Tiểu luận
Vấn đề hội nhập kinh tế quốc
tế và khả năng cạnh tranh sản
phẩm xuất khẩu của ngành
dệt may Việt Nam
Phần 1:ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lý do chon đề tài
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt
được những tiến bộ vượt bậc trên nhiều mặt trong điều kiện phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong vòng 20 năm, GDP tăng 4 lần, hơn 40 triệu người dân thoát khỏi đói,
nghèo. Với việc trở thành thành viên WTO, nền kinh tế nước ta được xác lập
một vị thế mới, ngày càng vững chắc trong hệ thống kinh tế thế giới, sức hấp
dẫn đầu tư tăng lên mạnh mẽ.
Nền kinh tế nước ta đã đổi mới căn bản cả thế và lực, đang đứng trước
những cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủa hơn bao giờ hết. Đó là sự thay
đổi chất lượng quan trọng của quá trình phát triển, đưa nền kinh tế nước ta
sang một giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới và phát triển trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu sắc hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nhưng mặt
khác, thách thức cũng lớn hơn và khó khăn cũng tăng lên. Nền kinh tế và các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn gấp
bội, trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động, khó dự đoán và có độ
rủi ro cao. Trong điều kiện đó, nếu không có một cơ cấu kinh tế tổng thể
hiệu quả và vững chắc, một hệ thống thể chế vận hành đồng bộ, nền kinh tế
sẽ không thể hội nhập thành công, càng không thể cạnh tranh thắng lợi và
phát triển bền vững. Đây chính là điểm mấu chốt phải tính đến khi xây dựng
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn tới.
Việt Nam đưa ra thế giới rất nhiều mặt hàng ở rất nhiều lĩnh vực. sản
phẩm nông nghiệp có: cà phê, gạo,… công nghiệp: dệt may, bánh kẹo,… Để
tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được
lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí
tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác). Nguyên
tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất
kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước
khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa. Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái
niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế.
1.1.2 Bản chất của lợi thế so sánh
Bản thân lợi thế so sánh được kiểm nghiệm bởi sự thật là một nước,
trong một khu vực nhất định có được giá thất hơn cả so với những nước còn
lại trong việc sản xuất ra của cải vật chất. Khi đó sự trao đổi giữa các quốc
gia xem như là vô cùng có lợi ích do việc mua bán đều đem lại lợi ích cho cả
hai quốc gia tham gia vào quá trình. Vì thế có thể nhận ra rằng, khi xem xét
lợi thế so sánh giữa các quốc gia thì ta thấy được cách sử dụng hiệu quả các
lực lượng sản xuất của các quốc gia và nói rộng ra là của quốc tế.
Lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế,
khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt
hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các
quốc gia đều cùng có lợi.
1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình dệt may thế giới
Đối với ngành dệt may xuất khẩu thì Trung Quốc là nhà cung cấp lớn
nhất thế giới. Thực tế cho thấy ở các thị trường có hạn ngạch, Trung Quốc
hầu như luôn tận dụng được hết hạn ngạch được cấp. Ở những thị trường lớn
không áp dụng hạn ngạch như Nhật Bản thì hiện nay, hàng Trung Quốc
chiếm gần 90% thị phần hàng may mặc nhập khẩu vào Nhật Bản. Có nghĩa
là cứ 10 cái áo nhập vào Nhật Bản, 9 cái là của Trung Quốc còn cả thế giới
chia nhau chỉ 1 cái. Như vậy, Trung Quốc đã đứng vững và đang tăng cường
đầu tư cơ sở công nghiệp dệt may tại các nước châu Âu và hướng mục tiêu
sang thị trường châu Phi, Đông Nam Á, Bắc Mỹ.
lực kinh tế-công nghệ, góp phần làm thay đổi trình độ sản xuất, trình độ
quản lí, nâng cao trình độ tay nghề của Việt Nam và khả năng tiếp cận thị
trường quốc tế của Việt Nam.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực sự đã trở thành một trong
những động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp, đặc biệt thúc đẩy tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam (xuất khẩu của khu vực FDI năm
1991 chỉ chiếm 4%, 2005 đã chiếm 57% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước)
Được hưởng những ưu đãi thương mại, tạo dựng một môi trường phát
triển kinh tế:
Việt Nam nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng và viện trợ
không hoàn lại của các tổ chức và các chính phủ nước ngoài. Tính năm
1993- 2004, mức viện trợ ODA cam kết dành cho vn 28,82 tỉ đo la, trong đó
mức vốn đã thực hiện là 14,107 tỉ đô la. Trong 2 năm 1998-1999,chính phủ
Nhật Bản và các nhà tài trợ khác dành cho Việt Nam1.2 tỉ đô la hỗ trợ cải
cách kinh tế.
- Nâng cao vị thế của đất nước, giữ gìn hòa bình:
Những thành tựu cơ bản đạt được trên lĩnh vực kinh tế đã cũng cố vị
thế đát nước về chính trị và ngoại giao, làm thất bại chính sách bao vây, cô
lập đất nước của các thế lực thù địch , tạomôi trường quốc tế thuận lợi cho
việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việt Nam đã được các tổ chức kinh tế và
các nước đánh giá cao, tôn trọng đường lối phát triển của đát nước độc lập tự
chủ.chúng ta không ngừng thiết lập, cũng cố và bình thường hóa quan hệ đối
ngoại với nhiều quốc gia, khu vực thị trường quan trọng. trong đó phải kể tới
việc bình thường hóa ngoại giao với Hoa Kì năm 1996 và kí kết hiệp định
thương mại Việt Nam- Hoa Kì vào năm 2000.
- Tiếp thu trình độ quản lí và chuyển giao công nghệ:
Tiếp thu những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật, công
nghệ, kĩ thuật tiên tiến của thế giới, Việt Nam đã tạo ra một trình độ cao hơn
về năng suất và chất lượng của nền sản phẩm, đã đem lại nhiều công nghệ,
dệt may Việt Nam là EU và Nhật Bản. Thị trường EU có mức tăng khá ổn
định, từ mức 225 triệu USD vào năm 1996 lên 1,5 tỷ USD vào năm 2007.
Trong khi đó, xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản có diễn biến phức tạp
hơn, mặc dù vẫn thể hiện xu hướng tăng: giá trị xuất khẩu năm 2000 là 620
triệu USD, giảm xuống còn 514 triệu USD vào năm 2003 và tăng liên tục
lên 800 triệu USD vào năm 2007. Chỉ riêng ba thị trường này đã chiếm hơn
81% giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, mặc dù đã giảm so với
mức đỉnh điểm gần 85,9% vào năm 2004.
Việc mở rộng tiếp cận thị trường xuất khẩu cũng góp phần tạo điều
kiện cho ngành dệt may không ngừng lớn mạnh. Trong giai đoạn 2000-2006,
ngành đã tạo thêm việc làm cho khoảng 600.000 lao động. Tính theo giá so
sánh (năm 1994), trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất của ngành dệt
đã tăng gần 2,7 lần, từ gần 10.040 tỷ đồng lên hơn 26.950 tỷ đồng. Ngành
may mặc thậm chí còn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, từ mức 6.040
tỷ đồng lên gần 26.620 tỷ đồng.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm giảm
đáng kể nhu cầu đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù đã
có nhiều biện pháp điều chỉnh, nhưng việc thực hiện mục tiêu xuất khẩu 9,5
tỷ USD trong năm 2009 của các doanh nghiệp dệt may dường như rất khó
khăn.
Tại thị trường Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất với tỷ trọng trên 55% trong
giá trị xuất khẩu dệt may - các doanh nghiệp đã nỗ lực phối hợp với các nhà
nhập khẩu trong việc xác định lại cơ cấu giá cả hợp lý trên cơ sở vẫn giữ
vững chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhờ đó trong năm 2008, hàng dệt
may Việt Nam đạt kim ngạch vào Hoa Kỳ trên 5,1 tỷ USD, tăng 15% so với
năm 2007. Trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa
Kỳ giảm đến 12,7% và hàng nhập từ hầu hết các nước sản xuất chính đều
giảm (từ Hồng Kông giảm 21%, từ Indonesia giảm 2,9%, từ Thái Lan giảm
25,6% và từ Ấn Độ giảm 7,7%). Tuy nhiên, hàng dệt may Việt Nam xuất
vào thị trường này vẫn tăng 18% về lượng và chỉ giảm 4,5% về giá trị.
gồm đầu tư mạnh hơn vào nghiên cứu thị trường, thị hiếu, tăng cường công
tác thiết kế thời trang và sản phẩm mới, tổ chức dây chuyền sản xuất chuyên
biệt phù hợp, đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị tại các thành phố lớn kết hợp
với chương trình đưa hàng về nông thôn và tăng uy tín thương hiệu.
Về bản chất, thị trường nội địa không đơn giản chỉ là một phân khúc thị
trường mà còn là hậu phương, là điểm tựa vững chắc để ngành dệt may vươn
ra thế giới. Bởi, muốn cạnh tranh được trên thương trường quốc tế thì trước
hết phải cạnh tranh được trên “sân nhà”.
2.1.2 Thị trường quốc tế
Dệt may Việt Nam có một thị trường xuất khẩu hàng hóa rộng khắp
trên tất cả các châu lục. Trong đó, bao gồm các thị trường truyền thống như
Mỹ, Nhật Bản, Đức và một số thị trường khác. Nhưng hiện nay tỷ lệ xuất
khẩu sang các thị trường trên cũng có xu hướng giảm xuống. Bên cạnh đó,
khi Việt Nam tham gia WTO, ngành dệt may sẻ có điều kiện mở rộng thị
trường xuất khẩu của mình, với các thị trường tiềm năng như Nga, Hàn
Quốc… Khi hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia xuất
khẩu các thị trường khác một cách thuận tiện, sẽ có ít rào cản hơn trước.
Như vậy, dệt may của chúng ta sẽ có thị trường xuất khẩu trên toàn châu lục,
đây là lợi thế để ngành dệt may khai thác hiệu quả hoạt động xuất khẩu
trong thời gian tới, và nâng cao kim ngạch xuất khẩu
Tại thị trường Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất với tỷ trọng trên 55% trong
giá trị xuất khẩu dệt may - các doanh nghiệp đã nỗ lực phối hợp với các nhà
nhập khẩu trong việc xác định lại cơ cấu giá cả hợp lý trên cơ sở vẫn giữ
vững chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhờ đó trong năm 2008, hàng dệt
may Việt Nam đạt kim ngạch vào Hoa Kỳ trên 5,1 tỷ USD, tăng 15% so với
năm 2007. Trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa
Kỳ giảm đến 12,7% và hàng nhập từ hầu hết các nước sản xuất chính đều
giảm (từ Hồng Kông giảm 21%, từ Indonesia giảm 2,9%, từ Thái Lan giảm
25,6% và từ Ấn Độ giảm 7,7%). Tuy nhiên, hàng dệt may Việt Nam xuất
vào thị trường này vẫn tăng 18% về lượng và chỉ giảm 4,5% về giá trị.
Theo đó, năm 2015 ngành này phải có tỷ lệ nội địa hóa là 60%, đến
năm 2020 tỷ lệ này là 70%. Sản lượng vải phục vụ xuất khẩu là 1,5 tỷ mét
vào năm 2015 và 2 tỷ mét vào năm 2020. Với sự hổ trộ của nhà nước thì
ngành dệt may sẽ có được vùng nguyên liệu, để phát huy lợi thế của mình.
2.2.2 Nguồn nhân lực
Với dân số vào khoảng 86 triệu người và kết cấu dân số trẻ chiếm đa
số, sẻ là nguồn lao động dồi dào cung cấp cho ngành dệt may. Điều này sẽ
làm cho giá nhân công thấp hơn các nước khát, là một lợi thế không nhỏ
trong cạnh tranh.
Bên cạnh đó, hiện nay chúng ta đã có những trường đào tạo nhân công
cho ngành dệt may. Ngành dệt may sẽ có được một đội ngũ nhân công có
tay nghề cao, đáp ứng được yêu cầu của các đối tác.
Hiện nay, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 32/2010/TT-BTC
hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện chương trình “Đào tạo nguồn nhân lực
dệt may Việt Nam”.Theo đó, đối với các lớp đào tạo ngắn hạn, ngân sách
Nhà nước hỗ trợ tối đa 250.000 đồng/học viên/năm. Đối với các lớp dài hạn
sẽ được hỗ trợ tối đa 2,8 triệu đồng/học viên/năm. Đối với đào tạo nước
ngoài, các doanh nghiệp và người đi đào tạo có trách nhiệm đóng góp kinh
phí.Chương trình áp dụng cho các đối tượng: cán bộ đang làm công tác quản
lý, cán bộ pháp chế, cán bộ bán hàng, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành dệt may
tại các doanh nghiệp, hiệp hội và tập đoàn dệt may; công nhân đang làm việc
tại các doanh nghiệp dệt may và sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường
đại học, cao đẳng, trung cấp, trung học phổ thông, trung học cơ sở.
Cùng với sự hổ trợ của nhà nước, ngành dệt may trong thời gian tới sẽ
có một đội ngũ nhân công có tay nghề phục vụ sản xuất.
Đội ngũ nhân công có tay nghề và giá thấp sẽ là một lợi thế không nhỏ
để ngành dệt may có lợi thế cạnh tranh hơn.
2.2.3 Giá cả sản phẩm
Là một nền kinh tế đang phát triển, với những lợi thế về nhân công giá
rẽ, chi phí sản xuất thấp, nên đa số các sản phẩm Việt Nam sản xuất ra đều
hàng dệt may của Việt Nam sẽ không còn bị phân biệt với sản phẩm bản xứ
nữa mà thay vào đó sẽ được đối xử bình đẳng về thuế, phí, lệ phí, các qui
định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh
Thứ ba, khi gặp tranh chấp thương mại, hàng dệt may của Việt Nam có
thể nhận được bảo vệ từ cơ chế xử lý tranh chấp trong khung khổ WTO.
Thứ tư, trong những trường hợp khó khăn, ngành dệt may Việt Nam có
thể nhận được bảo hộ tạm thời từ cơ chế tự vệ.
Thứ năm, sau khi gia nhập WTO, hàng xuất khẩu dệt may của Việt
Nam sẽ không còn chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào các nước thành viên
khác nữa.
Thứ sáu, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi từ đầu tư
nước ngoài, đi kèm với trình độ quản lý và kỹ thuật công nghệ mới.
2.3.2 Khó khăn
Thứ nhất, hàng rào bảo hộ dệt may trong nước không còn. Nếu như
hiện nay, thuế nhập khẩu hàng may mặc vào Việt Nam là 50%, thuế nhập
khẩu vải là 40%, thuế nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO, Việt Nam sẽ
phải thực hiện đúng cam kết theo Hiệp định Dệt may (với mức giảm thuế
lớn, ví dụ thuế suất đối với vải giảm từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵn
giảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ 2% xuống 5%). Do vậy vải Trung
Quốc sẽ tràn vào nước ta vì lúc nước sẽ phải cạnh tranh với vải Trung Quốc
nhập khẩu.
Thứ hai, nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các
thị trường xuất khẩu lớn hơn.
Thứ ba, nguồn lao động chắc chắn sẽ bị chia sẻ, giá lao động sẽ tăng
lên, cạnh tranh trong việc thu hút lao động cũng sẽ gay gắt hơn.
Thứ tư, sẽ có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này,
do vậy, sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng lên.
Mặc dù, một số ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu dù vẫn được
duy trì nhưng sẽ phải chấm dứt trước ngày 11/1/2012 (chỉ áp dụng đối với
các ưu đãi đầu tư đã dành cho các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt
WTO, với việc các thành viên WTO phải bỏ hạn ngạch đối với Việt Nam,
hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sẽ có điều kiện giảm giá xuất khẩu do
không phải mất chi phí do việc cấp hạn ngạch gây ra.
Bảng 1: Tỷ trọng chi phí do hạn ngạch gây ra trong tổng chi phí XK
Nước
US/Canada (%) EU (%)
Dệt May
mặc
Dệt May mặc
Bangladesh 15.3 8.1 8.4 7.3
Trung Quốc 20.0 33.0 12.0 15
Hồng Kông, Trung Quốc 1.0 10.0 1.0 5.0
Hungary 6.9 5.0 0 0
Ấn Độ 9.8 34.2 12.0 15.2
Indonesia 8.1 7.8 6.3 6.0
Philippin 6.5 7.8 5.7 6.0
Ba Lan 6.9 5.0 0 0
Sri Lanka 15.3 8.3 5.5 6.6
Thái Lan 8.3 13.2 6.4 7.8
Thổ Nhĩ Kỳ 7.0 4.9 1.5 0
Việt Nam 6.9 7.1 7.5 7.2
Các nước trung Âu khác 6.9 5.0 0 0
Nguồn: Hildegunn Kyvik Nordas (2004), The Global Textile and Clothing Industry post
the Agreement on Textiles and Clothing, WTO – Cẩm nang hội nhập
Các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi hơn trong thủ tục xuất khẩu, từ
đó tăng kim ngạch xuất khẩu
Cơ chế hạn ngạch làm nảy sinh những vấn đề xã hội như nạn tham
nhũng, tiêu cực và sách nhiễu doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các
doanh nghiệp có năng lực sản xuất và chất lượng hàng hóa tốt lại không có
cơ hội xuất khẩu do không có hạn ngạch. Việc xóa bỏ hạn ngạch của các
tổng FDI vào Việt Nam là 4,1 tỷ USD, trong đó số FDI vào ngành dệt may
là 3.215 triệu USD (vốn đăng ký) với tổng số dự án là 534 từ 28 quốc gia và
vùng lãnh thổ.
Như vậy, với những thay đổi trong hệ thống pháp lý của Việt Nam qua
tiến trình đàm phán gia nhập sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao
tính minh bạch và trách nhiệm trong các quy định liên quan đến đầu tư, và
như vậy, sẽ tạo nên môi trường thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư cả trong và
ngoài nước, trong đó đương nhiên có các nhà đầu tư vào ngành dệt là ngành
thượng nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành may Việt Nam, là yếu tố
quan trọng cho việc phát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam.
2.4.2 Thách thức
Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ
Việc gia nhập WTO một mặt làm tăng cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu, đặc
biệt là sang các thị trường đang áp dụng hạn ngạch đối với Việt Nam, nhưng
một mặt cũng kèm theo nguy cơ bị các thành viên, đặc biệt là các thành viên
lớn như Hoa Kỳ, EU áp dụng biện pháp tự vệ.
Trung Quốc là một bài học về vấn đề này. Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt
may Trung Quốc – nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới – đang bị
ảnh hưởng mạnh do Hoa Kỳ và EU đã và sẽ áp đặt hạn ngạch hoặc tái áp đặt
hạn ngạch đối với nhiều mã hàng theo điều khoản tự vệ Trung Quốc đã nhân
nhượng khi gia nhập WTO. Theo ước tính, những biện pháp hạn chế của
Hoa Kỳ trong thời gian gần đây đã làm giảm tới 30% xuất khẩu của Trung
Quốc vào thị trường này và Trung Quốc đang bị giảm thị phần tại Hoa Kỳ
đối với nhiều mã hàng.
Mặc dù so với Trung Quốc, ngành dệt may Việt Nam có năng lực chỉ
bằng 1/50 và hiện chỉ chiếm 3% thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa
Kỳ. Mặt khác, Việt Nam đa phần chỉ xuất khẩu hàng may sẵn nên không ảnh
hưởng đến ngành công nghiệp dệt của Hoa Kỳ. Tuy nhiên không loại trừ khả
năng khi lượng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh sau khi gia
nhập, Hoa Kỳ và một số thành viên khác sẽ áp dụng biện pháp tự vệ với
điểm gia nhập hình thức trợ cấp dưới dạng cấp phát tiền trực tiếp cho doanh
nghiệp theo doanh số xuất khẩu khi tham gia các chương trình xúc tiến
thương mại và trên thực tế Việt Nam đã bỏ hình thức trợ cấp này từ tháng
7/2005. Như vậy, tác động đối với ngành dệt may đến từ việc Việt Nam sẽ
phải cắt giảm 3 hình thức ưu đãi còn lại - Ưu đãi về tín dụng; Ưu đãi về đầu
tư; Bảo lãnh tín dụng đầu tư thuộc. Như vậy, ngành dệt may sẽ nhận được ít
hỗ trợ hơn từ phía Chính phủ, do đó sẽ bị ảnh hưởng sau khi Việt Nam gia
nhập. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng cụ thể còn tùy thuộc vào khả năng chủ
động, lường trước khó khăn và chủ động điều chỉnh chính sách sản xuất và
xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
hàng dệt may xuất khẩu
3.1 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm
- Tạo ra các sân phẩm may mặc đạt tiêu chuẩn quốc tế
- Nghiên cứn thị trường để xây dựng mẫu mã sản phẩm cho phù hợp
với nhu câu, thị hiếu
- Hiện nay nhu cầu sử dụng nguyên liệu tự nhiên trong may mặc ngày
càng gia tăng. Tận dụng tối đa nguyên liệu trong nước như tơ tầm… để sản
xuất ra các sản phẩm co tính cạnh tranh cao
- Tích cực đổi mới công tác quản lý đê tận dụng tốt nguồn lực nhu lao
động, nguyên vật liệu để tạo ra sản phẩm có giá thành hạ có tính cạnh tranh
cao
- Chuyên môn hóa các khâu trong sản xuất sản phẩm
- Phát triển bộ phận nghiên cứu mẫu mã chất lượng
3.2 Nhóm giải pháp về phát triển thị trường xuất khẩu
3.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô
Hoàn thiện chính sách đầu tư
Xây dựng các văn bản đầu tư đơn giản, cần có kế hoạch giới thiệu đầy
đủ các dự án ưu tiên đầu tư, quy hoạch các khu công nghiệp dệt may tập
tay người tiêu dùng các nước trên thế giới với chất lượng, mẫu mã đạt tiêu
chuẩn, chất lượng quốc tế.
Nghiến cứu đối thủ cạnh tranh
Đây là vấn đề rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình
sản xuất sản phẩm, cung úng, giá thành sản phẩm
Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh giúp doanh nghiệp xây dựng các
phương án thích hợp để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Cải tiến phương thức xâm nhập thị trường, phân phối sản
phẩm:
Từ trước tới nay, nếu theo “phương thức tam giác” mà ba đỉnh của
tam giác gồm: “nhà sản xuất - khách hàng - người tiêu dùng" thì các doanh
nghiệp của ta phần lớn đều chấp nhận là nhà sản xuất, còn khách hàng của
họ (người nước ngoài) mới là người khai thác thị trường. Người tiêu dùng ở
các thị trường trên thế giới biết họ với tư cách là nhà cung cấp chứ không
quan tâm đến nhà sản xuất. Do đó, thị trường là của khách hàng, chứ chúng
ta không hề có. Điều này gây cản trở rất lớn nếu các doanh nghiệp tiến tới
bán hàng theo phương thức sản xuất và xuất khẩu trực tiếp. Giải pháp để giải
quyết đồng bộ cả ba yếu tố: “nguyên liệu – thiết kế mẫu – thị trường" là vấn
đề cấp bách trong quá trình mở rộng, tìm kiếm thị trường xuất khẩu trong
tương lai.
Quản lý, nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật:
Quan trọng nhất là ngành dệt: thực trạng hiện nay về kỹ thuật công
nghệ của các doanh nghiệp dệt may, nhất là các doanh nghiệp dệt ở trong
tình trạng phổ biến là lạc hậu, thời gian sử dụng quá lâu, thiết bị côngnghệ
qua cả thời kỳ khấu hao, phương thức sản xuất kinh doanh chậm được đổi