Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Trong một nền kinh tế thị trường nhiều biến động hiện nay thì quá
trình quản lý điều hành của nhà nước không thể không được nói đến. Mục
tiêu thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
đồng thời phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
thì một trong những thành phần không thể thiếu đó là các doanh nghiệp sẽ
giúp nhà nước thực thi và định hướng hàng đầu của đất nước về kinh tế.
Cơ chế thị trường hoạt động chủ yếu theo quy luật hàng hoá và cạnh tranh
đáp ứng yêu cầu. Các yêu cầu luôn được thay đổi cùng với thời gian và cùng
với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trong
vòng xoáy của cơ chế thì không thể tránh khỏi cuộc cạnh tranh đầy lành
mạnh này, thì cần phải có nhiều biện pháp chiến lược mục tiêu sản xuất kinh
doanh đúng đắn và hiệu quả nhất, trong đó việc quản lý nâng cao chất lượng
sản phẩm là yếu tố cần thiết để một doanh nghiệp có thể khẳng định vị thế
và uy tín của mình trong thị trường một cách đích xác nhất
Khách hàng số đông ngày càng ủng hộ các doanh nghiệp sản xuất ngày
càng nhiều sản phẩm chất lượng cao hơn và mang tính phúc lợi cho người
tiêu dùng cao nhất, đứng trước những nhu cầu như vậy mỗi doanh nghiệp
cần nhận thức được tầm quan trọng mình trong việc nâng cao chất lượng sản
phẩm, luôn tạo cho mình sản phẩm có chất lượng vượt trội hơn cả. Là một
sinh viên qua quá trình thực tập em nhận thấy đây là một vấn đề bức xúc của
nhiều doanh nghiệp trong hiện nay do đó em đã chọn đề tài “Hoàn thiện
quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty Da Giầy Hà Nội”
Nội dung chuyên đề được trình bầy thành 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm
của Doanh Nghiệp.
Chương II: Thực trạng về chất lượng sản phẩm và hoạt động của Công ty
Da Giầy Hà Nội trong quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương III: Một số giải pháp quản lý nhằm duy trì và nâng cao chất
chúng ta có thể nhận được nhiều câu trả lời rất khác nhau tuỳ theo góc nhìn
của người quan sát.
1. Theo quan điểm của Mác: “Sản phẩm hàng hoá luôn có hai thuộc tính
đó là : Giá trị và giá trị sử dụng”. Người tiêu dùng mua hàng không vì giá trị
mà vì giá trị sử dụng của nó nên Mác khái niệm rằng “Chất lượng là thước đo
mức độ hữu Ých của giá trị sử dụng , biểu thị trình độ giá trị sử dụng của
hàng hoá”.
2. Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for
Quality Control) cho rằng :”Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối
với yêu cầu của người tiêu dùng”.
3. Theo tiêu chuẩn Pháp NFX50 – 109 : Đối với nhà sản xuất : “Chất
lượng có nghĩa là phải đáp ứng những chỉ tiêu kỹ thuật đề ra cho sản phẩm”.
Đối với người bán lẻ : “Chất lượng nằm trong con mắt người mua”.
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4. Đối với tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá chất lượng ISO : “Chất lượng
là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho nó khả
năng thoả mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn tiềm Èn”.
Từ những điểm hội tụ chung của các cách hiểu không giống nhau có thể
đưa ra định nghĩa sau về chất lượng sản phẩm : “Chất lượng sản phẩm là các
thuộc tính có giá trị của sản phẩm mà nhờ đó sản phẩm được ưa thích, đắt giá
và ngược lại.” (Giáo trình khoa học quản lý – TậpII – Trang 424).
Chất lượng sản phẩm bao gồm tổng hợp các yếu tố phản ánh thuộc tính
của sản phẩm. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc nhau.
Các thuộc tính phản ánh tính năng tác dụng của sản phẩm. Các tính năng tác
dụng này được quyết định bởi các cơ chế lý, hoá kích thước, kết cấu thành
phần cấu tạo.
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm
- Tuổi thọ của sản phẩm
Chất lượng thực tế thể hiện khả năng và năng lực trình độ sản xuất của
Doanh Nghiệp.
2.3. Chất lượng cho phép
Là chất lượng sản phẩm với mức chênh lệch sai số với chất lượng thiết kế
và chất lượng phê chuẩn một tỷ lệ cho phép, tỷ lệ phế phẩm so với thành
phẩm chấp nhận được.
2.4. Chất lượng tối ưu
Là chất lượng sản phẩm theo thiết kế đạt được ở mức cao nhất trong điều
kiện sản xuất gia công ổn định với những chi phí xã hội thấp.
Chất lượng tối ưu nói lên mối quan hệ giữa việc cải tiến chất lượng với
khả năng tiêu dùng. Nếu cải tiến chất lượng càng cao thì dẫn đến giá sản
phẩm cũng sẽ cao và làm mức tiêu dùng giảm xuống. Do vậy đối với một sản
phẩm được tiêu dùng trong một môi trường kinh tế xã hội nào đó thì phải cải
tiến chất lượng đến một mức độ nhất định sao cho hợp lý.
2.5. Chất lượng chuẩn
Là chất lượng của sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá và được các cấp thẩm
quền phê chuẩn (chất lượng thoả mãn các yêu cầu người tiêu dùng, yêu cầu
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xã hội và doanh nghiệp có thể thực hiện). Để có chất lượng phê chuẩn người
ta căn cứ vào:
1. Các hợp đồng đôi bên đã ký với nhau.
2. Căn cứ vào tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật, chất lượng mẫu chuẩn (của
xí nghiệp, ngành , quốc gia , quốc tế …).
Ví dô : Một đơn vị đo lường là : mét(m), centimet(cm)….
3. Căn cứ vào các văn bản tiêu chuẩn (của xí nghiệp , ngành, quốc gia…)
các chỉ tiêu toêi chuẩn có tính chất pháp lý bắt buộc người sản xuất
phải thực hiện.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
lượng chiếc xe máy không đảm bảo chất lượng như nhà sản xuất đưa ra.
b. Nhóm yếu tố bên ngoài(nhân tố khách quan)
- Thị trường có yếu tố quan trọng tác động đến sản phẩm. Đó là sự đòi hỏi
tất yếu của thị trường về cỡ ,loại, tính năng , kỹ thuật, số lượng, thời điểm
nào. Điều quan trọng ở đây là phải theo dõi, nắm chắc và đánh giá đúng nhu
cầu của thị trường. Từ đó nhà sản xuất nghiên cứu định lượng hàng hoá trên
cơ sở đó mà có đối sách đúng đắn.
- Chính sách kinh tế: Hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm và mức
thoả mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt
ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Ví dụ: Chính sách định khuyến khích
sản xuất những sản phẩm gì và không khuyến khích những sản phẩm gì, với
mức lợi nhuận cần có… Ngay cả chính sách trong sự hợp tác kinh tế, khoa
học kỹ thuật nhằm tạo con đường đặch thù trong phát triển kinh tế trong một
thời kỳ nhất định nào đó cũng trực tiếp chi phối, với sự thuận lợi hay không
thuận lợi cho sự phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ: Trong thời đại ngày nay
khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì chất lượng của
bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị từ chối bởi sự phát triển của khoa
học kỹ thuật đặc biệt là sự ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Hướng chính của việc áp dụng tiến bộ công nghệ hiện nay là:
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sáng tạo và cải tiến và đổi mới công nghệ và cải tiến sản phẩm để từ đó đáp
ứng nhu cầu của thị trường.
- Hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước: Bất cứ sản phẩm nào, dưới chế độ
nào thì chất lượng sản phẩm đều phải chịu tác động bởi cơ chế quản lý kinh
tế, kỹ thuật xã hội nhất định:
Đó là kế hoạch hoá phát triển kinh tế đảm bảo nguyên tắc cân đối các yếu
tố vật chất và tinh thần, cân đối giữa số lượng và chất lượng, cân đối giữa
nhiễm môi trường.
4. Một số tiêu chuẩn đánh giá chất lượng.(Quản lý chất lượng hàng
hoá và dịch vụ-Tiêu chuẩn chất lượng- Trang 43)
Tiêu chuẩn chất lượng hàng công nghiệp tiêu dùng nói riêng :
Tiêu chuẩn Việt cho hàng công nghiệp tiêu dùng được ban hành. Để
việc tiêu chuẩn hoá các sản phẩm hàng hoá được đầy đủ và có hệ thống, đồng
thời tạo điều kiện dễ dàng cho việc nghiên cứu các phương pháp xâu dựng
tiêu chuẩn, các vấn đề tiêu chuẩn hoá cho sản phẩm được phân thành các
nhóm, các vấn để trong mỗi nhóm có nội dung gần nhau hợp thành một loại
tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn ở nước ta được phân thành 6 loại cơ bản:
4.1. Tiêu chuẩn về quy cách.
Tiêu chuẩn về quy cách quy định các dãy thông số kích thước cũng như
các kiểu, loại, dạng, kết cấu, mác cho các sản phẩm, công trình, bộ phận, chi
tiết, vật liệu nhằm loại bỏ các kiểu loại, thông số không hợp lý, lập nên
những kiểu loại, thông số hợp lý, thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tổ chức chuyên môn hoá, hợp tác hoá, tự động hoá quá trình sản xuất, tăng
năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, sử dụng, vận hành và sửa chữa sản
phẩm.
4.2. Tiêu chuẩn về yêu cầu kỹ thuật.
Loại tiêu chuẩn này qui định các yêu cầu cơ bản đối với các tính năng sử
dụng, vận hành và các yêu cầu khác đối với các sản phẩm, nhằm đề ra một
mức chất lượng hợp lý cho sản phẩm. Ngoài ra còn qui định yêu cầu đối với
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nguyên liệu để chế tạo ra sản phẩm nếu chúng ảnh hưởng đến chất lượng của
sản phẩm.
4.3. Tiêu chuẩn về phương pháp thử.
Loại tiêu chuẩn này qui định các phương pháp xác định các chỉ tiêu quy
địn cho sản phẩm đã quy định trong tiêu chuẩn về yêu cầu kỹ thuật nhằm
.Công việc này là một nhu cầu khách quan nó có ý nghĩa trước hết đem lại
năng suất cao, giảm chi phí, làm tăng khối lượng sản phẩm bán được để tăng
thu nhập. Trong điều kiện nhất định nâng cao chất lượng sản phẩm có ý
nghĩa tương đương với tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm cho xã hội.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tính năng tác dụng, tuổi thọ,
độ an toàn của sản phẩm, giảm mức gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm được
nguồn tài nguyên tăng giá trị sử dụng, nhờ đó làm tăng khả năng tích luỹ cho
tái sản xuất mở rộng, hiện đại hoá công nghệ máy móc, thiết bị, tăng năng
suất lao động và nâng cao đời sống xã hội.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, tạo uy tín cho Doanh Nghiệp thâm nhập và mở rộng thị trường khắc
phục được tình trạng sản xuất ra không tiêu thụ được dẫn tới sản xuất bị
ngừng trệ, người lao động không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.
- Nâng cao chất lượng làm sản phảm tiêu thụ được nhiều hơn, tăng doanh
thu, tang lợi nhuận, tăng khả năng quay vòng vốn giúp công ty ngày càng
đứng vững và phát triển.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm mang lại lợi Ých cho tất cả mọi đối tượng
trong nền kinh tế và phúc lợi cho toàn xã hội.
+ Người lao dộng sẽ có thu nhập cao , ổn định từ kết quả chất lượng sản
phẩm cao.
+ Nhà nước tăng được nguồn thu ngân sách từ sự phát triển thành công
của Doanh Nghiệp .
+ Người tiêu dùng được sử dụng các sản phẩm có giá trị sử dụng cao hơn
phù hợp với nhu cầu của mình với cùng một chi phí tài chính.
Nhà nước cần tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích các Doanh
Nghiệp , các nhà sản xuất không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng sản
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm. Chất lượng sản phẩm phải được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
Quản lý chất lượng là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng
thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao
nhất được tiến hành ở tất cả các quá trình, hình thành chất lượng và là trách
nhiệm của tất cả các cấp từ cán bộ lãnh đạo chỉ đạo đối với mọi thành viên
trong tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh.
- Từ những điểm chung của các định nghĩa không giống nhau ở trên có
thể hiểu quản lý chất lượng theo cách nhìn khoa học là “việc Ên định đúng
đắn các mục tiêu phát triển bền vững của hệ thống, đề ra nhiệm vụ phải làm
cho hệ thống trong từng thời kỳ và tìm ra con đường đạt tới các mục tiêu một
cách có hiệu quả nhất” (Giáo trình khoa học quản lý – tập II – Trang 427)
Mục tiêu của quản lý chất lượng trong các hệ thống là đảm bảo chất lượng
sản phẩm với chi phí tối ưu. Thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng sẽ
giúp các hệ thống phản ứng nhanh với môi trường, góp phần giảm tối đa chi
phí tạo ra sản phẩm của hệ thống.
2. Các chức năng trong quản lý chất lượng.(Giáo trình khoa học quản
lý tập II – Quản lý chất lượng – Trang 419)
2.1. Chức năng hoạch định chất lượng.
Hoạch định là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng
khác của quản lý chất lượng.
Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương
tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm.
Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là:
- Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản
phẩm hàng hoá dịch vụ, từ đó xác định các yêu cầu về chất lượng, các thông
số kỹ thuật của sản phẩm dịch vụ và thiết kế sản phẩm dịch vụ.
- Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt được và chính sách
chất lượng của doanh nghiệp.
- Chuyển giao các kết quả hoạch định cho các bộ phận tác nghiệp.
+ Hoạch định chất lượng có tác dụng:
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu mục tiêu không đạ được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hải điều
trên không thoả mãn.
2.4. Chức năng kích thích.
Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thông
qua áp dụng chế độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động và áp
dụng giải thưởng quốc gia về đảm boả và nâng cao chất lượng
2.5. Chức năng điều chỉnh, điều hoà, phối hợp
Nhằm tạo ra sự phối hợp do dòng bộ, khắc phục các tồn tại và đưa chất
lượng sản phẩm lên mức cao hơn trước nhằm giảm dần khoảng cách giữa
những mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được, thoả mãn
khách hàng ở mức cao hơn.
Hoạt động điều chỉnh, điều hoà phối hợp đối với quản lý chất lượng được
hiểu rõ ở nhiệm vụ cải tiến và hoàn thiện chất lượng.
Khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phải phân biệt rõ ràng giữa
việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả.
Sửa lại những phế phẩm và phát hiện những lầm lẫn trong quá trình sản
xuất bằng là việc thêm thời gian là những hoạt động xoá bỏ hậu quả chứ
không phải nguyên nhân.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI TRONG QUẢN LÝ
VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.
1. Quá trình hình thành và phát triển công ty:
• Giai đoạn từ 1912-1954:
Công ty có tên gọi là”Công ty thuộc Da Đông Dương”một công ty thuộc
da lớn nhất Đông Dương thời đó. Công ty hoạt động dưới cơ chế quản lý
TBCN. Nhiệm vụ sản xuất thời kỳ này là phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm
quả. Nhà nước cho phép các Doanh nghiệp được tách ra hoạ động độc lập.
“Nhà máy da giầy Thụy Khuê” cũng nằm trong số đó. Lúc này nhà máy trực
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuộc bộ Công Nghiệp nhẹ và xuất khẩu trực tiếp. Tháng 12/1992 “Nhà máy
Da Thụy Khuê” được đổi tên thành “Công ty Da Giày Thụy Khuê Hà Nội”
theo quyết định số 1310/CN-TCLĐ ngày của bộ trưởng bộ Công
Nghệp nhẹ kèm theo điều lệ công ty.
o Giai đoạn từ 1993- nay:
Theo quyết định số 338/CNN/TCLĐ ngày của bộ Công
Nghiệp Nhẹ ra quyết định thành lập lại công ty và lấy tên doanh nghiệp là
“Công ty Da Giầy Hà Nội”.
- Tên giao dịch quốc tế là: HANSHOES (Hà Nội leaths anh shoes
companny)
- Trụ sở chính: Số 489 Đường Nguyễn Tam Trinh – Phường Mai Động
– Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội .
- Tel: 84.4.8621254-8626889-8627879
- Fax:84.4.8624811
- Website:http://www.hanshoes.com.vn
- Email:
+ Nhiệm vụ: Công ty Da Giầy Hà Nội là một doanh nghiệp thành viên
hạch toán độc lập của tổng Công ty Da Giầy Việt . Công Ty là Doanh
nghiệp nhà nước sản xuất và kinh doanh các sản phẩm da thuộc, các sản
phẩm chế biến từ Da và giả da, giầy các loại, vật tư máy móc thiết bị và hoá
chất phục vụ ngành Da giầy.
+ Nhiệm vụ: Từ khi thành lập đến nay công ty đã trải qua quá trình phát
triển khá dài và có một số thay đổi cơ bản trong nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh cũng như tên gọi của cơ quan chủ quản.
Từ tháng 6/1996 Công ty trở thành thành viên của Tổng công ty Da giầy
!
'
!
(
)
!
(*
+
,-
.!
!
/0
Liªn doanh
hµ viÖt-tung shing
1 23
'
456
'
'78
9:
'
45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Ban giám đốc bao gồm: Một giám đốc và hai phó giám đốc
- Giám đốc điều hành chung cả công ty và trực tiếp điều hành các bộ
phần sau:
+ Phòng kinh doanh
người bán.
+ Một thủ kho.
- Phòng kinh doanh tổng hợp có chức năng: Phục vụ cho sản xuất kinh
doanh trực tiếp của công ty. Phòng thực hiện việc xây dựng kế hoạch, tổ
chức chỉ đạo việc thực hiện, tìm kiếm và bảo đảm các yếu tố đầu vào theo
phân cấp của công ty kịp thời và hiệu quả cho các nhu cầu nội bộ của công
ty.
- Phòng kế hoạch có chức năng: Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
tháng, quý, năm của công ty. Phổ biến và phối hợp thực hiện với các tổ bộ
phận, các khâu liên quan trong công ty.
- Phòng tổ chức nhân sự – lao động có chức năng:
+ Tham mưu cho giám đốc trong việc đổi mới kiện toàn cơ cáu tổ chức
quản lý, sản xuất kinh doanh của công ty.
+ Thực hiện đầy đủ các chức năng này liên quan đến nhân sự lao động
của công ty.
+ Thực hiện chức năng bảo vệ nội bộ, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn
cho công ty.
- Phòng xuất nhập khẩu có chức năng: Xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu
các yếu tố sản xuất theo quy định của đăng ký kinh doanh ghi trong điều lệ
tổ chức và hoạt động của công ty.
- Phòng quản lý chất lượng (Phòng ISO) có chức năng: Quản lý chất
lượng thống nhất trong toàn bộ công ty trên các mặt: Hoạch định – thực
hiện – kiểm tra bằng hoạt động điều chỉnh và cải tiến.
- Văn phòng có chức năng: Giúp việc giám đốc công ty trong lĩnh vực
hành chính tổng hợp và đối ngoại, điều hoà các mối quan hệ giữa các bộ
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phận trong công ty, xây dựng công ty thành một khối thống nhất hướng tới
mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh củng cố và phát huy vị thế của
số công nhân của công ty. Tỷ lệ 10% này có thể coi là phù hợp đối với một
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Qua thực tế số lượng lao động trong
công ty tăng lên với một tỷ lệ tương đối lớn qua các năm, điều này chứng
tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Tuy nhiên từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm hàng năm công ty
đã mở các lớp bồi dưỡng nâng cao tay nghề, tổ chức thi nâng bậc cho công
nhân , tạo ra một đội ngũ công nhân có trình độ cao tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty. Đồng thời công ty đã có quy chế về mức thưởng ,
phạt cụ thể cho những người lao động giỏi và ngững người lao động kém ,
từ đó tạo ra không khí làm việc thoải mái vui vẻ với tinh thần quyết tâm
cao độ trong sản xuất , khuyến khích và động viên những tinh thần sáng
tạo trong lao động sản xuất , phát huy có hiệu quả yếu tố con người trong
sản xuất kinh doanh – tăng sức cạnh tranh cao cho doanh nghiệp trên thị
trường, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Bảng 1: Số lượng lao động và cơ cấu trình độ của công ty da giầy Hà
Nội
STT Trình độ chuyên môn
Đảng
viên
Giới tính
Nữ
1 Không 30 95 215
2 Tiến sĩ 1 1
3 Đại học 36 36 34
4 Cao đẳng 5 6 13
5 Trung cấp 6 19 13
6 Sơ cấp 5 7 3
Tổng sè 83 166 278
3.2. Đặc điểm về máy móc thiết bị và quy trình sản xuất sản phẩm:
trong khâu dự trữ nhằm phục vụ cho sản xuất và cơ sở vật chất để hình
thành lên thực thể của sản phẩm. Trong quá trình sản xuất, vật liệu chỉ
tham gia vào một chu kỳ. Về mặt hiện vật khi tham gia vào quá trình sản
xuất thì vật liệu không còn hình dạng ban đầu. Về mặt giá trị, vật liệu
chuyển dịch một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm. Ví dụ vải khi đưa
vào quy trình công nghề sản xuất giấy vải (qua công đoạn chặt mảnh, may
Đinh Trọng Hoạt – Quản lý kinh tế 43A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gò ráp …) nã hao phí toàn bộ và giá trị của nó chuyển dịch một lần vào
sản phẩm. Số vải đó sau khi trải qua các công đoạn đa hình thành nên sản
phảm giầy vải với hình thái vật chất khác hẳn ban đầu.
Về mặt chi phí vật liệu chiém tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản
xuất đặc biệt là chi phí nguyên vật liệu chính. Do đó khi có sự biến động
(dù nhỏ) của chi phí nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng ngay tới giá thành sản
phẩm. Do vậy công ty phải có biện pháp quản lý vật liệu thật tốt tránh tình
trạng mát mát, hư hỏng là ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của
công ty.
Căn cứ vào nội dung công cụ kinh tế của vật liệu trong quá trình sản
xuất công ty phân loại các loại vật liệu như sau:
- Nguyên vật liệu chính : Là đối tượng lao động chủ yếu của công ty là
cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phảm và hình thành nên chi
phí nguyên vạt liệu trực tiếp. Nguyên vật liệu chính bao gồm da, vải, cao
su.
- Nguyên vật liệu phụ: Tuy không là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành
nên snr phẩm mới nhưng vật liệu phụ lại có tác dụng làm hoàn chỉnh sản
phẩm, tăng chất lượng sản phẩm.
- Nhiên liệu: Được sử dụng để chạy các loại máy móc, nhằm hoàn thiện
sản phẩm như máy hấp, máy sấy.
- Phụ tùng thay thế: Là các loại chi tiết phụ tùng, máy móc thết bị mà