LỜI NÓI ĐẦU
Sấy là quá trình công nghệ được sử dụng trong rất nhiều ngành công nông
nghiệp. Trong nông nghiệp sấy là một trong những công đoạn quan trong của công
nghiệp sau thu hoạch. Trong công nghiệp như công nghiệp chế biến nông - hải sản,
công nghiệp chế biến gỗ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng…kỹ thuật sấy
cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong dây truyền sản xuất.
Quá trình sấy không chỉ là quá trình tách nước và hơi nước ra khỏi vật liệu
một cách đơn thuần mà là một quá trình công nghệ. Nó đòi hỏi sau khi sấy vật liệu
phải đảm bảo chất lượng cao, tiêu tốn năng lượng ít và chi phí vận hành thấp.
Chẳng hạn, trong chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, sản phẩm sau khi sấy
không được nứt nẻ cong vênh. Trong chế biến nông - hải sản, sản phẩm sấy phải
đảm bảo duy trì màu sắc, hương vị, các vi lượng. Trong sấy thóc phải đảm bảo thóc
sau khi sấy có tỷ lệ nứt gẫy khi say xát là thấp nhất…
Sấy gỗ là một bộ phận quan trọng của lĩnh vực gia công thuỷ nhiệt gỗ. Ý
nghĩa của quá trình gia công thuỷ nhiệt gỗ trong công nghiệp chế biến gỗ nói riêng
và trong nền kinh tế quốc dân rất to lớn. Hiện nay, với yêu cầu chất lượng ngày
càng cao của thị trường gỗ thì công đoạn sấy càng trở lên quan trọng trong công
nghiệp chế biến gỗ. Một yêu cầu quan trọng đó là sản phẩm gỗ phải đạt được độ ẩm
tiêu chuẩn và đồng đều không cong vênh nứt nẻ. Nhất là đối với thị trường xuất
khẩu gỗ hiện nay thì vấn đề chất lượng càng trở lên quan trọng.
Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, tác giả trong phạm vi đồ án tốt nghiệp đã được
giao đề tài: “ Thiết kế hệ thống sấy buồng để sấy gỗ với năng suất 40m
3
/mẻ”.Nội
dung gồm các phần như sau:
Chương I. Tổng quan về công nghệ và thiết bị sấy nông lâm hải sản
Chương II. Tính toán nhiệt hệ thống sấy buồng để sấy gỗ
Chương III. Tính chọn calorifer và nồi hơi
Chương IV. Bố trí thiết bị tính trở lực và chọn quạt
Chương V. Tính hiệu quả kinh tế kỹ thuật phương án
1
khỏi vật liệu sấy.
− Sấy nhân tạo: Sử dụng tác nhân sấy để thực hiện quá trình tách ẩm, tác
nhân sấy thường được sử dụng là: không khí ẩm, khói lò, hơi nước quá nhiệt…Tuy
nhiên không khí ẩm vẫn là tác nhân sấy được sử dụng phổ biến nhất.
Tác nhân sấy được sử dụng nhằm thực hiện hai nhiệm vụ sau:
− Vận chuyển lượng nhiệt để cung cấp cho vật liệu sấy.
− Vận chuyển lượng ẩm tách ra khỏi vật liệu sấy ra ngoài.
1.1.3. Mục đích của quá trình sấy
Sấy được sử dụng với các mục đích sau đây:
− Chế biến: Có thể dùng phương pháp sấy để sản xuất các mặt hàng ăn liền.
− Vận chuyển: Do khi ta tách bớt ẩm ra khỏi vật liệu thì khối lượng của nó
giảm rất nhiều nên quá trình vận chuyển sẽ đơn giản và giảm chi phí.
− Kéo dài thời gian bảo quản: Lượng nước tự do trong thực phẩm là môi
trường cần thiết cho vi sinh vật và enzyme hoạt động. Do đó sấy làm giảm lượng
ẩm có trong vật liệu nên kéo dài thời gian bảo quản, làm cho chất lượng sản phẩm
sấy ít bị thay đổi trong thời gian bảo quản với điều kiện bảo quản tốt.
3
1.1.4. Những biến đổi cơ bản của quá trình sấy
Trong quá trình sấy xảy ra hai quá trình cơ bản:
− Quá trình trao đổi nhiệt: Vật liệu sấy sẽ nhận nhiệt để tăng nhiệt độ và để
ẩm bay hơi vào môi trường.
− Quá trình trao đổi ẩm: Quá trình này diễn ra do sự chênh lệch giữa độ ẩm
tương đối của vật ẩm và độ ẩm tương đối của môi trường không khí xung quanh.
Động lực của quá trình này là do sự chênh lệch áp suất hơi trên bề mặt của vật liệu
sấy và áp suất riêng phần của hơi nước trong môi trường không khí. Quá trình thải
ẩm diễn ra cho đến khi độ ẩm của vật ẩm bằng độ ẩm cân bằng với môi trường
không khí xung quanh. Do đó, trong quá trình sấy ta không thể sấy đến độ ẩm nhỏ
hơn độ ẩm cân bằng. Độ ẩm của môi trường không khí xung quanh càng nhỏ thì
quá trình sấy càng nhanh và độ ẩm cuối của vật liệu càng thấp. Qua đó có thể kết
luận độ ẩm tương đối của môi trường không khí xung quanh là động lực của quá
- gradien độ ẩm.
Nếu hai dòng ẩm dịch chuyển cùng chiều với nhau sẽ làm thúc đẩy quá trình
thoát ẩm, rút ngắn thời gian sấy. Nếu hai dòng ẩm dịch chuyển ngược chiều nhau sẽ
kìm hãm sự thoát ẩm, kéo dài thời gian sấy.
1.2.2. Quá trình khuếch tán ngoại
Quá trình khuếch tán ngoại là quá trình dịch chuyển ẩm từ lớp bề mặt của vật
liệu sấy vào môi trường không khí xung quanh. Động lực của quá trình này là do sự
chênh phân áp suất hơi trên bề mặt của vật ẩm và phân áp suất hơi trong môi trường
không khí.
Lượng nước bay hơi trong quá trình khuếch tán ngoại thực hiện được dưới
điều kiện áp suất hơi nước trên bề mặt (P
bm
) lớn hơn áp suất riêng phần của hơi
nước trong không khí (P
kk
). Sự chênh lệch đó là
kkbm
PPP −=∆
. Lượng hơi nước bay
hơi tỷ lệ thuận với
P∆
, với bề mặt bay hơi và thời gian làm khô ta có:
τ
dFPPBdW
kkbm
.).( −=
Tốc độ bay hơi nước được biểu diễn như sau:
FPPB
d
dW
Giai đoạn sấy đẳng tốc là giai đoạn ẩm bay hơi ở nhiệt độ không đổi (nhiệt độ
bầu ướt), do sự chênh lệch giữa nhiệt độ của vật liệu sấy và nhiệt độ của tác nhân
sấy không đổi nên tốc độ sấy là không đổi. Do đó, đường cong sấy và đường cong
tốc độ sấy trong giai đoạn này là một đường thẳng. Ẩm tách ra trong giai đoạn này
chủ yếu là ẩm liên kết cơ lý và ẩm liên kết hóa lý.
1.3.3 Giai đoạn sấy giảm tốc
Ở giai đoạn sấy này thì lượng nước còn lại trong nguyên liệu ít và chủ yếu là
nước liên kết có năng lượng liên kết lớn. Vì vậy, việc tách ẩm cũng khó khăn hơn
và cần năng lượng lớn hơn nên đường cong sấy và đường cong tốc độ sấy thường
có dạng cong. Tuy nhiên, hình dạng của đường cong là phụ thuộc vào dạng liên kết
ẩm trong vật liệu và tùy thuộc vào dạng vật liệu sấy. Độ ẩm của vật liệu cuối quá
trình sấy tùy thuộc vào độ ẩm của môi trường không khí xung quanh.
6
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ làm khô
1.4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí
Trong các điều kiện khác không đổi như độ ẩm không khí, tốc độ gió… nâng
cao nhiệt độ của không khí sẽ làm tăng nhanh quá trình làm khô. Như vậy ở nhiệt độ
sấy cao tốc độ làm khô sẽ nhanh hơn. Tuy nhiên, nhiệt độ tăng cao cũng phải trong giới
hạn cho phép, vì nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Mặt khác, sự cân
bằng giữa quá trình khuếch tán nội và khuếch tán ngoại bị phá vỡ, khuếch tán ngoại thì
lớn còn khuếch tán nội thì nhỏ dẫn đến hiện tượng vỏ cứng ảnh hưởng sự di chuyển
của nước từ trong ra. Nhưng nếu nhiệt độ làm khô thấp quá, dưới giới hạn cho phép thì
quá trình làm khô sẽ chậm lại dẫn đến sự thối rữa, hủy hoại thịt cá. Nhiệt độ làm khô
tùy thuộc vào loại nguyên liệu, kết cấu tổ chức cơ thịt, phương pháp chế biến và nhiều
phương pháp khác.
1.4.2. Ảnh hưởng của độ ẩm tương đối không khí
Độ ẩm tương đối của không khí cũng là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến quá
trình làm khô. Độ ẩm tương đối không khí càng lớn quá trình làm khô sẽ càng chậm.
Khi không khí càng khô tức là độ ẩm càng thấp quá trình khuếch tán tăng, ẩm càng dễ
thoát ra hơn. Tuy nhiên, cần chú ý đến hiện tượng mất cân bằng trong quá trình khuếch
hơi B được đặc trưng bằng hệ số K, tức là:
( )
21
PPK
d
dW
−=
τ
Như vậy khi sấy trong chân không có nhiệt độ không đổi, thì tốc độ sấy tỉ lệ
với hiệu số áp suất trên bề mặt nguyên liệu và trong hệ thống sấy. Áp suất P
2
trong máy sấy giảm thì tốc độ sấy sẽ tăng, nhưng quan hệ đó không phải là quan
hệ bậc nhất.
1.4.5. Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu
Nói chung nguyên liệu càng nhỏ, càng mỏng thì tốc độ sấy càng nhanh. Như đã
nói ở trên cả hai quá trình khuếch tán nội và khuếch tán ngoại đều tỉ lệ thuận với diện
tích bề mặt của nguyên liệu. Khi vật có bề mặt hơi nước lớn thì nước trong nguyên liệu
càng dễ bay hơi, vật liệu càng nhanh khô. .
Trong những điều kiện khác như nhau thì tốc độ sấy tỷ lệ thuận với diện tích bề
mặt S, và tỷ lệ nghịch với chiều dày của nguyên liệu σ
στ
S
B
d
dW
=
Trong đó:
S – diện tích bề mặt bay hơi của nguyên liệu.
σ – chiều dày của nguyên liệu.
B – hệ số bay hơi đặc trưng cho bề mặt nguyên liệu.
thường được phân loại theo phương pháp cung cấp nhiệt, bao gồm các thiết bị sau
đây:
Hệ thống sấy đối lưu:
Trong hệ thống sấy này vật liệu sấy sẽ nhận nhiệt đối lưu từ tác nhân sấy là
không khí nóng hoặc khói lò. Đây là loại hệ thống sấy phổ biến hơn cả trong hệ
thống sấy đối lưu người ta phân ra: Hệ thống sấy buồng, hệ thống sấy hầm, hệ
thống sấy thùng quay, hệ thống sấy tháp, hệ thống sấy khí động.
9
Hệ thống sấy tiếp xúc:
Vật liệu sấy nhận nhiệt từ một bề mặt nóng. Như vậy, trong hệ thống sấy tiếp
xúc người ta tạo ra độ chênh lệch phân áp suất nhờ tăng phân áp suất trên bề mặt
vật liệu sấy: hệ thống sấy lô và hệ thống sấy tang
Hệ thống sấy bực xạ:
Vật liệu sấy nhận nhiệt từ một nguồn bức xạ để ẩm dịch chuyển từ bên trong
vật liệu sấy ra bề mặt và khuếch tán vào môi trường. Hệ thống sấy bức xạ người ta
tạo ra sự chênh lệch phân áp suất hơi nước giữa vật liệu sấy và môi trường xung
quanh chỉ bằng cách đốt nóng vật liệu sấy.
Các hệ thống sấy khác: hệ thống sấy bằng dòng điện cao tần và hệ thống sấy dùng
năng lượng điện từ trường
Ưu nhược điểm của phương pháp sấy nóng:
Ưu điểm: Phương pháp sấy nóng phổ biến và thiết bị sấy đa dạng, áp dụng cho
nhiều loại vật liệu sấy, dải nhiệt độ nóng rộng dễ điều chỉnh cho mỗi loại vật liệu
sấy, nguần nhiệt cung cấp phong phú và chi phí đầu tư thiết bị không cao
Nhược điểm: không thích hợp cho một số loại vật liệu, chất lượng sản phẩm
không cao, màu sắc sản phẩm dễ biến đổi và chi phí năng lượng cao
* Trong phương pháp sấy lạnh người ta tạo độ chênh lệch phân áp suất giữa
Phương pháp sấy lạnh:
VLS và TNS bằng cách làm giảm phân áp suất hơi nước trong TNS. Thực
hiện bằng cách làm giảm độ chứa ẩm của không khí nhờ tách ẩm ở dàn lạnh. Khi
đó ẩm dịch chuyển từ bề mặt vào môi trường xung quanh có thể xảy ra ở nhiệt độ
Chế biến, làm sạch
Sấy khô
Bao gói
Bán Bảo quản
ánh nắng mặt trời, mà ta phải chuyển sang dùng thiết bị để sấy đảm bảo chất lượng
cao.
1.6.1.2. Thiết bị sấy.
Nhà máy dùng thiết bị sấy buồng để sấy, hệ thống sấy này được Công Ty
nhập về từ Đan Mạch và được đánh giá là một trong những hệ thống sấy lớn. Hệ
thống sấy buồng này sấy theo mẻ, với năng suất rất cao mỗi mẻ có thể đạt từ 5 ÷
30 tấn/mẻ. Sơ đồ thiết bị sấy dùng để sấy thóc, ngô, đậu tương cho trên hình 1.2.
Hình 1.2. Sơ đồ thiết bị sấy buồng của Công ty Giống cây trồng Thái Bình
Nguyên lý làm việc của hệ thống sấy: Nguyên liệu được đưa vào rải đều
trên ghi buồng. Sau đó tiến hành đốt lò, khí nóng được quạt hút vào buồng. Vật
liệu sấy sẽ nhận nhiệt nóng lên, ẩm được thoát ra ngoài.
1.6.1.3. Các thông số dùng cho sấy của nhà máy.
- Nhiệt độ: ban đầu khi nguyên liệu mới đưa vào thì ta sấy ở chế độ nhiệt
độ thấp khoảng 33
o
C. Vì ban đầu độ ẩm khá cao nên ta không sấy ở nhiệt độ cao,
nếu sấy ở nhiệt độ cao làm cho khuếch tán ngoại kìm hãm khuếch tán nội ẩm
không thoát ra được. Sấy khoảng 3 ÷ 5 giờ thì ta nâng dần nhiệt độ lên đến khoảng
45
o
C thì không nâng nữa.
- Độ ẩm: độ ẩm đưa vào khoảng 70% ÷ 80%, đem sấy đến độ ẩm cuối cùng
để đem bảo quản từ 11%÷11,5%( nếu đưa bán ngay thì độ ẩm vào khoảng 13%).
- Thời gian sấy: tuỳ thuộc từng loại nguyên liệu, độ ẩm đưa vào sẽ có thời
gian sấy khác nhau. Thời gian sấy của thóc, ngô, tương khoảng 20 giờ.
- Năng suất: Nhà máy có chín buồng sấy, tổng năng suất khi hoạt động tối
tỉnh chuyên sản xuất các mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu trực tiếp. Với phương châm
"Buôn có bạn, bán có phường", Công ty đã sớm gia nhập Hiệp hội gỗ và lâm sản
Việt Nam. Hiện Hiệp hội có 1200 doanh nghiệp chuyên chế biến các sản phẩm đồ
gỗ xuất khẩu, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam, Tây Nguyên, trong đó có
200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sản phẩm đã có mặt ở thị trường 120
nước trên thế giới.
Thông qua Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, Công ty đã nắm bắt được
nhiều thông tin chuyên ngành. Theo Bộ Thương mại, sau khi Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam
sẽ được giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như giảm thuế xuất khẩu sản
phẩm vào thị trường các nước, đây là lợi thế lớn cho Công ty trên thị trường.
Trong khi nhu cầu của thị trường thế giới về sản phẩm đồ gỗ hàng năm đều có xu
hướng tăng cao nhưng đồng thời cũng phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm
cùng loại của Trung Quốc, Malaixia là những nước khá phát triển ở lĩnh vực
này.
Bám sát thông tin từ các cuộc đàm phán song phương, đa phương của Việt
Nam với các nước và khu vực, trong mấy năm gần đây, Công ty cổ phần lâm sản
Nam Định đã chủ động đầu tư - hiện đại hoá doanh nghiệp, nhằm tăng nhanh sức
cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu trên thị trường. Từ chỗ ban đầu chỉ có 1 xí
nghiệp nhỏ, với quy mô mặt bằng 1ha tại xã Lộc Hoà (ngoại thành Nam Định),
đến cuối năm 2005, xí nghiệp số 2 tại Khu công nghiệp Hoà Xá đã được đầu tư
13
xây dựng hoàn chỉnh, với thiết bị, công nghệ hiện đại đứng đầu các doanh nghiệp
cùng loại thuộc khu vực các tỉnh đồng bằng trong cả nước (theo đánh giá của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn). Với tổng vốn đầu tư trên 16 tỷ đồng. Đây là
cố gắng rất lớn của tập thể cán bộ công nhân và cổ đông của Công ty sau khi thực
hiện cổ phần hoá doanh nghiệp. Với tổng quy mô mặt bằng rộng trên 33 nghìn m
2
tại khu công nghiệp Hoà Xá, Công ty đã xây dựng, đưa vào hoạt động 3 xưởng
chế biến gỗ, có tổng diện tích trên 10 nghìn m
cao su và thông
1.6.2.2 Quy trình chế biến của nhà máy.
Quy trình chế biến gỗ của nhà máy cho hình 1.3
.
Hình 1.3.
Nhà máy chủ yếu chế biến các loại gỗ thông, gỗ keo, gỗ quế để xuất khẩu
dùng làm các tấm ván nền nhà Các loại gỗ này được thu mua từ các nơi vận
chuyển về nhà máy. Ban đầu gỗ được đưa vào xẻ thành những kích thước đã được
đặt sẵn của khách hàng, tiếp đó gỗ được công nhân xếp thành từng bó sau đó được
đưa vào buồng sấy nhờ máy nâng. Gỗ được sấy trong buồng sấy khi đạt yêu cầu
thì đưa ra chế biến rồi xuất khẩu.
1.6.2.3 Sơ đồ nguyên lý hoặt động của hệ thống sấy của nhà máy.
Nguyên lý làm việc của hệ thống sấy: Gỗ sau khi xẻ được đưa vào buồng
sấy nhờ xe nâng. Sau khi vận chuyển gỗ vào đủ ta tiến hành cấp nhiệt và đồng thời
15
Gỗ tròn được đưa về nhà máy
Xẻ gỗ theo quy cách
Xếp, buộc thành từng kiêu gỗ
Đưa vào buồng sấy
Sấy khô
Chế biến thành sản phẩm
Đưa xuất khẩu
cấp ẩm vào buồng sấy. Nhiệt được lấy từ lò hơi trao đổi nhiệt qua calorifer nhờ
quạt đảo chiều.
Gỗ trước khi đưa vào buồng sấy được công nhân xếp thành các kiêu gỗ.
Sau khi xếp xong buộc lại cẩn thận thì được xe nâng chuyển vào buồng sấy. Sơ đồ
gỗ xếp thành kiêu được thể hiện ở hình 1.5.
Hình 1.5.Bó gỗ đưa vào buồng sấy.
16
Hình 1.4. Sơ đồ nguyên lý hệ thống sấy ở nhà máy.
Nhiệt độ bầu ướt cũng đựơc đo ở sau giàn calorifer đặt ở giữa tường.
• Sấy gỗ thông với kích thước 2000mmX100mmX37mm.
Ở nhà máy thì có hai kiểu lò sấy bán tự động và lò sấy tự động. Thường gỗ
thông được sấy tại lò bán tự động với chế độ sấy như sau:
17
Thời gian sấy (ngày) Ca t
k
,
o
C
t
ư
,
o
C
1
1 50 47
2 60 47
2
1 60 55
2 60 55
3 60 55
3
1 60 55
2 60 55
3 60 55
4
1 60 54
2 60 54
3 60 54
2 72 46
3 73 45
13
1 73 44
2 73 43
3 73 42
14
1 47
2 73 42
18
- Độ ẩm gỗ: độ ẩm đưa vào ban đầu khoảng 60 ÷ 70%, độ ẩm cuối ra lò phải đạt
8÷10%.
• Sấy gỗ keo với kích thước 1000mmX80mmX28mm.
Gỗ keo thường sấy với thời gian rất dài nên thường được đưa vào lò sấy tự động:
Thời gian
sấy (ngày)
Ca t
k
,
o
C
cb
ω
tbgo
ω
Giai đoạn
1
1 34 16 53 1
2 51 16 54 2
2
3 50 15 52 3
10
1 50 15 53 3
2 51 15 51 3
3 51 14 54 3
11
1 51 15 50 3
2 50 13 50 3
3 50 13 50 3
12
1 51 13 50 3
2 50 14 51 3
3 50 13 50 3
13
1 52 12 47 3
2 52 12 46 3
3 52 13 47 3
1 52 13 48 3
19
14 2 52 14 47 3
3 53 13 49 3
15
1 53 14 47 3
2 53 13 46 3
3 53 13 46 3
16
1 53 13 47 3
2 55 13 38 3
3 55 13 36 3
17
3 66 04 16 3
25
1 65 04 16 3
2 66 04 14 3
3 66 04 14 3
26
1 68 03 12 3
2 68 03 11 3
3 68 07 10 4
27
1 66 07 10 4
2 66 06 10 4
3 60 07 10 5
- Độ ẩm gỗ: độ ẩm đưa vào ban đầu khoảng 50 ÷ 60%, độ ẩm cuối ra lò phải đạt
8÷12%
- Thời gian sấy: vì gỗ là loại vật liệu rất dễ nứt, cong vênh do đó thời gian sấy kéo
dài khoảng 25 ngày.
- Kích thước gỗ: tuỳ vào đơn đặt hàng.
20
• Sấy gỗ quế với kích thước 1000X70X25mm.
Gỗ quế cũng sấy thời gian không dài nên được sấy ở lò bán tự động.
Thời gian sấy (ngày) Ca t
k
,
o
C
t
ư
,
o
2 56 48
3 56 47
9
1 66 46
2 68 45
3 70 45
10
1 72 44
2 72 45
3 72 44
11
1 72 43
2 72 43
3 72 43
12
1 72 42
2 72 42
3 72 42
13
1 72 42
2 72 45
3 72 42
21
- Độ ẩm gỗ: độ ẩm đưa vào ban đầu khoảng 60 ÷ 70%, độ ẩm cuối ra lò phải đạt
10%
- Thời gian sấy: vì gỗ là loại vật liệu rất dễ nứt, cong vênh do đó thời gian sấy kéo
dài khoảng 13 ngày.
- Kích thước gỗ: tuỳ vào đơn đặt hàng.
1.7. Tình hình chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam và lý do chọn đề tài.
1.7.1. Vài nét sơ lược về chế biến gỗ xuất khẩu ở Việt nam.
lượng chưa được cao. Hiện chỉ có 10% trong tổng số 2.000 cơ sở chế biến gỗ tại
Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Để giải quyết những khó khăn và duy trì mức tăng trưởng bền vững, khu vực
kinh tế này tìm cách gia tăng sản lượng gỗ nội địa lên tới 22 triệu mét khối tính cho
tới năm 2020 qua các chương trình trồng cây gây rừng để có thể thỏa mãn được
70% toàn thể nhu cầu.
Riêng về hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, ngành chế biến gỗ gặp một số những
khó khăn.Theo lời Tiến sỹ Trần Đức Sinh thì hiện nay mẫu mã sản phẩm đồ gỗ xuất
khẩu sang Hoa Kỳ do chính công ty đặt mua đưa ra, còn những mẫu mã do các
công ty tại Việt Nam sáng tạo vẫn còn rất hạn chế.
1.7.2. Lý do chọn đề tài.
Sau khi tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần Chế biến Lâm sản Xuất khẩu
Nam Định, cùng với tìm hiểu trên mạng, sách báo đã cho thấy hiện nay Công
Nghiệp chế biến gỗ ở nước ta đang phát triển rất mạnh. Số Doanh Nghiệp đầu tư
vào sản xuất và chế biến gỗ ngày càng tăng, các sản phẩm xuất khẩu gỗ hàng năm
đạt khoảng 2 tỉ USD và tăng rất mạnh. Nhưng sản phẩm chế biến gỗ của nước ta
vẫn chưa thể cạnh tranh được với các nước phát triển, mới chỉ có khoảng 20 Doanh
Nghiệp sản xuất gỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Sấy gỗ là một trong nhưng công đoạn rất quan trọng trong chế biến gỗ. Vì gỗ
là loại vật liệu rất dễ nứt, cong vênh đòi hỏi phải sấy với chế độ rất nghiêm ngặt.
Sấy gỗ sẽ quyết định phần lớn chất lượng gỗ của Doanh Nghiệp. Sau khi tìm hiểu
thực tế về công nghiệp chế biến gỗ của nước ta và vai trò sấy gỗ trong chế biến gỗ
tôi đã quyết định chọn đề tài: “Thiết kế hệ thống sấy buồng để sấy gỗ với năng
suất 40 m
3
/mẻ”.
1.8. Tổng quan về công nghệ sấy gỗ.
1.8.1. Khái niệm về sấy gỗ.
23
Sấy gỗ là quá trình khử ẩm từ gỗ bằng cách làm chất ẩm trong gỗ bay hơi.
24
Gỗ bị cong vênh là do các bộ phận của gỗ co rút không đồng đều sinh ra (co
rút không đồng đều theo các chiều thớ khác nhau). Nếu độ cong vênh ở các loại ván
khác nhau có khác nhau, đối với ván tiếp tuyến là nghiêm trọng nhất. Để hạn chế
mức độ cong vênh cần tuân theo các biện pháp sau: khi xếp đống, cần sử dụng
thanh kê có bề dày đều nhau và phải đặt đúng vị trí của thanh kê, cự ly thanh kê
không nên cách xa nhau quá.
1.8.4.2. Gỗ bị nhăn mặt.
Sự nhăn mặt gỗ (ván) là một hiện tượng biểu hiện trạng thái biến dạng hết
sức mãnh liệt và không tốt. Có khi do gỗ bị nhăn mặt mà sinh ra nứt nẻ lớn. Khuyết
tật này thường xảy ra ở một số loại gỗ nhất định. Để tránh hiện tượng này, khi sấy
không nên sử dụng nhiệt độ sấy quá cao và không được phép tăng nhiệt độ quá mức
quy định của chế độ sấy.
1.8.4.3. Nứt nẻ.
Là do sự phát sinh ứng suất quá lớn bên trong gỗ làm cho các thớ gỗ bị phá
hoại. Ứng suất hình thành ở các giai đoạn sấy đầu sẽ gây nên nứt ngoài. Còn ứng
suất hình thành ở giai đoạn sấy sau sẽ gây nên nứt trong. Để tránh nứt nẻ ở bề mặt
ván, ta cần tuân thủ chế độ sấy, nhất thiết không được hạ thấp độ ẩm của môi
trường sấy xuống quá đáng so với quy định của chế độ sấy.
1.8.5. Các phương pháp sấy gỗ.
Cũng như các phương pháp sấy khác, đối với gỗ có các phương pháp sấy
sau: Hong khô, sấy chân không, sấy ngưng tụ ẩm, sấy cao tần, sấy hơi nước quá
nhiệt, sấy qui chuẩn, sấy bằng năng lượng mặt trời, sấy gỗ trong chất lỏng, sấy ly
tâm.
25