Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đánh giá thiệt hại kinh tế do ngập lụt ở Hà
Nội năm 2008
LỜI NÓI ĐẦU
- Lý do chọn đề tài, tên đề tài
Từ trước đến nay, nếu lũ lụt ở nông thôn vốn không xa lạ gì với người
Việt Nam, thì ngập lụt ở đô thị lại là hiện tượng mới, xuất hiện cùng với sự
phình to nhanh chóng của các đô thị trong hai chục năm qua. Giới nghiên cứu
sẽ còn mổ xẻ những sai lầm và thiếu sót trong quy hoạch đô thị, dự báo khí
tượng thuỷ văn, kế hoạch trị thuỷ cho sông Hồng. Nhìn từ góc độ chống lụt,
đô thị có ba đặc điểm cơ bản: là nơi tập trung dân cư phi nông nghiệp, có nhà
cửa kiên cố và mặt đất được cứng hoá phần lớn. Ba đặc điểm này dẫn đến các
đặc thù của úng ngập đô thị so với lũ lụt nông thôn, đòi hỏi các ưu tiên và giải
pháp rất khác biệt. Trong trận mưa lịch sử những tháng 10 và 11 năm 2008,
tình trạng ngập lụt đã diễn ra gây thiệt hại to lớn cho thành phố Hà Nội, gióng
một hồi chuông cảnh báo cho sự tác động ngập lụt tới khu vực đô thị. Trong
đề tài “ Đánh giá thiệt hại kinh tế do ngập lụt ở Hà Nội năm 2008 “ , tôi mong
rằng sẽ giải được bài toán tính các tổn thất mà thành phố phải gánh chịu.
- Mục tiêu nghiên cứu
Mưa ngập năm 2008 không chỉ gây ra cho Hà Nội những thiệt hại kinh
tế có thể tính toán dễ dàng với các diện tích cây cối, hoa màu, thủy sản nuôi
trồng bị mất trắng, số vật nuôi bị chết, cơ sở hạ tầng bị phá hỏng, chi phí
khám chữa bệnh mà còn gây ra những tác động khó xác định như các thiệt
hại sản phẩm vì người dân phải nghỉ làm do ngập, nghỉ làm do khám chữa
bệnh, nghỉ làm do chăm sóc người nhà mắc bệnh, chi phí môi trường Tính
toán con số thiệt hại đầy đủ chính là mục tiêu của đề tài nhằm đưa ra được cái
nhìn toàn diện về những tổn thất của thành phố trong trận ngập này.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Page 1 of 71
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Kinh tế - Quản lý
Tài nguyên Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng như
các cán bộ tại Trung tâm Tư vấn khí tượng Thủy văn và Môi trường.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn của mình là Ths.
Đinh Đức Trường. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn, thầy đã
hướng dẫn tận tình cũng như có những đóng góp kịp thời giúp tôi hoàn thiện
đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ và
động viên trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Hà Nôi, ngày 25 tháng 4 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Page 3 of 71
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Page 4 of 71
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI
I – GIỚI THIỆU VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm ngập lụt đô thị
* Khái niệm ngập lụt:
Từ trước đến nay vấn đề thiên tai như ngập lụt luôn là bài toán hóc búa
với các nhà quản lý. Lụt là hiện tượng nước tràn ngập trên một vùng đất.
Người ta cũng dùng cụm từ đại hống thủy để mô tả những trận lụt lớn do
nước gây ngập sâu trên một diện tích rộng lớn. Nếu hiểu theo nguyên nhân lụt
là do "dòng nước" thì hiện tượng ngập nước do thủy triều cũng có thể được
cho là lụt. Lụt có thể do nước từ các sông, hồ tràn ra khu vực lân cận khi
lượng nước vượt quá sức chứa của chúng hay do nước từ những dòng sông
1.2. Ngập lụt đô thị ở Việt Nam
Quá trình đô thị hóa của Việt Nam đang hình thành những “đại đô thị”,
đặt chính quyền đối diện với rất nhiều vấn đề phát sinh khó giải quyết: tắc
nghẽn giao thông, ngập nước nội thành, thiếu nhà ở, ô nhiễm khói bụi, quá tải
dân số Việc phát triển đô thị mà không tính toán giải quyết triệt để các vấn
đề phát sinh thì dù có mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nhưng sẽ là “tăng
trưởng âm” nếu tính toán đến những giá trị về văn hóa, tinh thần, môi trường
đời sống bị mất đi mà không thể khắc phục được. Trong những hậu quả của
quá trình tăng trưởng kinh tế thì ngập lụt trong các khu vực đô thị ở Việt Nam
cũng đang dần gia tăng.
Page 6 of 71
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các thành phố, thị xã trong cả nước và khu vực ở Việt Nam hầu hết
nằm ở trong lưu vực các con sông lớn, có mạng lưới sông rạch chằng chịt.
Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, sự bùng
nổ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và đặc biệt là sự gia tăng dân số cơ
học đã làm cho khối lượng chất thải, nước thải vào môi trường ngày một
nhiều hơn. Do mặt đất đã bị cứng hoá do xây đường sá, nhà cửa, khả năng
thoát úng tự nhiên của đất trong các đô thị thấp hơn hẳn so với nông thôn. Các
đô thị với bề mặt đất bị cứng hoá từ 75% đến 100% chỉ có khả năng tự thoát
bằng một phần năm so với đất tự nhiên. Hơn một nửa lượng nước mưa sẽ biến
thành nước chảy tràn. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn
ngập nước đô thị ngày càng trở nên đáng báo động.
Tuy các khu vực đô thị đã được triển khai nhiều giải pháp khắc phục
nhưng cũng mới chỉ mang tính cục bộ do chưa nắm vững được bản chất vật lý
của khu vực bị ngập nước cũng như tính mất cân bằng của lưu vực trong quá
trình đô thị hóa. Những nhà cao tầng được xây mà lại không không xây dựng
hồ điều hòa, không căn cứ trên lưu vực trên khoa học lưu vực và giải quyết
những vấn đề đô thị ngập triều
giờ cũng phải dẫn từ cao độ chuẩn với độ dốc từ 5-7%. Đáng tiếc là, trong
kiểm tra quy hoạch những năm gần đây, thành phố Hà Nội không xác định
được một cao độ chuẩn để từ đó xác định ra hướng thoát nước tự nhiên. Trong
điều kiện như vậy, việc tiêu thoát nước chỉ có thể trông chờ vào giải pháp
thoát nước cưỡng bức. Nhưng khi thiết kế xây dựng các trạm bơm lại quá
thấp, khi nước lên, trạm cũng bị ngập, không thể hoạt động được. Quy hoạch
thoát nước Hà Nội hiện là một bài toán lớn, phức tạp bởi thiếu tầm nhìn xa.
Do vậy, hệ thống tiêu, thoát nước không được cải thiện bao nhiêu dù được
đầu tư lớn.
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng cho rằng, trận lũ lịch sử của Hà
Nội nằm ngoài tầm kiểm soát của các công trình xả lũ. Với tốc độ đô thị hóa
nhanh, công trình dân sinh nhiều nên gây ách tắc, hạn chế dòng chảy. Thực tế
ở Hà Nội trước kia có 150 hồ, cho tới năm 1990 thì Hà Nội vẫn còn có 40 hồ.
Thế nhưng, đến nay 20 hồ đã biến mất, 150ha mặt nước đã bị lấp cho các dự
án phân lô bán nền. Các nhà khoa học cảnh báo do bê tông hóa không khoa
học, các hồ tại Hà Nội đang mất đi chức năng điều tiết nước mỗi khi có mưa
lớn. Hiện chưa có một bài toán thoát nước thay thế nào khi cho lấp mặt hồ
làm nhà và chỉ cần một cơn mưa to là cuộc sống của hàng triệu người dân trở
Page 8 of 71
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nên bế tắc. Có thể quyền lợi của một số doanh nghiệp, của những người được
cấp đất và rất có thể kể cả quyền lợi của những người ký duyệt đã được tính
đến khi cho lấp 150ha mặt hồ này nhưng quyền lợi của hàng triệu người dân
thủ đô rõ ràng là đã chưa được tính.
Một nguyên nhân nữa sẽ dẫn đến ngập lụt là sự hạ thấp bề mặt địa hình
Hà Nội. Cụ thể là nền đất bị sụt lún do các công trình, cụm công trình xây
dựng do việc khai thác nước ngầm quá mức, sụt lún do vận động của vỏ Trái
đất (sụt lún kiến tạo). Hà Nội hiện có một dải đất yếu tập trung ở khu vực
đông nam và nam Hà Nội cũ. Khu vực này rất dễ bị sụt lún làm cốt nền đất
lại tràn về. Theo dự án thoát nước của Hà Nội thì hiện nước mới chỉ được dồn
xuống hồ Yên Sở thông qua sông Tô Lịch và các hệ thống kênh mương khác
rồi mới bơm ra sông Hồng. Hoặc dùng đập tràn để tràn nước ra sông Nhuệ.
Cũng trong quy hoạch thoát nước cũ thì sông Nhuệ ở phía Tây thành phố,
nằm ở vùng ngoại vi. Nhưng nay, khi Hà Nội đã được mở rộng thì sông Nhuệ
lại nằm ở giữa, và khu đô thị ở hai bên sông Nhuệ đều đang phát triển quá
nhanh khiến sông Nhuệ bị quá tải. Quy hoạch thoát nước đã không còn phù
hợp nữa. Cho
dù hoàn thành toàn bộ dự án, năng lực thoát nước của Hà Nội
cũng chỉ dừng lại ở trận mưa 310 mm trong 2 ngày. Trong khi trận mưa năm
2008 vừa rồi, riêng nội thành mưa trung bình trên 500 mm. Trong khu vực Hà
Nội cũng liên tiếp đón nhận hàng loạt trận mưa lớn, cảnh ngập lụt cục bộ diễn
ra khắp nơi.
Với trận ngập lụt kỷ lục tại Hà Nội và nước triều dâng lịch sử tại
TP.HCM thì yêu cầu giải bài toán thoát nước đô thị đã trở nên thực sự cấp
thiết. Hiện những người lập quy hoạch đang bắt tay tìm ra hướng giải quyết
hiệu quả nhất bắt đầu từ công tác quy hoạch, định hướng phát triển cũng như
tất cả vấn đề giải quyết hệ thống thoát nước, hệ thống căn bằng sinh thái để
tạo sự phát triển bền vững cho đô thị. Các tham luận của các nhà khoa học
Việt Nam và các chuyên gia đến từ Trung Quốc Thái Lan, Hàn Quốc,
Singapore, Bỉ, Anh Quốc đã đưa ra những giải pháp tối ưu, thiết lập hệ cân
bằng mới về thoát nước đô thị của lưu vực kết hợp nạo vét kênh rạch đối với
vùng cao. Việc giải quyết vấn đề ngập lụt đô thị không đơn giản chỉ có việc
Page 10 of 71
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thoát nước mà đây thực sự là một bài toán phức tạp về kinh tế, kỹ thuật và xã
hội. Để làm tốt vấn đề này hướng tới sự phát triển bền vững thì cần có một
cách nhìn toàn diện gắn với các giải pháp đồng bộ và ý thức trách nhiệm của
các ngành chức năng.
- Thành phố Curitiba (Brazil) đã công khai thông tin, bản đồ về vùng có khả
năng bị ngập lụt, khiến giá đất tại những nơi đó giảm xuống. Khi đó, chính
quyền dễ dàng mua lại đất đai để làm công trình công cộng và du lịch. Vào
mùa khô, công viên là nơi nghỉ ngơi, mùa mưa những công viên này với nền
đất tự nhiên sẽ là nơi chứa và thẩm thấu một lượng nước đáng kể. Khi công
viên này hoàn thành, vùng có nguy cơ ngập không còn ngập nữa và đất đai
xung quanh sẽ tăng giá nhờ cảnh quan đẹp.
- Ở các nước, cùng với bản đồ sử dụng đất thì bản đồ vùng có nguy cơ ngập
lụt là một trong hai bản đồ quan trọng được công bố chi tiết theo quy định của
pháp luật. Khu vực có khả năng bị ngập lụt chỉ có thể được cải tạo, chỉnh
trang mà không được dùng để phát triển đô thị mới. Liên hệ với Việt Nam,
các bản đồ xác định vùng có nguy cơ ngập lụt chưa được công bố rộng rãi.
Quan điểm cơ bản của các nhà lập quy hoạch trên thế giới đó là ngập
lụt đô thị không phải đơn giản chỉ có việc thoát nước mà thực sự là một bài
Page 12 of 71
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán phức tạp về kinh tế, kỹ thuật và xã hội, đòi hỏi tính chiến lược của nhà
quản lý, tính ứng dụng cao từ các công trình khoa học và sự đồng thuận của
cộng đồng, cùng hướng đến việc phát triển bền vững
II - CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI
Đánh giá kinh tế được xây dựng để tính toán các thiệt hại kinh tế do ô
nhiễm gây ra, có rất nhiều phương pháp khác nhau, nhưng được chia thành
hai loại chính là các phương pháp đánh giá trực tiếp và các phương pháp đánh
giá gián tiếp.
1.5. Đánh giá trực tiếp
Các phương pháp trực tiếp được sử dụng để đánh giá thiệt hại vật chất
hữu hình và các thiệt hại đó thường có giá thị trường, đó là phương pháp thay
đổi năng suất, phương pháp chi phí sức khoẻ, phương pháp chi phí cơ hội,
phương pháp chi phí phòng ngừa, phương pháp chi phí thay thế.
Tất cả các dạng ô nhiễm đều có ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ đặc
biệt là các dạng ô nhiễm không khí và ô nhiễm nước. Do đó đo lường thiệt hại
sức khoẻ từ mức độ ô nhiễm là công việc quan trọng của các nhà kinh tế môi
trường. Nền tảng của công việc đánh giá này là hàm liều lượng – đáp ứng
diễn tả mối quan hệ giữa sức khoẻ con người và quá trình tiếp xúc với chất ô
nhiễm môi trường. Có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe, hoặc người ta
phải đưa vào tất cả các biến số khác hoặc phải chịu rủi ro tính toán tác động
của ô nhiễm trong khi thiệt hại sức khỏe thực sự bị các biến số khác tác động.
Điều này yêu cầu một số lượng lớn các dữ liệu chính xác liên quan đến các
tác động sức khỏe cũng như các biến số tác động khác. Một số số liệu như
chất lượng nước hay không khí, thống kê về tử vong…có thể tìm thấy trong
các tài liệu thống kê nhưng số liệu thường rất tổng quát , khó đem lại kết quả
chính xác. Sau khi nghiên cứu hàm liều lượng - đáp ứng, công việc chính là
tính toán cá giá trị có ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân.
Hậu quả về sức khỏe được chia làm 2 nhóm: Bệnh tật và tử vong.
* Chi phí bệnh tật bao gồm sự tính toán các chi phí chữa bệnh, chi phí nghỉ
làm hay mất thời gian làm việc và chi phí người thân chăm sóc người bệnh.
- Các chi phí để điều trị khỏi bệnh :
Page 14 of 71
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
C
1
= N
i
x T
i
Trong đó :
C
1
i
: Số ngày dưỡng bệnh ( không nghỉ ) của một người bệnh
K
i
: Khả năng lao động bị giảm của một bệnh nhân mắc bệnh trong thời gian
dưỡng bệnh
+ Thiệt hại sản phẩm do người thân nghỉ việc chăm sóc bệnh nhân
C
3
= N
i
x W x V
i
N
i
: số người bệnh (giả định mỗi bệnh nhân chỉ có một người thân chăm sóc )
W : tiền lương trung bình một ngày
V
i
: Số ngày nghỉ để trông nom người bệnh
* Chi phí tử vong có thể được đánh giá bằng cách xem xét những đóng góp
kinh tế bị mất đi do không còn sống nữa. Trong suốt cuộc đời làm việc, một
người có thể đóng góp vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ mà xã hội
tiêu dùng. Khi người đó chết, quá trình sản xuất dừng lại, do dó chúng ta có
thể tính giá trị sản xuất người đó có thể tạo ra nếu người đó còn sống. Bằng
cách suy luận WTP trung bình trong giảm thiểu rủi ro, ta có thể ước lượng giá
trị một cuộc sống theo tính toán giá trị cuộc sống được thống kê ( VSL )
Theo công thức sau:
VSL = WTP x 1/10000
Page 15 of 71
cũng không phải dễ dàng đòi hỏi phải đầu tư thời gian và kinh phí.
Page 16 of 71
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong trường hợp ngập lụt ở Hà Nội, phương pháp chi phí cơ hội được
sử dụng để tính toán thiệt hại sản phẩm của người mắc các bệnh do các ngập
lụt giảm khả năng làm việc, thiệt hại sản phẩm do người nhà bệnh nhân phải
chăm sóc bệnh nhân và chi phí tử vong cũng tính theo chi phí cơ hội của vòng
đời dự kiến.
1.5.4. Phương pháp chi phí phòng ngừa
Đây là phương pháp tính số tiền mà nhân dân phải bỏ ra hàng năm để
phòng ngừa ô nhiễm. Cá nhân luôn có hành vi bảo vệ như là một chiến lược
chống lại sự suy thoái. Khi mức thoả dụng được duy trì trước và sau hành vi
thì phương pháp này cho chúng ta các thước đo có ích về lợi ích ròng của
hành động bảo vệ. Trong trường hợp môi trường bị suy giảm chất lượng, số
lượng tiêu dùng cũng giảm đi để đảm bảo hộ gia đình không bị giảm phúc lợi.
Giá trị của việc cải thiện chất lượng môi trường có thể đưa ra một cách trực
tiếp từ việc giảm chi phí cho các hoạt động phòng ngừa, nghĩa là giảm chi phí
ngăn ngừa. Nếu chi phí phòng ngừa và chất lượng môi trường là những sản
phẩm thay thế hoàn hảo, người ta có thể liên hệ sự thay đổi trong chi phí
phòng ngừa để ước định chính xác ảnh hưởng của sự thay đổi phúc lợi xã hội
lên các hộ gia đình từ sự thay đổi mức độ ô nhiễm.
1.5.5. Phương pháp chi phí thay thế
Đây là phương pháp đánh giá liên quan đến việc tìm ra chi phí khôi phục
tối đa môi trường đã bị sử dụng tới mức gần giống với một nguyên trạng ban
đầu. Phương pháp này xem xét các chi phí để thay thế hoặc phục hồi những
tài sản môi trường đã bị thiệt hại và dùng các chi phí này để đo lường lợi ích
của việc phục hồi. Giá trị tối đa của lợi ích chính là lượng tối đa mà cộng
đống sẽ chi tiêu để để thay thế cho một cái gì đó. Đây là phương pháp có giá
trị trong những tình huống mà người ta có thể lập luận rằng công việc phục
từng thuộc tính đó cung cấp cho mình. Trong thị trường cạnh tranh, các cá
nhân lựa chọn mức độ tiêu dùng cho từng nhóm hàng mua và qua đó tối đa
hóa thỏa dụng của mình. Hành vi lựa chọn này là hưởng thụ với ý nghĩa tìm
kiếm sự thỏa mãn và do đó các nhà kinh tế dùng thuật ngữ “ đánh giá hưởng
thụ “ để đặt tên cho phương pháp đánh giá giá trị tính chất của một món hàng
từ số tiền mua nó. Đây là một phương pháp sử dụng khá phổ biến trong việc
xác định giá trị của dịch vụ môi trường mà sự hiện diện của nó ảnh hưởng tới
Page 18 of 71
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một số giá trị nào đó trên thị trường. Phương pháp này được dùng trong
những trường hợp giá hàng hoá thị trường có liên hệ đến đặc tính của nó như
thị trường nhà đất.
1.6.2. Phương pháp chi phí du hành (TCM )
Một trong những phương pháp đầu tiên được sử dụng để đánh giá nhu
cầu hưởng thụ cảnh quan môi trường là phương pháp thị trường đại diện, là
phương pháp sử dụng chi phí du hành làm đại diện cho giá. Giả thiết cơ bản là
chất lượng môi trường được thể hiện ở chất lượng các dịch vụ giải trí mà môi
trường cung cấp. Giả thiết trực tiếp ngụ ý rằng:
Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiên
Phương pháp này được sử dụng để xây dựng đường cầu cho các cảnh quan
môi trường và thường áp dụng cho các lượng giá vể giá trên sinh thái tự
nhiên và thiệt hại ô nhiễm liên quan đến các hoạt động du lịch sinh thái. Giả
thiết cơ bản của phương pháp này rất đơn giản đó là khoản chi phí phải tốn để
tham quan một nơi nào đó phần nào cũng phản ánh được giá trị giải trí của
nơi đó. Nhược điểm chính của phương pháp này này là ở chỗ nó cho rằng
WTP cho một vùng tự nhiên được chi phí đi lại đáp ứng đầy đủ. Trong thực tế
chi phí đi lại có thể thể hiện mức WTP tối thiểu thể hiện cái giá mà người ta
phải trả để hưởng thụ cảnh quan môi trường. Mối quan hệ giữa chi phí du
hành với số lần tham quan thể hiện ở một đường cầu dốc xuống điển hình,
giá tài sản môi trường. Từ việc thu thập các thông tin điều tra ta có thể xác
định WTP trung bình cho các hàng hoá môi trường. Nếu hàng hoá chúng ta
đang xem xét là hàng hoá thị trường, chúng ta chỉ cần quan sát hành vi của
con người trên thị trường. Nhưng khi hàng hoá không có thị trường, chẳng
hạn đặc tính chất lượng môi trường, chúng ta chỉ có cách hỏi họ xem họ chọn
như thế nào nếu đặt trong tình huống nhất định, nghĩa là nếu họ đuợc giả định
phải quyết định trong thị trường các đặc tính chất lượng môi trường đó.
1.7. Phương pháp sử dụng đánh giá thiệt hại do ngập lụt
Từ phân tích các phương pháp được dùng để đánh giá hàng hoá môi
trường ta có thể thấy phương pháp đánh giá gián tiếp thích hợp với những
hàng hoá môi trường bao hàm nhiều giá trị phi sử dụng. Đối với lượng giá
các thiệt hại do ô nhiễm gây ra thì phương pháp sử dụng hiệu quả nhất là đánh
giá trực tiếp. Các phương pháp này có ưu điểm là dễ hiểu, được sự thừa nhận
Page 20 of 71
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của xã hội và phần lớn các yếu tố đưa vào định lượng đều có giá thị trường.
Vì vậy, đánh giá thiệt hại ngập lụt kinh tế Hà Nội sẽ sử dụng phương pháp
đánh giá gián tiếp.
Bảng 1.1: Các thiệt hại do ngập lụt ở Hà Nội năm 2008
Khoản
mục
Kí
hiệu
Loại thiệt hại
Phương pháp
đánh giá
Thiệt
hại
trong
Thủy
sản
C
1
Mất giá trị thủy sản nuôi trồng Thay đổi sản lượng
C
2
Mất giá trị thủy sản khai thác Thay đổi sản lượng
C
3
Sửa chữa đầm nuôi thủy hải
sản
Tính toán theo giá thị
trường
Chi
phí
sản
phẩm
D Giảm giờ làm do nghỉ việc Chi phí cơ hội
Cơ
sở
hạ
tầng
E
1
Sửa chữa đường xá Chi phí khắc phục
E
2
Khôi phục thủy lợi Chi phí khắc phục
E
2
Chi phí cơ hội thời gian ốm đau
của người bệnh
Chi phí cơ hội
G
3
Thiệt hại sản phẩm do người
dân phải chăm sóc bệnh nhân
Chi phí cơ hội
G
4
Chi phí tử vong Chi phí cơ hội
Page 22 of 71
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGẬP LỤT TẠI HÀ NỘI NĂM 2008
I – ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TP HÀ NỘI
Bản đồ 1.1: Bản đồ thành phố Hà Nội
Là thủ đô đồng thời cũng là thành phố lớn thứ hai của Việt Nam, Hà Nội là nơi
tập trung rất đông dân cư với dân số là 6,233 triệu người. Ngay từ buổi đầu
của lịch sử Việt Nam, Hà Nội đã trở thành trung tâm chính trị và tôn giáo của
vùng châu thổ sông Hồng trù phú. Năm 1910, vị vua đầu tiên của nhà Lý là
Lý Công Uẩn đã quyết định xây dựng kinh đô mới của vùng đất này với cái
tên Thăng Long. Trong suốt thời gian lịch sử các triều đại, Hà Nội là trung
tâm văn hóa giáo dục, nơi diễn ra các hoạt động giao thương và quan hệ quốc
tế. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển
về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua
Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương
Page 23 of 71
ra khỏi thành phố ở huyện Phú Xuyên tiếp giáp với tỉnh Hưng Yên, đoạn
chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài con sông
này trên đất Việt Nam. Còn sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với tỉnh Phú
Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố, khu vực huyện Ba
Vì. Ngoài hai con sông lớn kể trên, qua địa phận Hà Nội còn có các con sông
khác như sông Đuống, sông Đáy, sông Cầu, sông Cà Lồ và nhiều con sông
nhỏ chảy qua nội thành như sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch… trở thành
những đường tiêu thoát nước thải cho toàn thành phố.
Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các
dòng sông cổ. Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất với
khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khu cảnh đô thị, ngày nay được
bao quanh bởi nhiều khách sạn, biệt thự.
Nằm ở trung tâm lịch sử của thành
phố, hồ Gươm là khu vực sầm uất nhất, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với
Hà Nội. Trong khu vực nội thành có thể kể tới những hồ nổi tiếng khác như
hồ Thiền Quang, hồ Trúc Bạch, hồ Thủ Lệ Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn
nằm trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô,
Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn
Do sự phát triển đô thị quá mạnh mẽ trong hai thập niên 1990 và 2000, phần
lớn các sông hồ Hà Nội hiện nay đều rơi vào tình trạng bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày
đã phải tiếp nhận khoảng 150.000 m³. Tương tự, sông Kim Ngưu mỗi ngày
cũng nhận khoảng 125.000 m³ m. Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày
cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³. Đặc biệt là lượng nước thải
sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao. Các
sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêu thoát nước còn phải nhận
thêm một phần rác thải của người dân và các chất thải công nghiệp Tình
trạng ô nhiễm này cũng một phần do các hoạt động của các làng nghề thủ
công.