bài giảng môn quản trị sản xuất và tác nghiệp - Pdf 25

CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT KINH DOANH DỊCH VỤ
I. THỰC CHẤT CỦA QUẢN TRỊ SẢN XUẤT KINH DOANH DỊCH VỤ
1. Khái niệm quản trị sản xuất kinh doanh dịch vụ
Sản xuất ra sản phẩm là một trong những khâu chính có ý nghĩa rất quan trọng
đến việc tạo ra và cung cấp sản phẩm cho xã hội. Quản lý hệ thống sản phẩm là nhiệm
vụ, chức năng cơ bản của mỗi doanh nghiệp. Muốn đứng vững và phát triển thì
doanh nghiệp phải hình thành phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất.
Quản trị sản xuất là thiết kế hoạch định, tổ chức diều hành và kiểm tra theo dõi hệ
thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra.
Hệ thống sản xuất bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Cố thể biểu diễn hệ thống sản xuất bằng sơ đồ sau:
Như vậy yếu tố trung tâm của quản trị sản xuất là quá trịnh biến đổi , đó là quá
trình chuyển biến yếu tố đầu vào thành hàng hoá dịch vụ.
Các yếu tố đầu vào thì rất đa dạng bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, con
người , công nghệ, kỹ năng quản lý và nguồn thông tin. Chúng là điều kiện cần thiết
cho bất kỳ quá trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ nào. Muốn quá trình sản xuất
1
đầu ra
đầu vào
Biến đổi ngẫu nhiên
Quá trình
biến đổi
Thông
tin
phản
hồi
Thông tin phản hồi
Kiểm tra
kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cần phải tổ chức khai thác có sử dụng các
yếu tố đầu vào hợp lý, tiết kiệm nhất.

lượng sản phẩm cần sản xuất trong từng thời kỳ trên cơ sở đó kế hoạch sản xuất sản
phẩm.
2. Thiết kế sản phẩm và quy trình công nghệ
Nếu như dự báo là khâu quyết định sẽ sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ gì,
thì những kết quả của nó sẽ làm cơ sở quan trọng cho thiết kế sản phẩm và quy trình
công nghệ. Dựa trên những thông tin thu được từ dự báo nhu cầu sản phẩm doanh
nghiệp sẽ tiến hành công tác lựa chọn thiết kế sản phẩm và công nghệ. Đó là công
việc thiết kế kiểu dáng, chất lượng sản phẩm nhằm thoả mãn yêu cầu của thị trường
và phù hợp với khả năng sản xuất của doanh nghiệp. Việc thiết kế sản phẩm được
thực hiện với sự tham gia phối hợp của nhiều cán bộ quản lý chuyên ngành trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. Nó được tiến hành qua hàng loạt những bước nhất định.
Kết quả của nó là những bản kỹ thuật thuyết minh về cấu trúc và những đặc điểm kinh
tế kỹ thuật của sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm đòi hỏi những phương pháp và quy trình
công nghệ tương ứng. Vì vậy những đòi hỏi về đặc điểm của sản phẩm là những căn
cứ quan trọng cho thiết kế sản phẩm và quy trình công nghệ.
3. Hoạch định công suất của doanh nghiệp
Đây là nội dung quan trọng thứ 3 cho phép doanh nghiệp xác định được quy mô
công suất của dây truyền sản xuất của doanh nghiệp. Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây
dựng và quyết định lựa chọn phương án công suất hợp lý có hiệu quả. Hoạt động này
ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển của doanh nghiệp sau này. Công suất hoạt
động và quy mô sản xuất luôn là một trong những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
4. Định vị doanh nghiệp
Ngày nay, định vị doanh nghiệp được coi là một nội dung không thể thiếu được của
quản trị sản xuất. Hoạt động này được đặt ra với những doanh nghiệp mới được xây
dựng hoặc những trường hợp mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng quy mô với việc xây
dựng những chi nhánh mới, bộ phận mới. Đây là nhiệm vụ thường xuyên được đặt ra
phải giải quyết trong sự tồn tại và phát triển liên tục của doanh nghiệp.
Để xác định được vị trí đặt doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích hàng loạt
những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
3

cách dự trữ và cách đặt hàng sao cho chi phí dự trữ là tối ưu
4
III. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ SẢN
XUẤT KINH DOANH DỊCH VỤ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của quản trị sản xuất kinh doanh dịch vụ
Quản trị sản xuất trong thực tế đã xuất hiện rất sớm từ thời cổ đại. Nhưng chúng
chỉ được coi là các “dự án sản xuất” chứ chưa phải là quản trị sản xuất thời thị trường.
Quản trị sản xuất với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hoá tham gia kinh doanh trên
thị trường chỉ mới xuất hiện gần đây. Có thể chia quá trình phát triển của quản trị sản
xuất làm 3 giai đoạn
Giai đoạn này bắt đầu từ cuộc cách mạng tư sản Anh năm 1970 đến trước năm
1911. Thời kì ban đầu này trình độ phát triển còn thấp, công cụ sản xuất đơn giản chủ
yếu là lao động thủ công và nửa cơ khí. Hàng hoá được sản xuất ra trong những
xưởng nhỏ, các chi tiết bộ phận chưa được tiêu chuẩn hoá, không lắp lẫn được. Sản
xuất diễn ra chậm, chu kỳ kéo dài, năng suất rất thấp.
Phải từ sau những năm 70 của thế kỷ XVIII, những phát minh khoa học mới liên
tục ra đời, trong giai đoạn này đã tạo ra những thay đổi mang tính khoa học, cách
mạng trong phương pháp sản xuất và công cụ tạo điều kiện chuyển từ lao động thủ
công sang lao động cơ khí. Những phát minh cơ bản là phát minh ra máy hơi nước
của James Watt năm 1764 cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành dệt năm 1885.
Cùng với những phát minh khoa học kỹ thuật là những khám phá mới trong khoa
học quản lý, tạo điều kiện hoàn thiện tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp , đẩy
nhanh quá trình ứng dụng khai thác kỹ thuật mới một cách có hiệu quả hơn. Năm
1976 lần đầu tiên nhắc đến lợi ích của phân công lao động trong hoạt động sản xuất,
đưa năng suất lao động tăng lên đáng kể.
Lý thuyết về sự trao đổi lắp lẫn giữa các chi tiết bộ phận của Eli Whitney năm 1970
đã ra đời và tạo điều kiện và khả năng lắp lẫn giữa các bộ phận được làm ở những nơi
khác nhau góp phần to lớn trong việc nâng cao năng lực sản xuất của xã hội và hình
thành sự phân công hiệp tác giữa các doanh nghiệp. Các tổ chức doanh nghiệp mới
xuất hiện . Điều đó hình thành quan niệm cho rằng quản trị sản xuất chủ yếu là tổ

- Tăng cường các phương pháp và biện pháp khai thác tiềm năng vô tận của con
người, tạo ra sự tích cực tinh thần chủ động sáng tạo, tự giác trong sản xuất
6
CHƯƠNG II
DỰ BÁO NHU CẦU SẢN XUẤT SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ PHÂN LOẠI DỰ BÁO
1. Khái niệm dự báo
Dự báo là khoa học là nghệ thuật dự đoán các sự việc xảy ra trong tương lai. Đó
có thể là cách lấy những dữ liệu đã qua để làm kế hoạch cho tương lai nhờ các mô
hình toán kinh tế nào đó. Hoặc có thể là cách suy nghĩ chủ quan hay trực giác tiên
đoán tương lai hay là sự phối hợp 2 cách trên.
2. Phân loại dự báo
Có nhiều cách phân loại dự báo nhưng hiện nay người ta hay sử dụng nhất là cách
phân loại theo thời gian. Theo cách này dự báo được phân thành:
Dự báo ngắn hạn: Khoảng thời gian dự báo ngắn hạn thường dưới 1 năm. Loại dự
báo này thường được dùng trong kế hoạch mua hàng, điều độ công việc các kế hoạch
sản xuất tồng hợp ngắn hạn.
Dự báo trung hạn: Khoảng thời gian dự báo trung hạn từ 3 tháng đến 3 năm. Nó
cần thiết cho việc lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch ngân sách, tổ chức huy động các
nguồn lực
Dự báo dài hạn: Thường là khoảng thời gian từ 3 năm trở lên. Dự báo dài hạn có ý
nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch sản xuất những sản phẩm mới, kế hoạch nghiên cứu
và phát triển, định vị doanh nghiệp
Thông thường các dự báo mà thời gian càng dài thì độ chính xác của dự báo càng
giảm vì sự biến động của môi trường rất lớn. Tuy vậy các dự báo dài hạn mang ý
nghĩa rất quan trọng vì nó là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng chiến lược.
II. PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO ĐỊNH TÍNH
Dự báo định tính là ý báo dựa trên ý kiến chủ quan của người dự đoán mà không
dựa trên các số liệu, hay các phương pháp mô hình toán học. Thông thường có các
loại dự báo định tính sau:

dụng các công cụ toán học thống kê học để dự báo nhu cầu trong tương lai.
Phương pháp này thường được thực hiện qua các công đoạn sau:
- Xác định mục tiêu của dự báo
- Xác định các loại sản phẩm cần dự báo
8
- Độ dài thời gian dự báo
- Mô hình dự báo
- Thu thập số liệu cần cho dự báo
- Tiến hành dự báo
- áp dụng kế quả dự báo
Sau đây là một số mô hình dự báo định lượng:
1. Phương pháp bình quân giản đơn
Phương pháp này dự báo trên cơ sở lấy trung bình các số liệu của thời gian trước
F
t
=
n
Ai
t
i


=
1
1
Trong đó: F
t
: Là nhu cầu dự báo cho giai đoạn t
Ai là nhu cầu thực của giai đoạn i
n là số giai đoạn quan sát

7 450 (430+410+450+395)/4=421
8 461 (450+430+410+450)/4=435
9 470 (461+450+430+410)/4=438
10 600 (470+461+450+430)/4=453
11 630 (600+470+461+450)/4=495
12 610 (630+600+470+461)/4=540
3. Phương pháp bình quân di động có trọng số
Phương pháp này cũng dựa trên cơ sở lấy bình quân di động, nhưng có tính ảnh
hưởng khác nhau qua nhu cầu thông qua trọng số. Những số liệu ở giai đoạn gần với
giai đoạn cần dự báo được gán cho trọng số cao hơn những số liệu ở xa giai đoạn cần
dự báo.
Ft=


−=
−=
−=
−=
1
1
.
ti
nti
ti
nti
Hi
HiAi
Trong đó:Ai là nhu cầu thực của giai đoạn i
Hi là trọng số của giai đoạn i
Ví dụ: Cửa hàng X trên nếu dùng phương pháp dự báo bình quân di động trọng số

Trong đó:
- Ft: Nhu cầu dự báo cho giai đoạn t
- F
t-1
: Dự báo cho các giai đoạn trước đó
- A
t-1
: Nhu cầu thực trong các giai đoạn trước đó
Ví dụ: Vẫn số liệu của cửa hàng X trên, giả sử đã biết như cầu thực của tháng 1, và
nhu cầu dự báo của tháng 1 bằng nhu cầu thực ta sẽ dự báo nhu cầu của các tháng tiếp
theo bằng phương pháp dự báo san bằng số mũ với α =0,9
Tháng Nhu cầu thực Nhu cầu dự báo
1 405 405
2 410 405+0,9(405-405)=405
3 395 405+0.9(410-405)=409,5
4 450 409,5+(395-409,5)=396,5
11
5 410 396,5+(450-396,5)=444,6
6 430 444,6+0,9(410-444,6)=413,5
7 450 413,5+0,9(430-413,5)=428,5
8 461 428,5+0,9(450-428,5)=448
9 470 448+0,9(461-448)=460
10 600 460+0,9(470-460)=469
11 630 469+0,9(600-469)=587
12 610 626=587+0,9(630-587)=626
5. Phép hoạch định xu hướng
Phép hoạch định xu hướng giúp ta dự báo nhu cầu trong tương lai dựa trên một tập
hợp dữ liệu có xu hướng trong quá khứ. Nội dung chính của phương pháp này là
người ta dựa vào các số liệu đã thu thập được để xây dựng một hàm số để biểu diễn sự
thay đổi của nhu cầu theo thời gian. Qua đó tìm ra kết quả của năm cần dự báo.

n
YiY
ni
i
1
1

=
=
=

n
ti
t
ni
i

=
=
=
1

Yt: Nhu cầu tính cho thời kỳ t
Yi: Nhu cầu thực của giai đoạn i
n: số giai đoạn quan sát
7. Dự báo nhu cầu biến đổi theo mùa
Phương pháp này áp dụng để dự báo nhu cầu của những sản phẩm có sự thay đổi
nhu cầu theo mùa. Ví dụ : quần áo rét, tủ lạnh, quạt
Nội dung của phương pháp này chỉ cho ta cách phân bổ số nhu cầu sản phẩm theo
mùa sao cho hợp lý. Ví dụ: Người ta tính được nhu cầu quạt điện trong năm tới là

khác nhau. Vì vậy vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải lựa chọn được phương pháp cho
kết quả dự báo chính xác nhất.
Để giám sát dự báo một trong các chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất là chỉ số MAD.
(Mean absolute deviation)
MAD=
n
AtFt


Dự báo nào có chỉ số sai lệch trung bình càng nhỏ thì độ chính xác càng cao
13
CHƯƠNG III
THIẾT KẾ SẢN PHẨM, CÔNG NGHỆ VÀ HOẠCH ĐỊNH CÔNG SUẤT
TRONG DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CỦA THIẾT KẾ SẢN PHẨM, CÔNG NGHỆ
1. Khái niệm
Hiện nay tồn tại hai khái niệm ứng với 2 cách tiếp cận về thiết kế sản phẩm, công
nghệ:
- Cách tiếp cận thứ nhất đứng trên giác độ nghiên cứu phải đi trước, phải dự báo
nhu cầu của thị trường để "chuẩn bị ngày mai ngay từ hôm nay", các nhà nghiên cứu
phát minh cho rằng thiết kế sản phẩm và công nghệ cần đi trước, có sự độc lập tương
đối với các hoạt động khác.
- Cách tiếp cận thứ hai lại đứng trên quan điểm là mọi nghiên cứu, thiết kế đều phải
xuất phát từ quá trình marketing và phục vụ cho các hoạt động này.
Hai cách tiếp cận này đều có những điểm hợp lý và không hợp lý. Trong điều kiện
hiện nay nhu cầu của thị trường thay đổi rất đa dạng, các doanh nghiệp cạnh tranh với
nhau rất khốc liệt vì vậy, việc nghiên cứu thiết kế phải làm sao thoả mãn tối đa nhu
cầu của thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần tiến hành những hoạt động điều tra nhu
14
cầu thị trường, điều tra môi trường kinh doanh và thiết kế sản phẩm cần dựa vào

15
trường. Yếu tố này có ý nghĩa quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến chi phí mà
nó còn ảnh hưởng đến hiệu quả của kinh doanh vì sản phẩm được tung ra trước đối
thủ cạnh tranh bao giờ cũng có hiệu quả hơn.
- Chi phí cho sản phẩm: chi phí này là tổng chi phí cho tất cả các hoạt động từ khi
nghiên cứu triển khai đến khi sản xuất hàng loạt.
- Chi phí cho phát triển sản phẩm: Chi phí này là khoản chi dự kiến cho phát triển
sản phẩm sau này. Vấn đề cần cân nhắc là nó có vượt khoản chi ngân sách không và
so sánh với lợi ích dự kiến.
2.2. Thiết kế công nghệ
Công nghệ được định nghĩa là tập hợp của các yếu tố phần cứng(thiết bị, máy móc)
với tư cách là những yếu tố hữu hình và phần mềm (phương pháp, kỹ năng, quy
trình ) với tư cách là những yếu tố vô hình. Người ta thường lựa chọn công nghệ dựa
trên cơ sở cân nhắc 4 yếu tố cạnh tranh chủ yếu:
- Chi phí sản phẩm trên thị trường
- Tốc độ cung cấp hay công suất
- Chất lượng sản phẩm do công nghệ tạo ra
- Tính linh hoạt của công nghệ (khả năng thích ứng của công nghệ)
Việc thiết kế công nghệ kể cả những thiết kế mới hoàn toàn hay những thiết kế dựa
trên sự cải tiến công nghệ cũ hầu như đều được thực hiện bởi những công ty lớn,
những tập đoàn sản xuất có năng lực nghiên cứu mạnh, bao trùm nhiều lĩnh vực. Trên
thực tế ngay cả những công nghệ hoàn toàn mới cũng thường được thiết kế dựa trên
những nền móng của công nghệ cũ. Độ mới của công nghệ phụ thuộc rất lơn vào trình
độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong mỗi chu kỳ.
Trong việc thiết kế công nghệ mới những vấn đề thường được đạt ra đòi hỏi phải
giải quyết là:
- Thời gian khai thác và sử dụng công nghệ: công nghệ phải đảm bảo sao cho cho
kỳ đổi mối công nghệ trùng với chu kỳ đổi mới của sản phẩm.
- Công nghệ thiết kế là công nghệ cải tiến trên nền công nghệ cũ hay mới hoàn
toàn. Vấn đề này ảnh hưởng đến quyết định vì công nghệ mới thường có độ rủi ro hơn

quốc gia khác nhau.
Nhìn chung quy trình thiết kế sản phẩm công nghệ có thể được mô tả qua các bước
sau:
17
ý tưởng về
sản phẩm
Sản xuất
hàng loạt
Cải tiến, đa
dạng hoá
Sản xuất
thử
Thiết kế
chi tiết sản
phẩm

II. HOẠCH ĐỊNH CÔNG SUẤT
1. Các loại quá trình sản xuất
Có nhiều loại quá trình sản xuất khác nhau, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp
cần phân tích đặc điểm sản phẩm, các cứ vào tình hình tài chính, kỹ thuật của doanh
nghiệp, những biến động của môi trường kinh doanh để lựa chọn quá trình sản xuất
cho phù hợp. Có thể hiểu quá trình sản xuất là các cách thức tổ chức sản xuất của
doanh nghiệp. Người ta căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân chia quá trình sản
xuất đó là:
1.1. Căn cứ vào tính liên tục của sản xuất
Quá trình sản xuất được phân chia thành sản xuất liên tục, sản xuất gián đoạn và
sản xuất theo dự án.
a. Quá trình sản xuất liên tục
Đây là quá trình sản xuất được bố trí theo dây truyền, chủng loại sản phẩm ít không
đa dạng nhưng số lượng lớn. Quá trình này có những đặc điểm:

gian. Vì vậy đòi hỏi cán bộ điều hành dự án phải có những phẩm chất đặc biệt có khả
năng linh hoạt trong điều hành.
1.2 Căn cứ vào kết cấu và đặc điểm chế tạo sản phẩm
Theo tiêu thức này, quá trình sản xuất được chia thành quá trình lắp ráp, quá trình
phân tích và quá trình hỗn hợp
a. Quá trình lắp ráp
Trong quá trình sản xuất này vật tư, thiết bị, các chi tiết bộ phận được kết hợp với
nhau để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Sản phẩm có chủng loại ít những lại được cấu
19
tạo bởi nhiều cụm chi tiết phức tạp.Ví dụ điển hình của loại sản xuất này là quá trình
sản xuất những sản phẩm cơ khí.
b. Quá trình phân tích
Quá trình này được bắt đầu từ một nguyên liệu được phân chia chế biến thành
nhiều loại sản phẩm khác nhau. Quá trình này gắn bó chặt chẽ với các ngành chế biến.
Đặc điểm cơ bản là giá trị nguyên vật liệu lớn, có thể khai thác sử dụng tạo thành
những sản phẩm khác nhau. Ví dụ, công nghệ hoá dầu, công nghệ phẩm
c. Quá trình sản xuất hỗn hợp
Đây là sự kết hợp giữa quá trình lắp ráp và phân tích. Đặc điểm cơ bản là doanh
nghiệp sản xuất nhiều loạt chi tiết khác nhau từ một vài loạt nguyên liệu rồi dùng
chúng để tạo ra nhiều loại sản phẩm. Ví dụ công nghiệp giầy, mộc
1.3. Căn cứ vào số lượng sản phẩm sản xuất và tính chất lặp lại
Căm cứ vào tiêu thức này người ta quá trình sản xuất được chia thành sản xuất đơn
chiếc và sản xuất hàng loạt.
a. Sản xuất đơn chiếc
Sản phẩm được sản xuất theo đơn đặt hàng riêng biệt. Sản phẩm thường có cấu tạo
phức tạp, khối lượng lớn, cồng kềnh, khó vận chuyển giá trị lớn và chu kỳ sản xuất
kéo dài.
b. Quá trình sản xuất hàng loạt
Sản xuất theo dây chuyền, năng suất cao giá thành sản phẩm nhỏ.
2. Hoạch định công suất

từng doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của hoạch định công suất thể hiện:
- Ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng của doanh nghiệp đối với nhu cầu sản xuất sản
phẩm trong tương lai. Hoạch định công suất hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp có thể dễ
dàng đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu thị trường.
- Mối quan hệ với chi phí và công suất. Nếu hoạch định công suất vượt quá nhu cầu
thì gây lãng phí tốn kém chi phí xây dựng. Ngược lại công suất quá nhỏ thì sẽ không
đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vì vậy gây ra sự kém hiệu quả.
21
- Việc xây dựng công suất còn phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư. Không phải lúc
nào doanh nghiệp cũng có thể huy động đủ số vốn cần thiết đem lại hiệu quả cho đầu
tư.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị công suất
Việc xây dựng kế hoạch công suất phụ thuộc vào những nhân tố chủ yếu sau đây:
- Nhu cấu sản phẩm và đặc điểm của sản phẩm. Những vấn đề cơ bản cần phân tích
là khối lượng sản phẩm, dịch vụ cần đáp ứng, thời điểm đáp ứng. Sự ổn định của nhu
cầu và tính đồng nhất của sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng lựa chọn công
suất. Ngược lại, nhu cầu và sản phẩm đa dạng sẽ làm cho quyết định lựa chọn công
suất khó khăn hơn.
- Đặc điểm và tính chất của công nghệ sử dụng. Quyết định lựa chọn công suất phải
dựa trên sự phân tích thận trọng, chi tiết đặc điểm của từng loại công nghệ sử dụng
như: trình độ, loại hình, tính chất và năng lực của công nghệ.
- Trình độ tay nghề và tổ chức của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Khả
năng sản xuất phụ thuộc lớn vào trình độ, chuyên môn, kỹ năng của người lao động.
Ngoài ra, ý thức và tinh thần tổ chức kỷ luật cũng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới
quản trị công suất.
- Diện tích mặt bằng, nhà xưởng và bố trí kết cấu hạ tầng trong doanh nghiệp. Diện
tích mặt bằng là điều kiện quan trọng, trong nhiều trường hợp là giới hạn của quyết
định lựa chọn công suất. Ngoài khả năng diện tích sản xuất, hệ thống kho tàng, công
suất còn phụ thuộc vào trình độ thiết kế mặt bằng, bố trí thiết bị trong khu vực sản

năng cân bằng giữa lợi nhuận và thua lỗ. Quyết định lựa chọn này phụ thuộc rất lớn
vào khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Có các tiêu chí lựa chọn như sau:
- Chỉ tiêu Maximax
Chỉ tiêu này còn gọi là chỉ tiêu lạc quan, bởi vì trong trường hợp này, doanh nghiệp
sẽ lựa chọn phương án có giá trị tiền tệ mong đợi thu được lớn nhất. Doanh nghiệp
trong trường hợp này là người có mức độ rủi ro cao. Phương pháp lựa chọn là lựa
chọn phương án có lợi nhuận cao nhất.
- Chỉ tiêu Maximin
Người ta còn gọi là chỉ tiêu bi quan, bởi vì trong trường hợp này doanh nghiệp lựa
chọn phương án công suất có giá trị thua lỗ thấp nhất. Với chỉ tiêu này, doanh nghiệp
la người ít chấp nhận mạo hiểm, phương pháp lựa chọn là chọn phương án có giá trị
23
tiền tệ mong đợi lớn nhất trong những giá trị mong đợi nhỏ nhất mà mỗi phương án
thu được.
- Chỉ tiêu may rủi ngang nhau
Theo chỉ tiêu này, doanh nghiệp chấp nhận một mức mạo hiểm trung bình. Người
ta chọn phương án có giá trị tiền tệ trung bình lớn nhất trong các phương án đưa ra.
- Chỉ tiêu giá trị bỏ lỡ cơ hội thấp nhất
Trong trường hợp sử dụng chỉ tiêu này, doanh nghiệp cố gắng tìm chọn phương án
công suất sao cho trong từng tình huống khác nhau sẽ thu được giá trị tiền tệ mong
đợi ở mức đảm bảo yêu cầu tối thiểu hoá những giá trị cơ hội có thể bị bỏ lỡ trên thị
trường. Phương pháp lựa chọn được tiến hành bằng cách lập bảng các giá trị có thể bị
bỏ lỡ.
Ví dụ: doanh nghiệp A lựa chọn công suất dựa trên các chỉ số cụ thể được cho
trong bảng sau.
Phương án
Tình hình nhu cầu trên thị trường
Thấp Trung bình Cao
1. Doanh nghiệp có công suất thấp (Tr. đồng) 100 100 100
2. Doanh nghiệp có công suất trung bình (Tr. đồng) 70 120 120

i
= ∑EMV

.S

⇒ max
Trong đó:
EMV
i
là giá trị tiền tệ mong đợi của phương án i
EMV

là giá trị tiền tệ mong đợi của phương án i ở tình huống j
S

là xác suất xảy ra tình huống j của phương án i
Ví dụ: Vẫn dùng số liệu đã cho của doanh nghiệp A ở ví dụ trên nhưng có bổ sung
thêm điều kiện lúc này doanh nghiệp biết xác xuất của tình huống cụ thể như sau: nhu
cầu thị trường thấp có xác xuất là 0,3, nhu cầu trung bình xác xuất là 0,2. Hãy lựa
chọn phương án tối ưu.
Ta tính được giá trị tiền tệ mong đợi:
EMV
1
=100.0,3+100.0,5+100.0,2=100
EMV
2
=70.0,3+120.0,5+120.0,2 =105
EMV
3
=-40.0,3+20.0,5+160.0,2 =30.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status