trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
khoa thơng mại
o0o
luận văn tốt nghiệp
Đề tài:
giải pháp hoàn thiện hoạt động gia công
xuất khẩu hàng may mặc tại công ty 20
Giáo viên hớng dẫn : pgs.ts. nguyễn thừa lộc
Sinh viên thực hiện : nguyễn thị anh đào
Lớp : tmqt 45 - QN
Hà Nội, 07/2007
CHNG I
NHNG VN CHUNG V GIA CễNG XUT KHU
HNG MAY MC CA DOANH NGHIP
I. KHI NIM V C IM GIA CễNG XUT KHU
1. Khái niệm gia công xuất khẩu:
“Gia công hàng xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong
đó, người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: Máy móc, thiết bị, nguyên phụ
liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia
công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách.
Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia
công để nhận tiền công”
1
.
2. Đặc điểm hoạt động gia công xuất khẩu:
2.1. Sản xuất gắn liền với thương mại
Hình thức gia công xuất khẩu ngày nay khá phổ biến trong buôn bán
ngoại thương của nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này
giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận
gia công. Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết
công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị
đáp ứng nhu cầu thông tin về thị trường cho các doanh nghiệp. Trong khi đó,
do nguồn lực tài chính và khả năng cán bộ còn hạn chế, các doanh nghiệp
Việt Nam chưa đủ khả năng tham gia thường xuyên các hội chợ triển lãm
quốc tế, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, thiết lập văn phòng đại
diện ở nước ngoài. Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn chưa biết cách khai thác
thông tin về thị trường trên mạng internet một cách hiệu quả.
2.3. Nội lực và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên
thị trường tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp
Việt Nam vẫn được coi là nước có nguồn lao động thành thạo và giá rẻ
hơn so với nhiều nước trong khu vực. Song lợi thế này, nếu tính toán chi tiết
lại không lớn do năng suất lao động của công nhân Việt Nam chỉ bằng 2/3 so
với các nước khác. Do vậy, để đảm bảo tiến độ giao hàng đã cam kết, hầu hết
các doanh nghiệp Việt Nam phải tăng ca giãn giờ. Điều này đã ảnh hưởng
nhiều đến việc tổ chức sản xuất để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. “Bộ Luật
Lao Động của Việt Nam qui định số giờ của mỗi người lao động trong các
doanh nghiệp làm thêm giờ không quá 4h trong 1 ngày, 200 giờ/ năm”
2
.
Nhiều doanh nghiệp muốn làm thêm ngoài số giờ quy định này, phải có sự
thoả thuận của người lao động. Điều này đã làm cho nhiều doanh nghiệp rất
lúng túng khi phải thực hiện những đơn hàng gấp về thời gian.
Một thực tế đang tồn tại hiện nay trong ngành may là sự dịch chuyển lao
động giữa các doanh nghiệp cùng ngành và với các doanh nghiệp khác là do
điều kiện lao động và thu nhập của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã
phải liên tục tuyển lao động mới, khiến chất lượng lao động không đồng đều,
ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, năng suất lao động và hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp đã không ký được hợp đồng
dài hạn với công nhân do công nhân không yên tâm sản xuất. Chính vì vậy,
kỹ năng lao động của ngành may Việt Nam thường không cao, ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng nhận gia công.
sản xuất. Đẩy mạnh xuất khẩu đồng nghĩa với việc sử dụng những yếu tố có
sẵn trong nước, giúp các nước có khả năng cải thiện được cán cân thanh toán
quốc tế, thu về nguồn ngoại tệ cho đất nước mình.
Cùng với nhiều ngành công nghiệp khác, ngành dệt may đã có những
đóng góp quan trọng vào xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.Từ
năm 1994, ngành dệt may đã vươn lên hàng thứ 2 trong 10 mặt hàng xuất
khẩu có giá trị lớn của đất nước, trong đó, phần đóng góp chủ yếu là từ gia
công xuất khẩu hàng may mặc (chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may). Kim ngạch xuất khẩu từ dệt may đem lại nguồn thu ngoại tệ, mặt
khác cũng chính nguồn ngoại tệ nàyđược sử dụng để nhập khẩu máy móc,
trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh.
Qúa trình công nghiệp hoá ở nhiều nước, trong giai đoạn phát triển sản
xuất hàng may mặc thường đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo được nhu cầu tiêu
dùng của người dân, có khả năng tạo được công ăn việc làm, tăng thu lợi nhuận
tích luỹ, làm tiền đề cho phát triển các ngành công nghiệp khác.
b. Thu hút lao động xã hội, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và
tạo sự ổn định chính trị- xã hội
Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá lâu
đời, tuy nhiên về mặt kinh tế thì nước ta vẫn thuộc diện nước nghèo trong khu
vực và trên thế giới. Hiện nay, dân số nước ta hơn 80 triệu người với mức thu
nhập bình quân đầu người còn khá khiêm tốn, khoảng 640USD/năm
3
. Phân
công lao động trong nước còn chưa phát triển, phần lớn lao động vẫn tập
trung ở vùng nông thôn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Tình trạng
lao động dư thừa khá phổ biến ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, đặc
biệt ở các vùng nông thôn, miền núi.
Theo niên giám thống kê năm 2006, toàn ngành dệt may Việt Nam hiện
thu hút một lực lượng lao động 2 triệu người, trong đó trên 80% lao động hoạt
động trong lĩnh vực may mặc, mà chủ yếu là gia công xuất khẩu (nguồn:
là Mỹ, EU và Nhật Bản. Hoạt động gia công xuất khẩu tạo điều kiện thu hút
đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp đồng hợp tác kinh
doanh, các hoạt động liên doanh liên kết để xuất khẩu hàng may mặc, rất
nhiều các doanh nghiệp Việt Nam qua các đơn hàng đã nâng cao được trang
thiết bị công nghệ, tiếp thu, học hỏi được nhiều kinh nghiệm sản xuất nhờ sự
giúp đỡ từ phía các khách hàng nước ngoài.
II. HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG VÀ PHÂN LOẠI GIA CÔNG HÀNG HOÁ
1. Hợp đồng gia công xuất khẩu:
“Hợp đồng gia công xuất khẩu là sự thoả thuận giữa hai bên đặt gia
công và nhận gia công. Trong đó bên đặt gia công là một cá nhân hay một tổ
chức kinh doanh ở nước ngoài. Còn bên nhận gia công Việt Nam trong Điều 9
về gia công với thương nhân nước ngoài theo tinh thần Nghị định
12/2006/NĐ- CP về chi tiết thi hành Luật Thương mại Việt Nam nêu rõ:
Thương nhân Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế được phép nhận gia
công cho các thương nhân nước ngoài, không hạn chế số lượng, chủng loại
hàng gia công. Đối với hàng gia công thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu,
cấm nhập khẩu và tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân chỉ được ký hợp
đồng sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Thương mại”
4
MMTB,NPL,BTP, mẫu hàng
Tiền công gia công Trả sản phẩm hoàn chỉnh
2. Nội dung hợp đồng gia công:
“Theo chi tiết thi hành Luật Thương mại - Nghị định 12/2006/NĐ-CP của
Việt Nam Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản, bao gồm 10 nội
dung sau:
a. Tên,địa chỉ của các bên ký hợp đồng
nhận gia công muốn có chứng từ để đi nhận nguyên vật liệu thì phải
trả tiền. Hình thức này được áp dụng khi gia công theo cách “ mua
nguyên liệu và bán lại thành phẩm”
- Thanh toán bằng thư tín dụng, bên nhận gia công phải mở L/C
ngay để đảm bảo trả ngay tiền nguyên vật liệu chính.
e. Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu
và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước( nếu có) để gia
công, định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, định mức vật
tư tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu trong gia công.
f. Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng
để phục vụ gia công ( nếu có )xz
g. Biện pháp xử lý phế liệu,phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc,
thiết bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết
thúc hợp đồng gia công.
h. Địa điểm và thời gian giao hàng, trong khá nhiều hợp đồng gia công
quốc tế, chúng ta thường quy định FOB cảng Việt Nam.
i. Nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hang hoá
j. Thời hạn và hiệu lực hợp đồng, điều kiện trọng tài
Về các vấn đề:
- Định mức sử dụng, định mức tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu,
phụ liệu, vật tư được qui định ở Điều 31 của Nghị định
12/2006/NĐ- CP ngày 23/01/2006
- Về thuê, mượn, nhập khẩu máy móc thiết bị bên đặt gia công để
thực hiện hợp đồng gia công , điều 32 của Nghị định 12/2006/NĐ-
CP
- Về quyền và nghĩa vụ của bên đặt và bên nhận gia công
Về qui chế thủ tục hải quan đối với hàng gia công khi xuất khẩu, nhập
khẩu; về vấn đề gia công chuyển tiếp; thanh lý, thanh khoản hợp đồng gia
công, điều 33, 34, 35, 36 của Nghị định 12/2006/NĐ/CP”
5
chiếc)
Tổng giá trị
(USD )
áo jacket nam&nữ 120.000 FREE 4.00 480.000
áo jacket nữ 40.000 FREE 3.50 140.000
áo Vest 10.000 FREE 2.50 25.000
Quần áo trẻ em 120.000 FREE 1,70 204.000
Quần âu 200.000 FREE 1.50 300.000
Aó sơ mi 100.000 FREE 1.50 150.000
Tổng số 590.000 1.299.000
Tên mã hàng, số lượng và đơn giá gia công của mỗi mã hàng sẽ được
nêu chi tiết trong các bản Phụ lục của hợp đồng này.
Gía trên được hiểu là giá FOB Hải Phòng/ Nội Bài, Incoterm 2000
ĐIỀU II/ GIAO NGUYÊN PHỤ LIỆU:
1/ Bên A có trách nhiệm cung cấp nguyên phụ liệu cần thiết không
thùng carton miễn phí theo CIF hoặc C&F Hải Phòng/ Nội Bài đúng thời gian
và đồng bộ với số lượng và chất lượng cho việc gia công, cộng thêm 3% tiêu
hao nguyên phụ liệu.
Tên và số lượng nguyên phụ liệu được thể hiện chính xác và rõ ràng trên
vận đơn và các chứng từ giao hàng khác để Bên B làm thủ tục thông quan.
Dưới sự xác nhận của Bên A, trong trường hợp thiếu nguyên phụ liệu
thì Bên B có thể cung cấp các nguyên phụ liệu thiếu để sản xuất. Phần nguyên
phụ liệu cung cấp thêm này sẽ được bên ngoài trị giá gia công.
Sau khi hoàn thành việc thanh khoản với hợp đồng hải quan Việt Nam,
phần nguyên phụ liệu còn thừa( nếu có) sẽ được chuyển sang hợp đồng trong
năm kế tiếp 2007 hoặc và những nguyên phụ liệu không đảm bảo chất lượng
sẽ được tái sản xuất trở lại cho Bên A( chi phí tái xuất do Bên A chịu )
2/ Bên A sẽ chuyển cho Bên B các chứng từ cần thiết cho việc nhận
nguyên phụ liệu chậm nhất là 04 ngày làm việc trước khi tàu cập cảng Hải
Phòng. Bên A phải chịu trách nhiệm trong việc chậm chuyển chứng từ làm
Bên A và gửi sang cho các kỹ thuật viên của Bên A đánh giá. Mẫu đối ứng do
Bên B sản xuất đã được Bên A xác nhận sẽ được coi là mẫu chuẩn để đối chiếu
chất lượng và sản xuất hàng loạt cũng như giải quyết khiếu nại( nếu có ).
3/ Trong trường hợp tăng định mức nguyên phụ liệu thì trước khi cắt
phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bên A.
4/ Đại diện của Bên A sẽ kiểm tra hàng hoá trong quá trình sản xuất và
trước khi giao hàng, Và người đại diện có thể trợ giúp kỹ thuật cho Bên B để
giải quyết các vấn đề phát sinh, đảm bảo cho việc sản xuất liên tục.
ĐIỀU IV/ GIAO THÀNH PHẨM:
- Thời gian giao hàng: Qui định cụ thể trong từng phụ lục và/ hoặc được
Bên A thông báo bằng fax ít nhất 03 ngày trước ngày giao hàng ( trừ thứ 7,
chủ nhật, ngày lễ ) cho Bên B. Thời gian giao thành phẩm sẽ chậm tương ứng
với mọi sự chậm trễ của Bên A trong việc cung cấp nguyên phụ liệu và/ hoặc
thay đổi chi tiết kỹ thuật trong quá trình sản xuất.
- Cảng đến: Do Bên A thông báo ít nhất 3 ngày cho Bên B ( trừ thứ 7,
chủ nhật và ngày lễ ).
- Phương thức giao hàng: Bằng container 20
,
- 40
,
hoặc giao từng chuyến
theo điều kiện: Mỗi mã hàng không được xuất quá một lần bằng đường biển
và 1 lần bằng đường hàng không. Nếu xuất nhiều hơn số lần quy định, mọi
chi phí giao hàng sẽ do Bên A chịu.
- Xuất xứ hàng hoá của hợp đồng: Việt Nam.
ĐIỀU/ MẪU V:
Số lượng mẫu gửi cho Bên A: 01 chiếc mẫu đối trước khi sản xuất
hàng loạt và 02- 03 chiếc/ mã hàng trước khi giao hàng đối với những mã
hàng có số lượng ít nhất 5.000 sản phẩm. Nếu sản lượng một mã hàng ít
hơn 5.000, Bên A được nhận 01 mẫu đối trước khi sản xuất và một mẫu
Hợp đồng này được làm thành 04 bản bằng tiếng Anh và 04 bản tiếng Việt
ngày 16-12-2005. Mỗi Bên giữ 02 bản để thực hiện. Hợp đồng này có hiệu
lực kể từ ngày ký đến 31-12-2006.
FOR GATEXCO 20 FOR POONGSHIN CO
3. Phân loại gia công hàng hoá
6
:
3.1. Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành
dưới các hình thức sau đây:
3.1.1. Hình thức nhận nguyên liệu giao thành phẩm:
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia
công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia
công. Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên
liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
3.1.2. Hình thức mua đứt bán đoạn:
Dựa trên hợp đồng mua bán dài hạn với nước ngoài. Bên đặt gia công bán
đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ
mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên vật liệu
chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.
3.1.3. Hình thức kết hợp:
Trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính, còn
bên nhận gia công cung cấp những nguyên phụ liệu.
Quan hệ giữa người đặt gia công và người thực hiện gia công đặt trên cơ sở
hợp đồng gia công.
3.1.4. Hình thức gia công theo mẫu
Đây là hình thức gia công mà bên đặt gia công cung cấp nguyên liệu,
chỉ định nơi cung cấp nguyên liệu, chỉ định màu sắc, qui cách theo mẫu mà
bên đặt gia công đã cung cấp, phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật như trong hợp
đồng đã qui định.
6
công cụ giúp cho doanh nghiệp bán hàng được nhanh và nhiều, nó vừa là
phương tiện dẫn dắt khách hàng mới đến với doanh nghiệp. Vì vậy quảng cáo
là động lực của buôn bán.
2. Lựa chọn đối tác
Đây là công việc gặp nhiều khó khăn, thường phụ thuộc nhiều yếu tố,
từ bản thân chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, đến chiến dịch
marketing, quảng cáo và mối quan hệ của doanh nghiệp. Để đạt được mục
tiêu này doanh nghiệp cần:
Thứ nhất, công ty khi đã xác định được loại hình kinh doanh, sản phẩm
mà công ty định cung cấp cho thị trường và những lợi ích sản phẩm đó đem
lại cho khách hàng, đây cũng là nội dung được đề cập trong bản kế hoạch
kinh doanh.
Thứ hai, tự tạo ra cơ hội tiếp xúc với các đối tác hàng tiềm năng thông
qua việc tham gia vào các tổ chức, hiệp hội. Đồng thời, hãy tận dụng cơ hội
khi tham gia các sự kiện để quảng bá cho hình ảnh của công ty thông qua
nhiều hình thức khác nhau. Thứ ba, viết bài về những vấn đề quan tâm của
đối tác tiềm năng, cung cấp thông tin thiết thực về sản phẩm- dịch vụ của
doanh nghiệp, mời họ trao đổi các loại ấn phẩm thương mại, qua đó thương
hiệu, sản phẩm của công ty sẽ được nhiều đối tác biết đến. Thứ tư, tham gia
các hoạt động có tính chất xã hội như làm từ thiện, tài trợ nhằm làm cho
hình ảnh của công ty được biết đến nhiều hơn trong cộng đồng doanh nghiệp.
Thứ năm, tạo mối quan hệ với các doanh nghiệp, các chuyên gia hoạt động
trong ngành kinh doanh của doanh nghiệp mình, bởi họ có thể giúp mình
trong việc tìm kiếm đối tác, đồng thời cũng có thể đem lại cho doanh nghiệp
những hợp đồng hấp dẫn.
3. Giao dịch, đàm phán ký hợp đồng
Đàm phán là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên tiến hành thương
lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất
đồng để đi tới một thoả thuận mà các bên cùng có lợi. Hai bên sẽ cùng nhau
thảo luận những thông tin được đưa ra trong quá trình giao dịch. Có thể sẽ
giá hợp đồng là không thể thiếu trong hoạt động gia công xuất khẩu của
công ty.
IV. CÁC QUI ĐỊNH VỀ GIA CÔNG TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI
“Điều 179. Gia công trong thương mại
Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên
nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên
gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất
theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.
Điều 180. Hàng hoá gia công
1. Tất cả các loại hàng hoá đều có thể được gia công, trừ trường hợp hàng hoá
thuộc diện cấm kinh doanh.
2. Trường hợp gia công hàng hoá cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở
nước ngoài thì hàng hoá thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm
nhập khẩu có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cho phép.
Điều 181. Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công
1. Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theo đúng hợp
đồng gia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượng và
mức giá thoả thuân.
2. Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho
mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia
công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Bán, tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho
thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu theo thoả thuận và
phù hợp với qui định của pháp luật.
4. Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia công tại nơi nhận gia công,
cử chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm
gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công.
5. Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của hàng
hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để gia công
.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
HÀNG MAY MẶC TẠI CÔNG TY 20 – TCHC
I. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
7
Chương IV, mục 1 “Gia công trong thương mại” – tài liệu tham khảo số 6 (Tài liệu tham khảo)
CÔNG TY 20
1. Qúa trình hình thành và phát triển của công ty 20
Công ty được thành lập vào ngày 18 tháng 2 năm 1957, thuộc Tổng
Cục Hậu Cần- BQP. Công ty có tên giao dịch là Công ty 20 (Gatexco 20 ).
Trụ sở giao dịch chính tại 35, Phan Đình Giót, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Hiện nay Công ty có hơn 4000 cán bộ công nhân viên với trình độ quản
lý và chuyên môn cao. Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố vô cùng quan trọng,
bước đầu được chuẩn bị cho công tác sản xuất kinh doanh của Công ty. Hầu
hết mọi trang thiết bị, máy móc hiện đại, trụ sở giao dịch, nhà xưởng… đều
được sự hỗ trợ từ phía Bộ Quốc Phòng.
Công ty có trụ sở chính tại số 35 Phan Đình Giót – Thanh Xuân –
HN,và các chi nhánh đặt tại Thanh Hoá, Hà Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Có thể chia quá trình phát triển của Công ty làm 3 giai đoạn:
1.1.Giai đoạn 1: ( 1957- 1992 )
Giai đoạn này, Công ty có tên là Xí nghiệp X20, đây là giai đoạn xí
nghiệp gặp rất nhiều khó khăn không những về vốn, lao động mà còn cả trang
thiết bị sản xuất. Lúc này, X20 mới chỉ đảm nhiệm việc sản xuất quân trang
phục vụ cho bộ đội. Sản phẩm của Xí nghiệp thời điểm này là quân phục bộ
đội, bít tất, mũ tai bèo, cờ giải phóng…Bên cạnh những kế hoạch sản xuất
thường xuyên các mặt hàng này, X20 còn được giao nhiều nhiệm vụ đột xuất,
bí mật khác như nghiên cứu, sản xuất các loại quần áo, trang phục đặc biệt
cho cán bộ và chiến sĩ đi B. Sau đó, ngoài việc đảm nhiệm may đo cho các
trưởng Bộ Quốc Phòng, được uỷ quyền của Bộ trưởng BQP ký quyết định số
319/1998/QĐ- QP về việc đổi tên và bổ sung ngành nghề cho Công ty may 20
thành Công ty 20 – tên giao dịch là GATEXCO 20.
Hoạt động may hàng xuất khẩu được chú trọng và GATEXCO20 đã thu
được lợi nhuận khá cao trong lĩnh vực này. Với việc tiếp tục đẩy mạnh sản
xuất, cải tiến kỹ thuật, sản phẩm dệt may của Công ty đã có mặt tại nhiều
quốc gia như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Pháp, Thuỵ Sĩ, Hồng
Kông, Mỹ, Mêxicô, Canađa… Trở thành doanh nghiệp đa ngành nghề, Công
ty 20 đã có hành lang hoạt động rộng lớn, có nhiều cơ hội trong sản xuất kinh
doanh. Năm 1999, bắt đầu tham gia xuất khẩu phương thức FOB, Công ty đã
đạt mức doanh thu 247 tỷ đồng, vượt mức kế hoạch 45%. Đến năm 2004,
doanh thu từ các mặt hàng của công ty đạt 376 tỷ đồng, tăng 37,23% so với
năm 1999.
2 . Chức năng, nhiệm vụ
Công ty 20/BQP là một doanh nghiệp Nhà nước trong Quân đội, mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh đều do Tổng Cục Hậu Cần chỉ đạo trực tiếp.
Công ty có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản
mở tại ngân hàng.
2.1. Chức năng của công ty:
- Công ty tiến hành sản xuất các sản phẩm quân trang cung cấp cho quân
đội, đồng thời tiến hành sản xuất hang may mặc phục vụ nhu cầu trong
nước, xuất khẩu và gia công xuất khẩu.
- Sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt, nhuộm, may, gia công cơ khí,
mộc phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng vật tư, thiết bị, hoá chất phục
vụ ngành dệt, nhuộm, may, cơ khí.
2.2. Nhiệm vụ của Công ty:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh
doanh theo đúng ngành nghề.
- Sản xuất gia công theo đơn hàng của khách hàng hoặc xuất nhập khẩu