đại học quốc gia hà nội
trờng đại học kinh tế
*********
Nguyễn thị thoa
Mặt tráI của đầu t trực tiếp
Nớc ngoài ở việt nam
Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị
hà nội - 2008
đại học quốc gia hà nội
trờng đại học kinh tế
*********
Nguyễn thị thoa
Mặt tráI của đầu t trực tiếp
Nớc ngoài ở việt nam
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị
Ngời hớng dẫn khoa học:
Pgs.ts. mai thị thanh xuân
hà nội - 2008
mục lục Trang
Mở ĐầU
1
Chơng 1: Những vấn đề CHUNG về đầu t
5
trực tiếp nớc ngoài
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài 5
1.1.2 Nguyên nhân ra đời của đầu t trực tiếp nớc ngoài 10
3.1.2 Triển vọng thu hút trực tiếp đầu t nớc ngoài vào Việt Nam trong thời
gian tơi
87
3.2 Một số giải pháp chủ yếu hạn chế mặt trái của đầu trực trực tiếp nớc
ngoài ở Việt Nam
91
3.2.1 Cơ cấu lại các dự án đầu t nớc ngoài phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế đất nớc
91
3.2.2 Không nên cấp phép cho các dự án có công nghệ lạc hậu hoặc gây ô
nhiễm môi trờng
93
3.2.3 Xây dựng các quy định về quyền và nghĩa vụ của cán bộ công nhân
làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
95
3.2.4 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thẩm định dự án FDI 97
3.2.5 Tăng cờng hiệu lực của công cụ pháp luật và vai trò quản lý của nhà
nớc
100
3.2.6 Phát triển mạnh các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài
102
Kết luận
105
Tài liệu tham khảo 107
Phụ lục 111
danh mục các chữ viết tắt
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
DN : Doanh nghiệp
FDI : Đầu t trực tiếp nớc ngoài
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thừa nhận khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài là một thành phần kinh tế, một bộ phận hữu cơ gắn kết ngày càng chặt chẽ
và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, và đợc khuyến
khích phát triển. Tuy nhiên, đầu t trực tiếp nớc ngoài không chỉ có tác động tích
cực, mà nó còn có tác động ngợc chiều (mặt trái) đối với nền kinh tế nớc ta, do
đó nếu thiếu sự quản lý của nhà nớc, hoặc nhà nớc quản lý kém hiệu quả thì
những mặt trái sẽ bùng phát. Vì vậy, việc nhận diện và làm rõ tác động hai mặt,
nhất là mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp hạn chế đến mức thấp nhất mặt trái
của nó là hết sức cần thiết.
Đề tài luận văn thạc sĩ của chúng tôi với tiêu đề Mặt trái của đầu t trực tiếp
nớc ngoài ở Việt Nam là nhằm góp phần tìm ra giải pháp cho vấn đề đó.
2) Tình hình nghiên cứu
Đầu t trực tiếp nớc ngoài và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở nớc ta hiện nay là một vấn đề lớn và phức tạp, do đó luôn đợc các cấp, các
ngành, Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm. Đã có hàng trăm công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề này, trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các công
trình đáng chú ý sau :
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp, của Trần
Xuân Tùng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Công trình này đã phân tích
đợc bản chất và xu thế vận động của đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), cũng nh vai
trò của nó đối với quá trình phát triển kinh tế nớc ta trong quá trình đổi mới, nêu
đợc nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của việc thu hút FDI ở Việt
Nam; đồng thời đa ra đợc một số giải pháp cơ bản nhằm huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn FDI.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài với công cuộc công nghiệp hóa ở Việt Nam, của
TS Nguyễn Trọng Xuân, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002. Thông qua việc
làm rõ bản chất của đầu t trực tiếp nớc ngoài, tác giả đa ra một số quan điểm và
giải pháp về thu hút FDI nhằm phục vụ công cuộc CNH, HĐH trong thời gian tới
ở nớc ta.
+ Về không gian: mặt trái của ĐTTTNN ở Việt Nam.
+ Về thời gian: chủ yếu từ 1995 đến nay.
5) Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
luận văn sử dụng các phơng pháp cụ thể nh: trừu tợng hóa khoa học, logic- lịch
sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh.
6) Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích một cách toàn diện mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt
Nam cả trên lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động
trái chiều của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong thời gian tới.
7) Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài
Chơng 2: Phân tích mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam
hiện nay
Chơng 3: Một số giải pháp hạn chế mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
Việt Nam trong thời gian tới
Chơng 1
Những Vấn Đề chung Về Đầu TƯ Trực Tiếp Nớc Ngoài
1.1. MT S VN lý luận c BN V đầu t trực tiếp nớc ngoài
1.1.1. Khái niệm v đặc điểm của ĐTTTNN
a. Khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài
Theo quy định của Luật đầu t nớc ngoài tại Khoản 1, Điều 2 (đợc sửa đổi, bổ
sung năm 2000): Đầu t trực tiếp nớc ngoài là việc nhà đầu t nớc ngoài đa vào
Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu t
theo qui định của luật này, trong đó nhà đầu t đợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá
nhân nớc ngoài đầu t vào Việt Nam. Nh vậy, theo khái niệm này, đầu t trực tiếp n-
t ra nớc ngoài. Việc thành lập và phát triển các thị trờng tài chính, đặc biệt là thị
trờng chứng khoán là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài.
Thứ ba, chủ sở hữu đầu t có thể là ngời nớc ngoài, sở hữu 100% vốn hoặc
đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực tiếp tham
gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này từ 10% trở lên trong tổng số vốn của doanh
nghiệp tùy luật pháp của mỗi nớc quy định. Đây là yếu tố quyết định đến tính
chất trực tiếp của nhà đầu t nớc ngoài trong việc đa ra các quyết định đầu t và
quản trị doanh nghiệp. Chính vì có sự thay đổi cơ bản về hình thức sở hữu trong
FDI nên cần có thể chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài rõ ràng và
chặt chẽ thì mới tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn. Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức
khống chế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trở thành
những chi nhánh của các công ty ở nớc đầu t.
Đặc trng này là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa FDI với hoạt động th-
ơng mại, gia công quốc tế. Trong hoạt động thơng mại có sự dịch chuyển sở hữu
về hàng hóa hoặc dịch vụ từ ngời bán sang ngời mua trên nguyên tắc thỏa thuận.
Ngời mua phải trả tiền cho ngời bán để có quyền sở hữu về hàng hóa hoặc sử
dụng dịch vụ từ ngời bán. Trong hoạt động gia công quốc tế, một bên thuê bên
kia gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng, thanh toán tiền công và các khoản chi
phí khác theo từng sản phẩm trong từng thời gian ngắn. Thơng mại quốc tế ra đời
và phát triển trên cơ sở lợi thế so sánh, còn FDI gắn với khả năng khai thác
nguồn lực để phát triển. Đặc điểm này làm cho các khoản lợi nhuận thu đợc từ
FDI lớn hơn nhiều so với thơng mại quốc tế. Khi đầu t gắn với thơng mại thì lợi
nhuận thơng mại là một phần lợi nhuận của hoạt động đầu t đợc phân phối lại.
Do vậy có thể khẳng định rằng, đầu t quốc tế là sự bổ sung cần thiết cho hoạt
động thơng mại quốc tế; việc tổ chức hoạt động FDI phải xử lý nhiều vấn đề phức
tạp hơn so với hoạt động buôn bán thông thờng.
Thứ t, đầu t trực tiếp nớc ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia thực
hiện, bởi chủ thể hoạt động đầu t là t nhân với mục tiêu cơ bản thu lợi nhuận (trừ
ơng diện của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài. Các công ty đa quốc gia thờng
thuộc các nớc công nghiệp phát triển, do đó, dòng vốn đầu t trực tiếp ban đầu
xuất phát từ các nớc công nghiệp và tạo nên những xu hớng chính trong hoạt
động FDI. Các nớc đang phát triển khi đã đạt đến trình độ phát triển nhất định,
tích lũy đợc vốn, ngoại hối có thể và cần phải khuyến khích doanh nghiệp của n-
ớc đó đầu t ra nớc ngoài để tham gia ngày càng nhiều vào thị trờng đầu t thế giới.
Thứ năm, các chủ đầu t trực tiếp nớc ngoài tham gia kiểm soát, điều hành
quá trình đầu t và kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây cũng là một trong những đặc điểm để phân biệt giữa đầu t trực tiếp với
đầu t gián tiếp. Trong khi đầu t gián tiếp không cần sự quản lý của doanh nghiệp,
các khoản thu nhập chủ yếu là các cổ tức từ việc mua chứng khoán tại các doanh
nghiệp ở nớc nhận đầu t, ngợc lại nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài có quyền tham gia
hoạt động quản lý trong các doanh nghiệp FDI. Tuy vậy, nhà đầu t nớc ngoài phải
có bao nhiêu phần trăm cổ phần mới đợc phép tham gia quản lý doanh nghiệp
FDI? Theo hớng dẫn của OECD và Bộ thơng mại Hoa Kỳ thì nhà đầu t nớc ngoài
phải chiếm tối thiểu 10% cổ phiếu thờng hoặc quyền bỏ phiếu trong các doanh
nghiệp FDI để cho các nhà đầu t có tiếng nói hay tham gia quản lý trong các
doanh nghiệp FDI.
Việc điều hành và trực tiếp ra quyết định đầu t là điều kiện để nhà đầu t thực
hiện đợc chiến lợc kinh doanh của họ một cách chủ động và tối u. Tuy nhiên, trên
thực tế thờng nảy sinh khoảng lệch giữa mục tiêu thu hút vốn đầu t của chính phủ
với chiến lợc kinh doanh của nhà đầu t, do mục tiêu của chính phủ với mục tiêu
của nhà đầu t đã không phù hợp với nhau. Chẳng hạn, mục tiêu u tiên hàng đầu
của chính phủ là việc làm và đẩy mạnh xuất khẩu, trong khi một số nhà đầu t chỉ
coi trọng việc thu lợi nhuận tối đa và chiếm lĩnh thị trờng trong nớc. Chính phủ
nớc tiếp nhận đầu t muốn hớng FDI vào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng nh đ-
ờng sá, sân bay, bến cảng với lợng vốn đầu t rất lớn, tỷ suất lợi nhuận thấp và
thời gian thu hồi vốn khá dài; trong khi các nhà đầu t thờng chú trọng các dự án
có thời hạn đầu t ngắn và tỷ lệ thu hồi vốn cao Đặc điểm này đòi hỏi chính phủ
nớc tiếp nhận đầu t chủ động quy hoạch phát triển các ngành, các vùng và có các
các nớc có nền kinh tế phát triển cũng có nhu cầu thu hút FDI.
Việc tìm kiếm lợi nhuận nhờ vào lợi thế cạnh tranh là động cơ xuyên suốt của
các nhà đầu t nớc ngoài, thúc đẩy họ tìm đến các quốc gia khác có những yếu tố
thuận lợi hơn để có thể khai thác tạo ra luồng đầu t ngoài biên giới quốc gia.
Ngoài việc tận dụng các lợi thế so sánh nh nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong
phú, thị trờng tiêu thụ sản phẩm rộng lớn . thì các nhà đầu t còn quan tâm đến
việc tranh thủ các chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi của nớc tiếp nhận đầu t
để tăng lợi nhuận, mở rộng thêm thị phần và tăng sức cạnh tranh. Đối với nhà đầu
t, FDI là công cụ, phơng tiện để thực hiện chiến lợc kinh doanh của mình.
Nh vậy, giữa công ty xuyên quốc gia và FDI có mối quan hệ gắn bó với nhau
vô cùng chặt chẽ. Trong bối cảnh hiện nay, các công ty xuyên quốc gia tăng cờng
hoạt động và tăng cờng cạnh tranh với nhau trong việc đặt thêm địa điểm cơ sở
sản xuất, kinh doanh ở nớc ngoài. Đây cũng chính là yếu tố làm cho dòng vốn
FDI ngày càng phát triển [15].
b. Khắc phục tính chu kỳ của sản phẩm
Hầu hết các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu t quốc tế đều xoay quanh việc trả
lời các câu hỏi là: vì sao các công ty lại đầu t ra nớc ngoài? Theo cách tiếp cận từ
chu kỳ sản phẩm, Vernon (1966) đã lý giải hiện tợng FDI trên cơ sở phân tích các
giai đoạn phát triển của sản phẩm từ đổi mới đến tăng trởng (sản xuất hàng
loạt), đạt mức bão hòa và bớc vào giai đoạn suy thoái. Theo tác giả thì giai đoạn
đổi mới sẽ diễn ra ở các nớc phát triển vì ở những nớc này mới có điều kiện để
nghiên cứu và phát triển ( P&R) ngay tại doanh nghiệp và có khả năng triển khai
sản xuất với số lợng lớn. Đồng thời chỉ có ở những nớc này mới có kỹ thuật tiên
tiến với đặc trng sử dụng nhiều vốn nên phát huy đợc hiệu quả sử dụng cao. Do
vậy mà sản phẩm sản xuất ra với giá thành hạ và nhanh chóng đạt tới mức bão
hòa.
Để tránh lâm vào tình trạng suy thoái và khai thác có hiệu quả sản xuất theo
quy mô, công ty phải mở rộng thị trờng tiêu thụ ra quốc tế, nhng các hoạt động
xuất khẩu lại gặp trở ngại từ hàng rào thuế quan và cớc phí vận chuyển quốc tế.
Vì thế mà các công ty phải di chuyển sản xuất ra các nớc để vợt qua các trở ngại
tỷ lệ rủi ro với lợi nhuận, thậm chí phải chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận.
Lợi nhuận và rủi ro sẽ hình thành ngay từ khi dự án bắt đầu và có sự khác biệt ít
nhiều so với mức độ tính toán ban đầu của chủ đầu t. Vì vậy mà trớc khi bắt đầu
dự án, các nhà đầu t rất coi trọng hoạt động thăm dò để nhằm đạt hiệu quả mong
muốn mà không phải đánh đổi. Chính vì thế, trong những năm gần đây, nắm bắt
đợc nhu cầu về vốn, công nghệ, thị trờng nguyên liệu cũng nh thị trờng tiêu thụ,
an ninh chính trị ở các nớc đang phát triển nên khu vực Châu á đang có sức
hút mạnh mẽ đối với dòng vốn FDI từ các nớc phát triển.
1.1.3. Các hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài
a. Phân loại dựa vào kênh đầu t
Theo cách phân loại này, FDI đợc thực hiện theo hai kênh chủ yếu là đầu t
mới (Greenfield investment- GI) và Mua lại và sáp nhập (Mergers and cquisition
- M&A).
+ Đầu t mới (Greenfield investment - GI): Đầu t mới là các chủ đầu t thực
hiện đầu t ở nớc ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là
kênh đầu t truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu t ở các
nớc phát triển đầu t vào các nớc đang phát triển.
+ Mua lại và sáp nhập (Mergers and acquisition - M&A): là các chủ đầu t
tiến hành đầu t thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở n-
ớc ngoài. Kênh đầu t này chủ yếu đợc thực hiện ở các nớc đang phát triển, các n-
ớc mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây.
ở Việt Nam, FDI vẫn chủ yếu đợc thực hiện theo kênh GI. Kiểu đầu t này có
vai trò rất quan trọng đối với quá trình tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cần
thiết để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc. Tuy nhiên, nếu chỉ thu hút FDI
theo kênh GI thì không đón bắt đợc xu thế ngày nay, nh vậy sẽ làm hạn chế khả
năng thu hút FDI vào nớc ta.
b. Phân loại dựa vào mục đích đầu t
Theo cách này, FDI đợc chia làm 2 loại là đầu t trực tiếp nớc ngoài theo chiều
ngang (Horizontal FDI) và đầu t trực tiếp nớc ngoài theo chiều dọc (Vertical
FDI).
chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình, sửa đổi bổ sung điều lệ doanh
nghiệp, vay vốn đầu t, bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc
thứ nhất và kế toán trởngLợi nhuận hay rủi ro đều đợc phân chia theo tỉ lệ góp
vốn của mỗi bên.
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam còn quy định thời gian hoạt động của liên
doanh thờng từ 30 đến 50 năm, trờng hợp đặc biệt không quá 70 năm và doanh
nghiệp liên doanh phải giải thể khi hết thời gian hoạt động, trừ khi đợc phép của
cơ quan quản lý nhà nớc về hợp tác và đầu t gia hạn. Trong 1 số trờng hợp đặc
biệt bất khả kháng, doanh nghiệp liên doanh có thể kết thúc hợp đồng sớm hơn.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu của tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài, đợc hình thành bằng toàn bộ vốn nớc
ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này đợc thành
lập dới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự
điều chỉnh của Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Vốn pháp định cũng nh vốn đầu t do nhà đầu t nớc ngoài đóng góp, vốn pháp
định ít nhất bằng 30% vốn đầu t của doanh nghiệp .
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): đây là hình thức đầu t trực tiếp trong
đó hợp đồng hợp tác kinh doanh đợc ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các
bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nớc
nhận đầu t, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên tham gia mà không cần thành lập một pháp nhân mới. Mỗi bên vẫn hoạt
động với t cách pháp nhân của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với
nhà nớc.
Ngoài các hình thức cơ bản kể trên, còn có các hình thức Hợp đồng xây dựng
- kinh doanh - chuyển giao ( BOT); Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh
doanh (BTO); và Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) [23].
1.2. Vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài
1.2.1.Đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với nớc chủ đầu t
So với các hình thức kinh tế đối ngoại khác, FDI có vai trò u việt đối với nớc
Ví dụ: ở châu Mỹ La tinh và châu á, các doanh nghiệp FDI đã có vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc thành lập một số nhà máy sản xuất công nghiệp có quy
mô lớn trong các lĩnh vực dệt may, thuộc da, đồ uống, điện tử
FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế ngành ở các nớc tiếp nhận đầu t, đợc thể hiện
nh sau:
Thay đổi cơ cấu ngành ở các nớc tiếp nhận đầu t, đợc thể hiện ở việc chuyển
đổi từ sản xuất nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thay đổi cơ cấu bên trong của một ngành sản xuất đợc thể hiện ở việc
chuyển đổi năng suất lao động từ thấp đến cao, công nghệ hiện đại và sử dụng ít
lao động trực tiếp.
Thay đổi cơ cấu bên trong của một lĩnh vực sản xuất thông qua việc thay đổi
hàm lợng khoa học công nghệ trong một đơn vị sản phẩm.
- Góp phần đổi mới công nghệ
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá
trình phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất
lao động tại nớc tiếp nhận đầu t thông qua hiệu ứng tích cực. FDI có tác động đến
phát triển công nghệ của một quốc gia thông qua: chuyển giao công nghệ; phổ
biến công nghệ và phát triển công nghệ .
Đối với các nớc đang phát triển, để có công nghệ mới và tiên tiến phục vụ
cho sản xuất thì cần phải có quá trình chuyển giao công nghệ từ các nớc phát
triển sang các nớc đang phát triển và kém phát triển. Cùng với dòng vốn FDI,
công nghệ cũng đợc du nhập vào các nớc đang phát triển. Tuy vậy, việc chuyển
giao công nghệ trong thời đại hiện nay khác nhiều so với ba hoặc bốn thập kỷ tr-
ớc đây. Nhận thức về chuyển giao công nghệ cũng đã thay đổi, việc chuyển giao
không chỉ đơn thuần là chuyển giao các máy móc, thiết bị mà chuyển giao liên
quan đến việc sử dụng dây chuyền công nghệ, kỹ năng sử dụng công nghệ và
phần mềm công nghệ.
Hiện nay, việc chuyển giao công nghệ từ nớc có công nghệ phát triển sang n-
ớc tiếp nhận công nghệ đợc tiến hành theo hai phơng thức: chuyển giao trực tiếp
và chuyển giao gián tiếp, trong đó, chuyển giao gián tiếp chủ yếu đợc thực hiện
nghiệp nớc tiếp nhận đầu t cũng góp phần phổ biến công nghệ một cách mạnh
mẽ.
Chuyển giao công nghệ cũng đợc thực hiện thông qua việc di chuyển lao
động có trình độ chuyên môn cao từ chi nhánh công ty nớc đầu t sang doanh
nghiệp nớc tiếp nhận đầu t để góp phần chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, hoạt
động của FDI đã tạo điều kiện tiếp xúc giữa các doanh nghiệp nớc tiếp nhận đầu
t với các công ty đa quốc gia có trình độ công nghệ cao, nhờ đó, quá trình phổ
biến và chuyển giao công nghệ đến nớc tiếp nhận đầu t là rất nhanh chóng và
hiệu quả.
- Tăng cờng năng lực xuất khẩu, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, và
đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc làm
tăng năng lực sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Năng lực xuất khẩu đó phụ thuộc
rất lớn vào các công ty tham gia quá trình sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó có
các công ty nớc ngoài.
Nếu các công ty nớc ngoài chuyển giao công nghệ trình độ trung bình và cao
cho nớc nhận đầu t thì năng lực xuất khẩu của các nớc đó đợc tăng cờng cả về l-
ơng lẫn về chất. Các công ty nớc ngoài, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia
thờng là các tập đoàn kinh doanh lớn, áp dụng trình độ công nghệ tiên tiến vào
sản xuất nên vai trò của nó ngày càng cao đối với các nớc tiếp nhận đầu t. Họ th-
ờng tham gia vào quá trình sản xuất hàng xuất khẩu thông qua các dạng sau:
- Xây dựng nhà máy lắp ráp để xuất khẩu, phổ biến ở các khu chế xuất của
các nớc đang phát triển sản phẩm chủ yếu là hàng điện tử, ô tô, xe máy
- Xây dựng những ngành công nghiệp xuất khẩu mới cho các nớc nhận đầu t.
- Tham gia vào khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu.
Riêng hoạt động thứ ba đòi hỏi phải sử dụng trình độ công nghệ cao, lao động
lành nghề và vốn lớn, bởi hoạt động chủ yếu của nó là khai thác dầu mỏ, dầu khí,
nguồn khí tự nhiên.
Một khi năng lực xuất khẩu tăng dần lên thì các nớc tiếp nhận đầu t sẽ mở
rộng đợc thị trờng. Thông qua các công ty mẹ và các công ty con của các TNCs,
trọng hơn là còn tiếp thu đợc kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất.
Hơn nữa, yêu cầu của các doanh nghiệp FDI là công nhân phải có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao nên ngời lao động buộc phải tự đào tạo để đáp ứng yêu
cầu đó. Điều này cũng góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại các nớc
nhận đầu t.
FDI cũng góp phần tạo việc làm cho ngời lao động, làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp. Theo số liệu thống kê của Cục đầu t nớc ngoài, chỉ trong 8 tháng đầu
năm 2008, FDI đã tạo cho hơn 1,2 triệu lao động có việc làm .
Không chỉ tạo việc làm trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo việc làm thông qua
việc hình thành các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các
doanh nghiệp FDI.
Cùng với việc làm, thu nhập của ngời lao động, mà trớc hết là lao động trong
các doanh nghiệp FDI cũng tăng lên. ở những nớc phát triển ngời lao động làm
việc cho các chi nhánh công ty nớc ngoài đợc trả lơng cao hơn so với doanh
nghiệp trong nớc. Cụ thể ở Pháp, Ireland, Thụy Điển và vơng quốc Anh, mức l-
ơng làm việc cho các công ty nớc ngoài cao hơn 10% so với các doanh nghiệp ở
trong nớc. ở các nớc đang phát triển nh Thái Lan, Malaxia, Pêru còn cao hơn
30%. Lý do đợc trả lơng cao là do hiệu quả của sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp FDI thờng cao hơn so với doanh nghiệp trong nớc; đồng thời lao
động đợc tuyển dụng có trình độ và tính kỷ luật cao, các TNCs có uy tín và quy
mô lớn [26].
b. Mặt trái của FDI
Mặc dù, FDI đợc xem nh một động lực quan trọng để các nớc nhận đầu t,
nhất là các nớc có nền kinh tế kém phát triển, thực hiện mục tiêu phát triển của
mình. Nhng cũng phải thấy rằng, FDI không chỉ có tác động tích cực, mà tác
động tiêu cực (mặt trái) đến nền kinh tế nớc sở tại. Những tác động trái chiều của
FDI là:
- Dễ gây mt cân đối v ngành ngh, vùng lãnh thổ
Lợi ích của các đối tác là khác nhau nên mục tiêu đầu t của họ cũng khác
nhau. Nớc nhận đầu t thì muốn dòng vốn đợc đầu t vào hệ thống kết cấu hạ tầng