Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
Công ty thiết bị điện Phượng Hoàng tại số 4 nghách 139/56 Đường Tam
Trinh – Quận Hoàng Mai – Hà Nội là doanh nghiệp chuyên thiết kế, thi công
lắp đặt tủ điện, các công trình điện dân dụng và công nghiệp.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty thiết bị điện Phượng Hoàng, em
đã được công ty giao làm việc thực tế Tủ Bù. Trong quá trình thực tập em đã
tìm hiểu được một số kiến thức nhất định, tuy nhiên do trình độ hạn chế và thời
gian có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót, vì thế em rất mong được sự
chỉ bảo và góp ý của các thầy cô trong bộ môn cùng các anh chị trong công ty.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị trong công ty đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo cho em trong quá trình thực tập. Em cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng như ban chủ nhiệm bộ môn Tự Động
Hoá -Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo cơ hội cho sinh viên chúng em
được tiếp xúc với thực tế trước khi ra trường.
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Công Hoàng
Chương 1: CÁCH CHỌN CÔNG SUẤT TỤ BÙ
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
I. Tại sao cần cải thiện hệ số công suất:
1. Giảm giá thành tiền điện:
- Nâng cao hệ số công suất đem lại những ưu điểm về kỹ thuật và kinh tế, nhất
là giảm tiền điện.
- Trong giai đoạn sủ dụng điện có giới hạn theo qui định. Việc tiêu thụ năng
lượng phản kháng vượt quá 40% năng lượng tác dụng (tgφ > 0,4: đây là giá trị
thỏa thuận với công ty cung cấp điện) thì người sử dụng năng lượng phản
kháng phải trả tiền hàng tháng theo giá hiện hành.
- Do đó, tổng năng lượng phản kháng được tính tiền cho thời gian sử dụng sẽ
- Đặc biệt ta nên tránh định mức động cơ quá lớn cũng như chế độ chạy không
tải của động cơ. Lúc này hệ số công suất của động cơ rất nhỏ (0,17) do lượng
công suất tác dụng tiêu thụ ở chế độ không tải rất nhỏ.
II. Các thiết bị bù công suất:
1. Bù trên lưới điện áp
Trong mạng lưới hạ áp, bù công suất được thực hiện bằng:
- Tụ điện với lượng bù cố định (bù nền).
- Thiết bị điều chỉnh bù tự động hoặc một bộ tụ cho phép điều chỉnh liên tục
theo yêu cầu khi tải thay đổi.
Chú ý: Khi công suất phản kháng cần bù vượt quá 800 kVAr và tải có tính liên
tục và ổn định, việc lắp đặt bộ tụ ở phía trung áp thường có hiệu quả kinh tế tốt
hơn.
2. Tụ bù nền
Bố trí bù gồm một hoặc nhiều tụ tạo nên lượng bù không đổi việc điều
khiển có thể thực hiện:
- Bằng tay: dùng CB hoặc LBS (load – break switch)
- Bán tự động: dùng contactor
- Mắc trực tiếp vào tải đóng điện cho mạch bù đồng thời khi đóng tải.
Các tụ điện được đặt:
- Tại vị trí đấu nối của thiết bị tiêu thụ điện có tính cảm (động cơ điện và
máy biến áp).
- Tại vị trí thanh góp cấp nguồn cho nhiều động cơ nhỏ và các phụ tải có
tính cảm kháng đối với chúng việc bù từng thiết bị một tỏ ra quá tốn kém.
- Trong các trường hợp khi tải không thay đổi.
3. Bộ tụ bù điều khiển tự động (bù ứng động)
- Bù công suất thường được hiện bằng các phương tiện điều khiển đóng
ngắt từng bộ phận công suất.
- Thiết bị này cho phép điều khiển bù công suất một cách tự động, giữ hệ
số công suất trong một giới hạn cho phép chung quanh giá trị hệ số công suất
được chọn.
kỹ thuật.
Vị trí lắp đặt tụ bù:
3.1 Bù tập trung: áp dụng cho tải ổn định và liên tục.
Nguyên lý: bộ tụ đấu vào thanh góp hạ áp của tủ phân phối chính và được đóng
trong thời gian tải hoạt động.
Ưu điểm:
- Giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng.
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Làm giảm công suất biểu kiến.
- Làm nhẹ tải cho máy biến áp và do đó nó có khả năng phát triển thêm
các phụ tải cần thiết.
Nhận xét:
- Dòng điện phản kháng tiếp tục đi vào tất cả lộ ra tủ phân phối chính của
mạng hạ thế.
- Vì lý do này kích cỡ dây dẫn, công suất tổn hao không được cải thiện ở
chế độ bù tập trung.
3.2 Bù nhóm (từng phân đoạn).
Bù nhóm nên sử dụng khi mạng điện quá lớn và khi chế độ tải tiêu thụ
theo thời gian của các phân đoạn thay đổi khác nhau.
Nguyên lý:
Bộ tụ được đấu vào tủ phân phối khu vực, hiệu quả do bù nhóm mang lại
cho dây dẫn xuất phát từ tủ phân phối chính đến các tủ khu vực có đặt tụ được
thể hiện rõ nhất.
Ưu điểm:
- Làm giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng.
- Làm giảm công suất biểu kiến yêu cầu.
- Kích thước dây cáp đi đến các tủ phân phối khu vực sẽ giảm đi hoặc với cùng
dây cáp trên có thể tăng thêm phụ tải cho tủ phân phối khu vực.
Việc tính toán định mức bù tối ưu cho một mạng đã tồn tại có thể thực
hiện theo những lưu ý sau:
+ Tiền điện trước khi đặt bù
+ Tiền điện tương lai sau khi lắp tụ bù.
+ Các chi phí bao gồm:
- Mua tụ bù và mạch điều khiển.
- Lắp đặt và bảo trì
- Tổn thất trong tụ và tổn thất trên dây cáp, máy biến áp sau khi lắp tụ bù.
III. Chọn Tụ Bù:
1. Phương pháp tính đơn giản:
Để chọn tụ bù cho một tải nào đó thì ta cần biết công suất (P) của tải đó
và hệ số công suất (Cosφ) của tải đó:
- Giả sử ta có công suất của tải là P
- Hệ số công suất của tải là Cosφ
1
→ t φ
1
( trước khi bù )
- Hệ số công suất sau khi bù là Cosφ
2
→ tgφ
2
.
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Công suất phản kháng cần bù là Q
C
= P (tgφ
1
sử dụng trung bình là: 200 kW, điện năng tiêu thụ trung bình 48.000
kWh/tháng, hệ số công suất tại điểm đo đếm là cosϕ = 0,8.
- Tiền điện năng tác dụng trong 1 tháng:
T
a
= 48.000 (kWh) x 1023 (đồng/kWh) = 49.104.000 đồng.
- Tiền mua công suất phản kháng là (do cosϕ = 0,8< 0,85):
T
P
= T
a
.K% = 49.104.000x6,25/100 = 3.069.000 đồng
Trong đó K% = 6,25% (ứng với cosϕ = 0,8 theo hướng dẫn thông tư
07/2006/TT-BCN ngày 27/10/2006 của Bộ công nghiệp).
Vậy số tiền mà khách hàng phải trả hàng tháng là 52.173.000 đồng.
Nếu khách hàng đầu tư 3 bộ tụ bù hạ thế công suất 20 kVAr thì hệ số
cosϕ sẽ là 0,91. Khi đó khách hàng không phải mua công suất phản kháng. Chi
phí cho 3 bộ tụ bù chỉ hơn 3 triệu đồng.
Chương 2: KHÍ CỤ ĐIỆN ĐÓNG NGẮT - BẢO VỆ TỤ BÙ
I.Attomat
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Attomat là khí cụ điện dùng đóng ngắt mạch điện (1 pha, 3 pha) có công
dụng bảo vệ quá tải, ngắn mạch, sụt áp … của mạch điện.
Cấu tạo và nguyên lý làm việc
1.Cấu tạo:
Attomat thường được chế tạo có hai cấp tiếp điểm (tiếp điểm chính và hồ
quang) hoặc ba tiếp điểm (chính, phụ, hồ quang).
Khi đóng mạch, tiếp điểm hồ quang đóng trước, tiếp theo là tiếp điểm
1.Khái niệm:
Contactor là một khí cụ điện dùng để đóng ngắt các tiếp điểm, tạo liên lạc
trong mạch điện bằng nút nhấn. Như vậy khi sử dụng Contactor ta có thể điều
khiển mạch điện từ xa có phụ tải (vị trí điều khiển, trạng thái hoạt động của
Contactor rất xa vị trí các tiếp điểm đóng ngắt mạch điện).
2.Cấu tạo và nguyên lý hoạt động
a.Cấu tạo: Contactor được cấu tạo gồm các thành phần: Cơ cấu điện từ (nam
châm điện), hệ thống dập hồ quang (tiếp điểm chính và phụ)
* Nam châm điện: gồm 4 thành phần
+ Cuộn dây dùng tạo ra lực hút nam châm
+ Lõi sắt (mạch từ) của nam châm gồm 2 phần: phần cố định và phần
nắp di động. Lõi thép nam châm có dạng EE, EI hay CI
+ Lò xo phản lực: có tác dụng đẩy phần nắp di động mở về vị trí ban
đầu khi ngừng cung cấp điện vào cuôn dây.
- Hệ thống dập hồ quang điện:
Khi Contactor chuyển mạch, hồ quang điện sẽ xuất hiện làm các tiếp
điểm bị cháy, mòn dần. Vì vậy cần có hệ thống dập hồ quang gồm nhiều vách
ngăn làm bằng kim loại đặt cạnh hai bên tiếp điểm tiếp xúc nhau, nhất là tiếp
điểm chính của Contactor.
- Hệ thống tiếp điểm của Contactor:
+ Tiếp điểm chính: có khả năng cho dòng điện lớn đi qua. Tiếp điểm
chính là tiếp điểm thường hở đóng lại khi cấp nguồn vào mạch từ của
Contactor hút lại.
+ Tiếp điểm phụ: có khả năng cho dòng điện đi qua các tiếp điểm nhiều
hơn 5A. Tiếp điểm phụ có hai trạng thái: Thường đoáng và thường mở. Tiếp
điểm thường đóng là tiếp điểm ở trạng thái đóng khi cuộn dây nam châm trong
Contactor ở trạng thái không được cấp điện. Tiếp điểm thường mở: ngược lại
tiếp điểm thường đóng.
Như vậy hệ thống tiếp điểm chính được mắc trong mạch động lực còn
tiếp điểm phụ sẽ lắp trong hệ thống mạch điều khiển.
Khả năng đóng: contactor điện xoay chiều dùng để khởi động động cơ điện
cần phải có khả năng đóng từ 4 đến 7 lần I
đm
.
*Tuổi thọ của contactor
Tuổi thọ của contactor phụ thuộc vào số lần đóng, mở. Sau số lần đóng mở
ấy thì contactor sẽ bị hỏng và không dùng được.
*Tần số thao tác
Là số lần đóng cắt contactor trong một giờ: 30, 100, 120, 180, 300,600,
1200, 1500 lần/giờ
Chương 3: BỘ ĐIỀU KHIỂN PER
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
I. Mô tả chung:
Bộ PER thông minh thân thiện với người sử dụng. Nó sử dụng kỹ thuật số
trong việc tính toán sai lệch dòng điện và điện áp giữa các pha, do đó việc đo
hệ số công suất chính xác.
Bộ BER được thiết kế tối ưu hóa việc điều khiển bù công suất phản kháng.
Công suất bù được tính bằng cách đo liên tục công suất phản kháng của hệ
thống và sau đó được bù bằng cách đóng ngắt các cấp tụ.
II. Thông số cài đặt
1.Hệ số công suất (SET cosϕ)
Việc cài đặt hệ số công suất theo yêu cầu được thực hiện khi hệ thống ở
chế độ tự động. Bộ PER sẽ đóng ngắt các cấp tụ để đạt được hệ số công suất
cài đặt.
2.Hệ số C/K
Việc cài đặt hệ số này được dùng để cài đặt hiện tượng trễ khi đóng ngắt
và nó được tính toán dựa trên cấp tụ nhỏ nhất trong hệ thống.
Khi chọn hệ số C/K ở chế độ tự động, công suất phản kháng được bù
dài tuổi thọ của tụ bù và Contactor, chương trình này sẽ tự động chọn bước tụ ít
sử dụng nhất để đóng ngắt trong trường hợp có 2 cấp tụ giống nhau.
o0o
* Kết luận
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Sau hơn 1 tháng thực tập tại phân xưởng của công ty thiết bị điện Phượng
Hoàng, em nhận thấy Công ty thiết bị điện Phượng Hoàng thực sự là một môi
trường làm việc chuyên nghiệp. Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và nhiệt
huyết của các anh chị trong Công ty (vốn đa phần từng học tập và công tác tại
trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội) em đã có một cái nhìn toàn diện, thực tiễn
và khá sâu sắc về nhiều lĩnh vực và các kỹ năng kỹ thuật được cải thiện rõ rệt:
- Hiểu biết về các thiết bị điện trong Tủ Bù.
- Hiểu biết về công việc của một kỹ sư trong việc thí nghiệm các thiết bị
điện.
* Đánh giá của công ty thiết bị điện Phượng Hoàng:
Trong thời gian từ ngày 01 /07/2011 đến ngày 10/08/2011, sinh viên
Nguyễn Công Hoàng có đến thực tập tại phân xưởng của Công ty thiết bị điện
Phượng Hoàng tại số 4 nghách 139/56 Đường Tam Trinh – Quận Hoàng Mai –
Hà Nội. Trong thời gian thực tập sinh viên đã cố gắng để thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao, tuân thủ đầy đủ các quy định và nguyên tắc của công ty,
nhanh chóng hòa nhập vào môi trường làm việc của công ty, chăm chỉ và
nghiêm túc trong công việc. Với tinh thần học hỏi và tinh thần trách nhiệm cao,
sinh viên đã hoàn thành tốt đợt thực tập này.
Hà Nội, ngày 13 tháng 08 năm 2011
Xác nhận của đơn vị thực tập
Nguyễn Công Hoàng – Lớp TĐH Chuyển hệ 12
13