát nhiễm VK lao [3], [8],[10], [31].
A. Đại thực bào tiếp nhận TNF-α: chiêu mộ
các tế bào.
B. LymphoT tiếp nhận TNF-α từ các đại
thực bào: tăng cường diệt VK.
C. Đại thực bào và lymphoT tiếp nhận TNF-
α, IFN- điều hòa phản ứng viêm quá mức
(tự chết của lymphoT)
10
D. Điều trị thuốc kháng TNF-α: tổ chức hạt bị phá hủy, VK lan tràn.
Hình 1.1. Vai trò của TNF-α trong nhiễm trùng lao (S. Ehles, 2005)
* TGF-β (Transforming Growth Factor-β): TGF-β tồn tại trong u hạt,
do tế bào đơn nhân tiết ra. TGF- β hỗ trợ chống viêm, do có khả năng ức chế
đại thực bào tổng hợp ROI, RNI, ức chế tăng sinh lympho T, ảnh hưởng đến
chức năng của tế bào NK, điều tiết giảm giải phóng IFN- , TNF-α và IL-1
(β). TGF-β có thể là yếu tố tham gia ức chế đáp ứng miễn dịch của cơ thể [1],
[8], [10], [32].
*Miễn dịch dịch thể:
Miễn dịch dịch thể có vai trò thứ yếu trong hệ thống miễn dịch bảo vệ
cơ thể chống lại VK lao. Kháng thể dịch thể không trực tiếp tiêu diệt được VK
lao, nhưng có tính độc với VK lao, thúc đẩy quá trình thực bào.
Trong mối tương tác giữa VK và tế bào, bên cạnh quần thể lympho T
còn có sự tham gia của tế bào lympho B thông qua tế bào Th và từ đó sản sinh
ra globulin miễn dịch gồm: IgG, IgM, IgA, IgD, IgE [8], [10], [32].
1.2.3. Vi khuẩn lao đề kháng với hệ miễn dịch của cơ thể Sơ đồ 1.1.Trình diện kháng nguyên của đại thực bào và quá trình khởi động
đáp ứng miễn dịch tế bào và dịch thể trong bệnh lao [8], [32]. 1.2.4. Sự di tản tế bào và sự tạo u hạt
Đáp ứng viêm của vật chủ thành công đối với vi khuẩn đòi hỏi sự phối
hợp chính xác của các thành phần của hệ thống miễn dịch. Bước đầu tiên là sự
tụ tập của các tế bào miễn dịch trong lòng mạch ra đến tiêu điểm nhiễm trùng.
Khả năng này được kiểm soát với các yếu tố dính và các chemokine [1], [32].
-U hạt: Tế bào TCD4
+
chiếm chủ yếu ở lớp bao quanh u hạt và kể cá tế
bào TCD8
+
. U hạt trưởng thành ở người, tế bào tua được phát hiện ở giữa các
tế bào dạng biểu mô. Hiện tượng apoptosis chủ yếu ở tế bào dạng biểu mô.
Tăng sinh vi khuẩn xảy ra tại chổ có cả tế bào xuất xứ từ đại thực bào và tế bào
lympho. Sự dính tế bào của các dòng tế bào tại u hạt thực hiện qua trung gian
của các yếu tố dính, ít nhất bởi yếu tố ICAM-1, một phân tử bề mặt được gia
tăng bởi vi khuẩn hoặc LAM [83]. Các tế bào dạng biểu mô biệt hóa sản xuất
13
các protein nền ngoại bào (osteopontin, fibronectin), hoạt động như cộng sự
neo tế bào
13
ien
bào T hoạt hóa. Chuột không có CCR2-/- cực kỳ nhạy cảm với vi khuẩn lao và
14
thiếu hụt sự tập trung đại thực bào tại phổi. Các tài liệu gần đây chứng minh
TNF-α có thể điều biến tăng biểu lộ MIP-α, MIP1-β, MIP1, MIP2, CINC
(cytokine –induced neutrophil chemoattractant) và RANTES, và nó có thể ảnh
hưởng sự tập trung của BCTT, tế bào lympho, và tế bào đơn nhân/đại thực bào
[1], [10], [32], [82]
RANTES, MCP-1, MIP1-α, và MIP-β tăng sau nhiễm vi khuẩn in vitro
ở các đại thực bào phế nang. Ở người CCR5, thụ thể của RANTES, MIP1-α,
và MIP-β tăng trên đại thực bào phế nang ở bệnh nhân lao phổi [3], [10], [82].
1.3. CƠ CHẾ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN
1.3.1. Kháng nguyên ESAT-6 (Early Secretory Antigenic Target 6 KDa),
CFP-10 (Culture Filtrate Protein 10) và TB 7.7
Lao là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi khuẩn M. tuberculosis,
thường lây lan cho vật chủ mới qua trung gian các giọt bắn phần tử mang mầm
bệnh trong không khí từ bệnh nhân lao phổi (khạc ra vi khuẩn). Một cá nhân
mới bị nhiễm bệnh có thể phát triển thành bệnh lao trong vòng vài tuần, vài
tháng hoặc lâu hơn, nhưng đa số người nhiễm bệnh vẫn chưa hoặc không biểu
hiện triệu chứng. Phản ứng Tuberculin thường biểu hiện dương tính ít nhất sau
2 đến 10 tuần sau khi nhiễm vi khuẩn lao hoặc sau chủng BCG. Tuy nhiên,
một số cá thể, bao gồm cả những người có đề kháng hoặc không đề kháng
miễn dịch với Tuberculin có thể cho kết quả âm tính. Ngược lại, một số cá thể
không nhiễm lao hoặc nhiễm Mycobacterium khác vẫn cho kết quả dương tính
với Tuberculin [45], [73].
Nhiễm lao (hay bệnh lao tiềm ẩn) phải được phân biệt với mắc bệnh lao
thật sự. Mục đích chính của chẩn đoán nhiễm lao là để chẩn đoán sớm và xem
xét điều trị phòng ngừa bệnh lao.
Phân tích so sánh hệ gen Mycobacterium cho phép xác định vùng gen
RD1 mã hóa cho các protein kháng nguyên, chỉ có ở M. tuberculosis nhưng
16
Năm 2005, Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Bệnh tật Hoa kỳ (CDC)
công bố hướng dẫn sử dụng bộ hoá chất QuantiFERON-Gold (QFT-G) (Cellestis
Limited, Carnegie, Victoria, Australia) nhằm chẩn đoán nhiễm lao tiềm ẩn và
bệnh lao hoạt động thông qua định lượng IFN-γ ở tế bào đơn nhân sau khi kích
thích bởi các peptid tổng hợp đặc hiệu cho vi khuẩn lao ESAT-6 và CFP-
10. Thử nghiệm này đã được phê duyệt bởi FDA [45], [73].
Các xét nghiệm QuantiFERON-TB-Gold in tube (QFT-GIT) là thử
nghiệm sử dụng thêm kháng nguyên TB 7.7 qua nhiều nghiên cứu đã chứng
minh tăng độ nhạy lên 89% và độ đặc hiệu lên 99% [45].
Để được hỗ trợ trong việc phát triển các khuyến cáo liên quan đến sử
dụng các kỹ thuật IGRA, CDC đã triệu tập một nhóm các chuyên gia để xem
xét các bằng chứng khoa học và cung cấp ý kiến về việc sử dụng các thử
nghiệm IGRA. Kết quả của nghiên cứu kiểm tra độ nhạy, đặc hiệu là tốt. Mặc
dù số liệu về tính chính xác của IGRA và khả năng của chúng để dự đoán bệnh
lao hoạt động đến nay vẫn tiếp tục nghiên cứu trong các quần thể khác nhau,
nhưng chưa có khiếm khuyết lớn nào đã được báo cáo [73].
Tóm lại, TST và các IGRA (QFT-G, QFT-T, GIT và T-Spot) có thể
được sử dụng như hỗ trợ trong chẩn đoán nhiễm trùng lao theo FDA phê
chuẩn. Đó cũng là cơ sở cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu tại Việt Nam nhằm
đóng góp những kết quả mới được thực hiện tại tỉnh Bình Định [73].
1.4. TÌNH HÌNH BỆNH LAO
1.4.1.Tình hình bệnh lao trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG – WHO report 2011 - Global
Tuberculosis Control), khoảng một phần ba dân số thế giới đã nhiễm lao. Bệnh
lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng
với khoảng 1,2 đến 1,5 triệu người tử vong mỗi năm. Tình hình lao kháng
thuốc đang xảy ra ở hầu hết các quốc gia.
17
Phân thứ tự gánh nặng bệnh lao toàn cầu
12
Tỷ lệ tử vong do lao (loại trừ HIV) / 100.000 dân
34
Tỷ lệ lao hiện mắc các thể / 100.000 dân
334
Tỷ lệ lao mới mắc các thể / 100.000 dân
199
Tỷ lệ lao / HIV dương tính mới mắc
8,6
Tỷ lệ phát hiện, các thể (%)
54
Tỷ lệ lao kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới (%)
2,7
Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân điều trị lại (%)
19
% bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV
43 %
% HIV dương tính trong số BN lao được xét nghiệm HIV
8 %
* Nguồn: Global tuberculosis control 2011 – WHO [ 98],[99 ].
Theo ước tính của TCYTTG, tỷ lệ tử vong do lao là 34/ 100.000 dân,
khoảng 29.000 người tử vong do lao. Tỷ lệ lao hiện mắc các thể là
334/100.000 dân, khoảng 290.000 bệnh nhân. Tỷ lệ lao mới mắc các thể hàng
năm là 199/100.000 dân, khoảng 180.000 bệnh nhân [ 98].
Năm 2010, có 42.356 bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV, chiếm tỷ lệ
43% tổng số bệnh nhân lao. Tỷ lệ HIV dương tính trong số bệnh nhân lao xét
nghiệm là 8%, thấp hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV ước tính trong số bệnh nhân
lao tại báo cáo năm 2010 của TCYTTG (17%). Đồng nhiễm lao/HIV không
chỉ làm tăng số bệnh nhân lao, mà còn làm giảm hiệu quả điều trị của
hình đa dạng bao gồm: miền núi, đồng bằng, cồn cát ven biển, và hải đảo.
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi tỉnh Bình Định là bệnh viện chuyên khoa
tuyến tỉnh, thực hiện chức năng khám, chữa bệnh lao và các bệnh phổi đồng
thời thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Phòng chống Bệnh lao trên địa
bàn tỉnh.
20
Năm 2010, công tác phòng chống lao trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm
của chính quyền các cấp, cộng đồng, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ và đặc biệt
là sự đóng góp tích cực của hệ thống y tế tư trong hoạt động phát hiện bệnh
nhân lao [2].
1.4.3.2. Tình hình bệnh lao tại tỉnh Bình Định
Bảng 1.2. Tình hình bệnh lao tại Bình Định từ năm 2006 – 2010 [2]
N¨m
Lao
phæi
AFB(+)
míi
Lao phæi
AFB(+) t¸i
phát, thÊt
b¹i điều trÞ
Lao phæi
AFB(-)
míi
Lao
ngoµi
phæi
Kh¸c
Tổng
943
152
481
353
86
2.015
Tæng số
5.317
640
2.118
1.613
115
9.803
Bảng 1.3. Kết quả thực hiện năm 2011[2]
Nội dung
Đơn vị
Kế
hoạch
2011
Thực
hiện
2011
1.Quận huyện có CTCL
%
100
100
2. Xã có CTCL
%
100
100
Huyện, Thành phố
Chỉ tiêu BN lao
các thể 2011
Thực hiện
Đạt (%)
TP. Quy Nhơn
393
417
106
An Lão
27
20
74
Hoài Ân
71
75
106
Hoài Nhơn
200
231
116
Phù Mỹ
206
213
103
Phù Cát
206
255
124
Vĩnh Thạnh
Tỷ lệ khỏi (%)
Quy Nhơn
95
An Lão
94
Hoài Ân
93
Hoài Nhơn
97
Phù Mỹ
87
Phù Cát
95
Vĩnh Thạnh
88
Tây Sơn
56
Vân Canh
100
An Nhơn
98
Tuy Phước
100
BV Lao
35
Tổng
92
22
1.5.2. Các nghiên cứu ngoài nước
Những nghiên cứu về miễn dịch bệnh lao trong những năm gần đây cũng
chú tâm nhiều đến các chẩn đoán bệnh lao tiềm ẩn. Simsek H năm 2010 tại
Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu so sánh thử nghiệm Tuberculin và T-SPOT- TB để
chẩn đoán bệnh lao tiềm ẩn và bệnh lao hoạt tính, nghiên cứu trên 136 đối
tượng chia ba nhóm khác nhau (47 bệnh nhân lao phổi hoạt tính, 47 người
khỏe mạnh không tiếp xúc bệnh lao và 42 nhân viên y tế có tiền sử tiếp xúc
gần với bệnh nhân lao). Kết quả cho thấy độ nhạy của kỹ thuật T- SPOT-TB là
83,0% và giá trị dự báo âm tính là 82,6% ở bệnh lao đang hoạt động; các tỷ lệ
này cao hơn có ý nghĩa so với thử nghiệm Mantoux là 38,3% và 60,8%, tương
ứng. Độ đặc hiệu của T-SPOT.TB là 80,9% thấp hơn so với thử nghiệm
Mantoux là 95,7% [89].
Khả năng của T-SPOT-TB và thử nghiệm Tuberculin để chẩn đoán bệnh
lao tiềm ẩn là như nhau 54,8%; Nhưng trong chẩn đoán lao hoạt động T-
SPOT-TB trội hơn về độ nhạy 83,0%. Thử nghiệm T- SPOT-TB được khuyến
cáo là cần thiết sử dụng trong các nghiên cứu thuần tập để chẩn đoán bệnh lao
tiềm ẩn [89].
Theo Kumar, năm 2010 tại Ấn Đô, sử dụng xét nghiệm miễn dịch gắn
enzym (ELISA) đánh giá khả năng chẩn đoán bệnh lao khi dùng phức hợp
kháng nguyên 30/32 kDa (transferase mycolyl-Ag85) và protein đặc hiệu
ESAT-6 và CFP-10 . Kết quả cho thấy độ nhạy cao 84,1% với phức hợp Ag85,
so với ESAT-6 là 64,9% và CFP-10 là 66%, với độ đặc hiệu tương tự như hầu
hết (Ag85: 85,2%, ESAT-6: 88,9%, CFP-10: 85,2%). Như vậy việc sử dụng
phức hợp kháng nguyên Ag85 cùng với ESAT-6 và CFP-10 có triển vọng
trong việc giảm thiểu sự không đồng nhất trong trường hợp lao hoạt động
[63].
Tại Nhật Bản 2010, tác giả Guio và Ashino nghiên cứu dựa trên thử
nghiệm ELISpot với kháng nguyên glycolipid vi khuẩn lao. Với 17 mẫu nuôi