Tiểu luận môn học hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
1

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (foreign direct investment) là một công cuộc
đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được
một phần hay toàn bộ quyền sỡ hữu lâu dài mộưt doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu
này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.

 Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chung quy lại có thể hiểu:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn
đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Luật đầu tư của Việt Nam –
2005). FDI là bất kỳ việc cấp vốn nào hay việc mua tài sản thuộc cơ sở nước
ngoài mà cơ sở đó ở mức độ đáng kể thuộc quyền sở hữu của công dân nước
đầu tư.

2. Các đặc điểm của FDI:
 Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định cuả dự án
đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định. Chẳng hạn Việt
Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của
dự án, ở Mỹ quy định phải góp tối thiểu 10% vốn pháp định, còn ở một số nước
khác là 20%.
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
3
 Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách
nhiệm về hoạt động của dự án phù hợp với số vốn mà họ bỏ ra. Việc phân chia
kết quả kinh doanh cho các bên tham gia dựa trên tỷ lệ góp vốn.


nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư.
 Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phếp khai thác lợi thế so sánh giữa các
quốc gia.
- FDI tại các nước đang phát triển khai thác được giá nhân công rẽ.
- Tiếp tục khai thác M
2
– TB đã khấu hao xong, hoặc công nghệ đã bị lạc
hậu.
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
4
- Gắn quy trình sản xuất (thông qua đầu tư) quy trình bán hàng, tiết kiệm
chi phí lưu thông.
- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước nhận đầu tư.

 Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm kiểm soát và ổn định các nguồn nguyên
liệu:
- Ở các nước phát triển và các nước đang phát triển tiêu dùng nội địa và
xuất khẩu gia tăng đã làm cho nguồn của cải tài nguyên trong nước bị cạn
kiệt. Giải quyết vấn đề này có các cách:
 Nhập khẩu nguyên liệu.
 Đầu tư khai thác nguyên liệu, chuyển về nước chính quốc chế
biến.
 Tổ chức khai thác và chế biến tại chỗ.
- Các nhà đầu tư có khuynh hướng chọn cách 3 bởi vì:
 Duy trì sự ổn định lâu dài các nguồn cung ứng.

NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
5

Sơ đồ: “các vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói”

 Tiếp thu công nghệ tiên tiến:
- Kiến thức khoa học công nghệ được phổ biến rộng rãi sẽ góp phần
quan trọng cho sự thay đổi của nền kinh tế.
- Công nghệ tiên tiến là nhân tố tăng năng suất lao động xã hội thông
qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Công nghệ mới sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế tối
đa hóa lợi ích trên mỗi đơn vị tài nguyên, bảo tồn môi trường sinh
thái.
- Công nghệ là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dựa trên kỹ thuật cao và
dịch vụ.
- Công nghệ kết tinh làm tăng giá trị trao đổi trên thị trường thương
mại nội điạ và quốc tế.

cạnh tranh giữa các công ty từ những ngành truyền thống (hao phí nhiều
năng lượng và lao động) qua ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.
Tiêu biểu: các lĩnh vực về năng lực mới, điện-điện tử, vật liệu mới, công
nghệ sinh học, công nghệ thông tin… nên lao động chân tay giảm thấp, cần
lao động tay nghề cao, cơ sở hạ tầng tốt hiện đại, cần nhiều chất xám của
các nhà khoa học, bởi vậy lĩnh vực này chủ yếu được đầu tư vào các nước
phát triển, trong đó có các nước đang phát triển thiếu các ưu thế trên.
- Tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các nước phát triển về một phương diện
nào đó các nước vẫn gia tăng bảo hộ mậu dịch, bởi vậy để tránh được bảo
hộ mậu dịch, tiêu thụ sản phẩm tại chỗ và tìm kiếm các thị trường lân cận
dẫn đến FDI vào các nước phát triển co xu hướng gia tăng.
- Nguyên nhân thuộc về tiền tệ: Sợ biến động TGHD tác động đến dòng di
chuyển tư bản đến nơi thuân lợi nhất.
5.3. Xu hướng “đa cực” và “đa biên” trong đầu tư trực tiếp:
- Sau thế chiến lần thứ hai, Mỹ là quốc gia hàng đầu có nguồn FDI vào các
nước Tây Âu.
- Ngày nay dòng chu chuyển tư bản vào FDI không chỉ là một trung tâm phát
ra như trước mà có ít nhất 4 trung tâm: Mỹ, Tây Âu, Nhật và NICs, hiện
tượng này diễn ra là vì:
- Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế quốc gia Tây Âu liên minh tư bản để cạnh
tranh với các công ty Mỹ. Đặc biệt hiện nay cùng với sự xuất hiện của NICs
Châu Á thì tính chất một cực đã biến mất.
- Do xu hướng tăng FDI nhiều chủ đầu tư tham gia vào một chương trình đầu
tư.
5.4. Hiện tượng „hai chiều” trong FDI:
- Từ thập niên 70, đặc biệt là thập niên 80 trở lại đây, các nước đầu tư ra nước
ngoài lớn lại là nước thu hút đầu tư mạnh.
- Chẳng hạn: Mỹ, Nics …
- Hiện tượng “hai chiều” trong đầu tư là do xu hướng quốc tế hóa đời sống
kinh tế, quá trình đó tạo ra những “khe hở” đem đến những cơ hội cho các

 Nâng cao hiệu quả sản xuất và chính sách ưu đãi trong đầu tư của
nước chủ nhà.
5.6. Lĩnh vực thu hút đầu tư nhiều nhất là công nghệ chế tạo, chế biến và dịch
vụ:
- Xu hướng khá phổ biến và cũng là xu hướng trong những thập kỷ gần đây:
luồng tư bản đầu tư trực tiếp tập trung phần lớn vào ngành dịch vụ và chế
tạo, chế biến.
- Theo các chuyên gia nghiên cứu về công ty xuyên quốc gia thì FDI vào
ngành dịch vụ giữa thập niên 80 chiếm tới 50% tổng số vốn đầu tư. Trong
đó dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại (giao thông vận tải, quảng cáo)
chiếm phần quan trọng nhất.
- Nhìn chung các công ty lớn có xu hướn kinh doanh đa ngành và mở rộng
lĩnh vực dịch vụ, bởi lý do sau: Đây là ngành có nhiều phân ngành, mà
những phân ngành đó thuộc lĩnh vực mũi nhọn như: Đầu tư thông tin liên
lạc, vật liệu mới, đặc tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ dàng hợp tác.

6. Tác động của đầu tƣ trực tiếp:
6.1. Xét về lợi ích của hình thức đầu tư trực tiếp:
 Đối với nước đi đầu tư
- Khai thác những lợi thế của nước chủ nhà: như về tài nguyên, lao động, thị
trường nhằm để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Tìm kiếm và mở rộng thị trường: đặc biệt đối với các công ty đa quốc gia và
xuyên quốc gia vì thông qua đầu tư trực tiếp nhằm bành trướng, mở rộng thị
phần và tối ưu hóa doanh thu, chi phí, lợi nhuận…
- Giảm thiểu chi phí kinh doanh: vì khi đầu tư họ chủ động đưa nhà máy sản
xuất hoặc dịch vụ gần vùng nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ.
- Tránh được hàng rào bảo hộ ngày càng tinh vi của nước chủ nhà: vì lúc đó
thiết lập được cơ sở kinh doanh bên trong nội địa các nước thực thi chính
sách bảo hộ mậu dịch.
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế

- Đóng góp vào thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu, vào giá trị tổng sản
phẩm quốc nội (GDP).
- Cải thiện các vấn đề xã hội như: góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
mức sống của người lao động.
 Đối với nước nhận đầu tư là các nước phát triển: giúp họ giải quyết những
vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội như thất nghiệp, lạm phát, tăng thu ngân
sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện cán cân thanh toán thâm hụt.
Đầu tư quốc tế cũng giúp cho việc mua lại và vực dậy những công ty trong
nước đang có nguy cơ bị phá sản, tạo công ăn việc làm mới cho người lao
động. Ngoài ra còn tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, thương mại và các quốc gia này còn có thể học hỏi kinh nghiệm tiên
tiến lẫn nhau.
6.2. Xét về những hạn chế của đầu tư trực tiếp:
 Đối với nước đi đầu tư:
- FDI có thể phải gánh chịu rủi ro tại các nước tiếp nhận đầu tư do luật lệ thay
đổi hoặc tình hình ann ninh chính trị không ổn định. Ví dụ như luật pháp
thay đổi tại Zimbabwe, Nhà nước sở hữu hóa đất đai cho phép người bản xứ
chiếm đất của người da trắng hay chiến tranh chống khủng bố tại Afganistan
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
9

làm cho các nhà đầu tư lo sợ tại các quốc gia hồi giáo như Pakistan,
Indonesia,…
- Nạn thất nghiệp trong nước gia tăng với tỷ lệ thuận với đầu tư ra nước
ngoài. Đầu tư ra nước ngoài càng cao thì nhu cầu về lao động càng giảm ở

kinh tế trong việc thu hẹp thâm hụt thương mại trong tương lai.
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
10 Biểu đồ: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
 Đánh giá khái quát về tình hình thu hút FDI tại Việt Nam.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính
phủ đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trong những năm tới của Việt Nam
là 9 - 10%/năm và phấn đấu đến năm 2020 mức GDP bình quân đầu người
tăng lên gấp 8 - 10 lần so với hiện nay, tương đương mức 2 - 3 nghìn
USD/người. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đó, yêu cầu về thu hút
và dùng vốn là một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết với nền
kinh tế Việt Nam. Theo tính toán sơ bộ, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP như
mục tiêu đề ra, Việt Nam cần đầu tư khoảng lớn hơn 40 tỷ USD. So với năng
lực tiết kiệm nội địa hiện tại của Việt Nam thì con số này thực sự là khổng lồ,
vì vậy chúng ta phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài
để đáp ứng nhu cầu vật tư.
 Thực trạng về tình hình thu hút FDI tại Việt Nam
Nhìn lại năm 1986, nền kinh tế Việt Nam với tỷ lệ đói nghèo lên đến
60%, thuần túy nông nghiệp và thu hút đầu tư FDI gần như bằng không thì sau
hơn 20 năm, kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ, tăng trưởng kinh
tế nhanh, ngày càng đa dạng hóa lĩnh vực và nguồn lực, tỷ lệ đói nghèo xuống
dưới 20%. Đặc biệt ngay sau khi gia nhập WTO, thu hút vốn FDI tại Việt Nam


đạt số vốn đăng ký FDI kỷ lục 64 tỷ USD năm 2008.Tính đến tháng 10/2009,
cả nước có 10.805 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 174,7 tỷ USD.
Nguyên nhân của dòng vốn FDI tăng mạnh tại Việt Nam là do Việt
Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế
Giới WTO với những điều kiện thuận lợi cho thu hút FDI như: cam kết mở cửa
thị trường dịch vụ, giảm thuế suất thuế nhập khẩu, giảm bảo hộ và xoá bỏ phân
biệt đối xử quốc gia.
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/21 ngành trong hệ thống phân
ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn
là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất, chiếm 62,1% số dự án và 50,6%
vốn đăng ký tại Việt Nam.
Đến nay, 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư vào Việt Nam,
trong đó Đài Loan là nhà đầu tư số 1 với 2.010 dự án còn hiệu lực, tổng vốn
đăng ký 21,28 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ 2 với 2.283 dự án còn hiệu lực,
tổng vốn đăng ký 20,4 tỷ USD. Tiếp theo là nhà đầu tư Malaysia, Nhật Bản và
Singapore.
Đầu tư nước ngoài đã có mặt 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó
TP HCM vẫn là nơi thu hút nhiều nhà đầu tư nhất với 3.092 dự án còn hiệu
lực, vốn đăng ký 27,1 tỷ USD, chiếm 28,6% tổng dự án và 15,5% tổng vốn
đăng ký cả nước. Trong hai năm 2008, 2009, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập
trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là kinh doanh
bất động sản, lĩnh vực dịch vụ lưu trú, ăn uống. Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư,
để các dự án FDI có hiệu quả hơn, Việt Nam chọn lọc để hướng dòng vốn FDI
vào những lĩnh vực quan trọng, ưu tiên như công nghiệp phụ trợ, phát triển cơ
sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, chế biến nông sản, dịch vụ có giá trị gia
tăng cao, ngành sản xuất tiết kiệm năng lượng và các ngành có tỷ trọng xuất
khẩu lớn Theo thống kê, tính chung quý I - 2010, kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam đạt 14 tỷ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, kim
ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt hơn 8 tỷ USD, tăng 29,3%,
nhập khẩu khoảng 7,1 tỷ USD. Còn nếu không kể dầu thô, trong bốn tháng đầu

Năm sau tăng gấp đôi so với năm trước. Năm 2004 chỉ mới đạt 2,084 tỷ USD thì
năm 2006 lên tới 10,200 tỷ USD tăng 400% so với 2004.
Giai đoạn (2007-2008): Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại
WTO các chính sách ngoại thương cởi mở hơn, đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư, nhờ đó đã tạo ra một hiệu ứng rất tốt trong việc thu hút FDI, nó
được phản ánh qua năm 2007, 2008. Năm 2007 Việt Nam đã thu hút 1544 dự án
và 21,3 tỷ USD, tăng gần 2 lần năm 2006, đó mới chỉ là kết quả của 1 năm gia
nhập WTO. Chưa dừng lại ở đó qua năm 2008 Việt Nam đã thu hút một con số
cực kỳ ấn tượng với 64 tỷ USD gấp gần 3 lần so với năm 2007. Qua đó lọt vào
top 10 nền kinh tế hấp dẩn vốn đầu tư FDI nhất.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính chung, từ năm
1988 đến năm 2011, tổng vốn đăng ký còn hiệu lực của 13.496 dự án FDI là
195,9 tỷ USD, vốn thực hiện là 88,2 tỷ USD, chiếm 43,2% vốn đăng ký.
Tính đến hết năm 2011, Việt Nam có 13.667 dự án FDI còn hiệu lực với
tổng vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 54%.
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
13
Singapore là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 24 tỷ
USD, tiếp theo lần lượt là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. TT
Ngành
Số
dự án

1.903,02
7.123,87
2
Sản xuất, phân
phối điện, khí,
nước, điều hòa
5
2.525,66
2
2,55
2.528,21
3
Xây dựng
140
1.033,18
16
219,12
1.252,30
4
Kinh doanh
BĐS
22
741,63
7
103,98
845,61
5
Dịch vụ lưu trú
và ăn uống
19

chuyên môn,
KHCN
156
248,13
15
13,53
261,66
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
14
10
Nghệ thuật và
giải trí
9
14,81
1
138,18
152,99
11
Nông, lâm
nghiệp; thủy
sản
20
61,93
10
68,83

16
Giáo dục và
đào tạo
14
7,67
1
0,10
7,76
17
Hành chính và
dịch vụ hỗ trợ
5
3,55
2
1,30
4,85
Tổng số
1.085
11.491,28
374
3.137,40
14.628,68
Bảng: Thu hút FDI năm 2011 theo ngành (Tính từ 01/01/2011 đến 20/12/2011)

2. Sức hút FDI của VN và các hạn chế:
 Sức thu hút:
Có thể nói trong thời gian vừa qua, VIỆT NAM được đánh giá là một nước
có sức hút lớn đối với FDI. Vậy những sức hút đó là gì, chúng tôi đã nghiên
cứu được là do như sau:
- Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam đã tạo hy vọng cho các nhà đầu tư

tính cạnh tranh trong một số sản phẩm.
- Việt Nam chưa khắc phục được những hạn chế cố hữu về thể chế, luật lệ,
tính dự báo của luật lệ. Hệ thống luật pháp chưa thống nhất, gây ra nhiều sự
kiện đáng tiếc.
- Khả năng hấp thụ vốn của Việt Nam vẫn còn thấp do sự yếu kém về quy
hoạch, hạ tầng, thiếu nhân lực chất lượng cao và sự chậm trễ trong giải quyết
công việc Việc thiếu nguồn cán bộ quản lý, khó kiếm đội ngũ kỹ thuật viên
và kỹ sư.
- Công tác quy hoạch lại có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn
nặng về bảo hộ sản xuất trong nước Những khó khăn trong việc quản lý và
tài chính tạo ra những thách thức.
- Vấn đề tồn tại gây nhiều bức xúc là tiến trình giải ngân vốn FDI chậm.Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có một số nguyên nhân
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
16

chủ yếu: Một là, hệ thống hạ tầng như giao thông, cảng biển, thông tin liên
lạc, nguồn nhân lực v.v… còn bất cập, làm hạn chế khả năng tiếp nhận lượng
vốn đầu tư tăng ồ ạt vượt rất xa dự tính ban đầu. Hai là, bộ máy hành chính
còn nhiều yếu kém, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, chưa chuyển
kịp với tốc độ tăng rất mạnh nguồn vốn đầu tư. Ba là, do việc bàn giao mặt
bằng chậm, chẳng hạn, có những dự án nhà đầu tư phải chờ đợi từ 5- 10 năm
mới được giao mặt bằng để xây dựng nhà máy.
- Nội dung xúc tiến đầu tư mới chỉ dừng lại ở quảng bá, giới thiệu tiềm năng,
mà chưa đề ra được một chiến lược xúc tiến đầu tư dài hạn và có chiều sâu,


USD, bằng 2,67 lần, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (kể cả
dầu thô).
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh
tế, như khai thác, lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực
phẩm, thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện
đại như Phú Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4- 5 sao, khu nghỉ
dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm,
ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại,
công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư.
Một thành tựu khác, tính đến cuối năm 2011, khu vực FDI tạo ra hơn
2,3 triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp, trong đó có hàng
vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu
nhập ngày càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý
tiên tiến.
* FDI góp phần giải quyết các vấn đề liên quan tới vốn đầu tƣ để đảm bảo
cho tốc độ tăng trƣởng cao và bền vững:
- Một là, tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các
khoản thu của Nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư. Hiện nay, tỷ
lệ huy động của Việt Nam khoảng 22% GDP, trong khi đó tỷ lệ vốn đầu tư
phải 30-35% GDP. Khoản lệch này nếu không tìm được nguồn vốn nước
ngoài thì sẽ tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Hai là, tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công
nghiệp hoá đất nước đã dẫn đến sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài.
Cả hai vấn đó có thể được giải quyết bằng cách thu hút vốn nước ngoài, trong
đó có FDI.

* FDI là một nhân tố tích cực cho công cuộc CNH - HĐH ở nƣớc ta có hiệu
quả: đối với một nƣớc có trình độ phát triển chƣa cao, thu nhập thấp thì
nguồn vốn FDI là vô cùng quan trọng.

số doanh nghiệp FDI. Gần đây, việc “chuyển giá” của một số doanh nghiệp FDI,
gây ra tình trạng “lỗ giả lãi thật” nổi lên như vấn đề thời sự.
Một là, theo báo cáo “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2010” của Cơ
quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh
Việt Nam (VNCI) trên cơ sở khảo sát 1.155 doanh nghiệp của 47 quốc gia, đại
diện cho 21% số doanh nghiệp FDI đang hoạt động thì “doanh nghiệp FDI tại
Việt Nam có quy mô tương đối nhỏ và có lợi nhuận thấp, chủ yếu làm thầu phụ
cho các công ty đa quốc gia lớn hơn, do đó thường nằm trong khâu thấp nhất
của giá trị sản phẩm”; khoảng 5% doanh nghiệp FDI hoạt động trong ngành
công nghệ hiện đại, 5% vào dịch vụ khoa học - công nghệ, 3,5% vào dịch vụ tài
chính, quản lý đòi hỏi kỹ năng cao.
Hai là, khi trả lời câu hỏi doanh nghiệp có ý định cân nhắc đầu tư ở nước khác
hay chỉ tập trung đầu tư ở Việt Nam, thì 55% doanh nghiệp tham gia phỏng vấn
cho biết, có cân nhắc đầu tư ở nước khác, trong đó 30% sang Trung Quốc, 10%
sang Thái Lan, 8% sang Campuchia, 6% sang Indonesia, 4% sang Philippines
và 4% sang Lào.
Mặc dù các tư liệu điều tra chọn mẫu chỉ có tính tham khảo, nhưng cũng báo
động rằng, nước ta đã chậm chuyển đổi định hướng chính sách FDI từ đầu thế
kỷ XXI. Môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện, nhưng so với nhiều nước
trong khu vực thì chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư có tiềm năng lớn. Đối với Việt
Nam, cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư càng gay gắt hơn khi theo xếp hạng năm
2011, Trung Quốc vẫn dẫn đầu, Indonesia, Malaysia và Singapore lọt vào top 10
quốc gia có môi trường đầu tư tốt nhất thế giới; và khi trong số 5 nước mới nổi
BRICS, thì 4 nước đã lọt vào danh sách 10 quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế
TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!

Một trong những mặt tích cực như đã trình bày của FDI là thúc đẩy tính cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp. Thế nhưng, nó còn là nguy cơ của sự phá sản của
nhiều công ty nội địa với năng lực còn hạn chế. Các doanh nghiệp có vốn FDI
thường có công nghệ khoa học tiên tiến hơn, tính hiệu quả cao hơn, dẫn đến giá
thành có thể rẻ hơn và chất lượng lại được nâng cao. Nếu các doanh nghiệp Nhà
nước không có sự điểu chỉnh đúng đắn và hợp lý thì sẽ bị “biến mất” trên thị
trường.
+ Cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên:

TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
20

Sự đầu tư, khai thác của những tập đoàn đa quốc gia đến từ nhiều nước có thể
gây ra nạn cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta trong tương lai.
Hiện tượng này có thể xảy ra không chỉ ở tài nguyên thiên nhiên như đất đai,
khoáng sản mà còn có cả nguồn lao động, vốn được coi là dồi dào và rẻ tiền.
Tuy nhiên cần nhận thấy rằng những tác động tiêu cực của FDI không phải là
thuộc tính riêng của FDI mà chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất
lượng quản lý kinh tế của nhà nước đã tạo kẽ hở, tạo điều kiện để các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng khai thác triệt để mà không
phải bận tâm nhiều đến hậu quả pháp lý của các hành động của mình.

 Sau đây là những tác động cụ thể của FDI vào từng lĩnh vực:
 Về kinh tế:
● Nông nghiệp:

21

Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp phần không
nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng
hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam, trên cơ sở
phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ mới, công nghệ cao, có
khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập. Với 758 dự án đã và đang triển khai,
lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh thu hàng năm khoảng 312 triệu
USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và tăng mạnh trong thời gian gần đây.
* Các dự án đầu tư FDI vào nông nghiệp tuy không lớn nhưng đã tạo ra công ăn
việc làm, thu nhập ổn định, giúp hàng vạn hộ nông dân tham gia lao động tạo
nguồn nguyên liệu thường xuyên cho dự án hoặc theo mùa vụ (trồng mía đường,
khoai mì… góp phần quan trọng thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo. Tính
trung bình, đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp nói chung tạo ra tỷ lệ việc làm
gián tiếp so với việc làm trực tiếp rất cao. Đặc biệt, ở một số địa phương, dự án
đầu tư nước ngoài tạo việc làm cho khoảng 1/4 dân cư trên địa bàn. Tuy nhiên,
dù số lao động trong nông nghiệp và nông thôn vẫn chiếm tỉ lệ cao tới gần 60%
so với lao động chung của cả nước nhưng số lao động qua đào tạo trong lĩnh
vực Nông - lâm - ngư nghiệp chỉ chiếm 13% trong số đó. Đòi hỏi trong thời
gian tới phải tăng cường công tác đào tạo lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu
phát triển ngành nông nghiệp và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
● Công nghiệp:
Đầu tư FDI đem đến cho nền công nghiệp nước ta nhiều lợi ích:
+ Đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp,
góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước. Vai trò của đầu
tư nước ngoài trong cơ cấu công nghiệp cả nước đang ngày càng được củng cố.
Điều này được thể hiện thông qua tỷ trọng của đầu tư nước ngoài trong tổng giá
trị sản xuất công nghiệp, tăng dần từ 16,9% (1991) lên 23,65% (1995), 26,5%
(1996) lên tới 41,3% năm 2000, và 36,4% (2006) và 43,8% giá trị sản lượng
công nghiệp (2007) tương đương với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Tốc độ


● Dịch vụ:
Ngành dịch vụ càng ngày càng chiếm một thị phần lớn của thương mại toàn cầu.
Khu vực dịch vụ bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ du lịch, qua tài chính cho
đến lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục…
+ FDI vào Việt Nam ngày càng nhiều và dòng vốn đang có sự chuyển dịch cơ
cấu “chảy” mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả
nước trong năm 2007 vừa qua, trong đó tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất
động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh
doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực
dịch vụ), du lịch-khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%).
Tổng cục Du lịch cho biết, đến cuối tháng 12/2008, cả nước đã có 190 dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các khu du lịch và khách sạn, với tổng vốn
đăng ký đầu tư là 4,46 tỷ USD.Tăng 140% so với năm 2007.
Các chuyên gia cho rằng lĩnh vực du lịch-dịch vụ đang là "điểm nóng" thu hút
đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Các nhà đầu
tư nước ngoài dường như không muốn dậm chân trước những cơ hội kinh doanh
lớn trong lĩnh vực này khi mà Việt Nam đã đứng trước cánh cửa rộng mở của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Cơ cấu đầu tư trong thời gian qua rất khả
quan, các nhà đầu tư nước ngoài đang dành sự quan tâm rất lớn cho các dự án
xây dựng khu vui chơi, nghỉ dưỡng, khách sạn, sân golf quy mô lớn và chất
lượng dịch vụ cao. Các nước và vùng lãnh thổ dẫn đầu về vốn FDI vào các dự
án du lịch là Singapore với 20 dự án và tổng vốn đăng ký gần 1,3 tỷ USD; Ðài
Loan có 15 dự án với 784 triệu USD; Hồng Kông có 41 dự án với 642 triệu
USD; tiếp đến là Hàn Quốc, Malaysia, Pháp, Nhật Bản. TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================

mới giữa chủ đầu tư nước ngoài và người lao động Việt Nam. Điều kiện làm
việc và điều kiện sống của công nhân trong khu vực liên doanh FDI đang trở
thành vấn đề nóng những năm qua.Người lao động Việt Nam còn thiếu hiểu biết
về pháp luật lao động, cùng với những khác biệt văn hóa hoặc xung đột lợi ích
giữa chủ đầu tư và người lao động đã dẫn đến nhiều cuộc đình công tại các
doanh nghiệp (đã có trên 1.500 cuộc trong thập niên vừa qua), mà đại đa số xảy
ra tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong những doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Trong khi đó, Bộ Luật Lao động dường như chưa đủ để điều
chỉnh mối quan hệ giữa chủ trương thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI, và việc bảo
vệ những quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người lao động. Vì vậy chưa
thể hoá giải những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các xung đột trong quan hệ lao
động mới này.

TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
24

III. TÌNH HÌNH FDI TRONG TƢƠNG LAI
1. Những khó khăn trƣớc mắt
Với cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng toàn cầu như hiện nay, có thể nói hầu
hết các doanh nghiệp Mỹ và Châu Âu sẽ giảm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài,
nên việc thu hút FDI ở hai thị trường này của Việt Nam đều bị tác động đáng kể.
Cuộc khủng hoảng này cũng dẫn tới giá nhiều loại nguyên vật liệu phục vụ cho
sản xuất kinh doanh giảm, đặc biệt là dầu thô. Giá dầu thế giới giảm đã ảnh
hưởng đến nguồn thu ngân sách do xuất khẩu dầu thô bị giảm sút. Ngoài ra,


TRƢỜNG CĐ TÀI CHÍNH HẢI QUAN Tiểu luận môn học Hội nhập kinh tế quốc tế
KHOA : TÀI CHÍNH Lớp : C11A2A
=============================================================
=============================================================
GVHD : Trương Công Minh
NHÓM TH : Nhóm VII – Go On !!!
25
suy giảm cũng như triển vọng phục hồi của các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ là
yếu tố quan trọng đến kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.
Kinh tế Việt Nam đã gặp phải nhiều khó khăn trong năm 2008. Mặc dù lạm phát
cao đã được kiềm chế nhưng tác động của nó đang làm tăng trưởng suy giảm
mạnh và đà suy giảm này sẽ còn tiếp diễn trong năm 2009. Bên cạnh đó, tác
động sự suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ làm giảm lượng vốn FDI và
xuất khẩu của nước ta. Vì vậy, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm
2009 là khá khó khăn.
Dựa trên các phương pháp định lượng kết hợp với phân tích định tính, các
chuyên gia đã phác họa hai khả năng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
+ Khả năng tăng trưởng thấp: Kịch bản này được xây dựng với giả thiết kinh tế

thế giới chưa thể phục hồi ngay trong năm 2009 và điều này sẽ tác động tiêu cực
đến kinh tế Việt Nam. Vốn FDI và xuất khẩu của Việt Nam giảm sút, đặc biệt là
xuất khẩu. Xuất khẩu sẽ bị tác động tiêu cực cả về giá và sản lượng. Kim ngạch
xuất khẩu được dự kiến chỉ tăng 5%. Thu hút vốn FDI sẽ giảm mạnh so với năm
2008. Do đó, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 732 nghìn tỷ đồng,
tương đương 41,9 tỷ USD theo tỷ giá 17.470 VND/USD. Tỷ lệ đầu tư GDP đạt
35%. Tăng trưởng GDP năm 2009 dự báo đạt 5,0%.
+ Khả năng tăng trưởng cao: Đây là kịch bản chủ đạo và có nhiều khả năng xảy
ra nhất. Ở kịch bản này, giả thiết là kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi vào cuối
năm 2009 và tác động của sự suy giảm vốn FDI và xuất khẩu của Việt Nam là
không quá tiêu cực. Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế vẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status