Chơng I
Một số vấn đề cơ bản về nền kinh tế Mỹ
I. Khái quát về nền kinh tế Mỹ trong những năm gần đây:
H.Kissinger- cựu ngoại trởng Mỹ từng nói: Nớc Mỹ ngày nay có ảnh
hởng và thực lực của một đế quốc. Đó là một thực tế. Điểm lại nền kinh tế
Mỹ trong quá khứ cũng nh trong hiện tại, chúng ta có thể thấy rõ điều này:
Năm mơi năm trớc đây, sáu trong số bảy nớc công nghiệp phát triển
nhất thế giới (ngày nay là các nớc G7) có giá trị tổng sản phẩm quốc dân chỉ
đạt 75% giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ (nớc thứ bẩy đó là Mỹ). Lúc
đó, có thể nói sức mạnh kinh tế của Mỹ có tính chất áp đảo đối với các nớc
khác. GNP của Mỹ cao hơn Nhật Bản 12 lần và cao hơn Đức 8 lần.
Năm mơi năm sau, Tây Âu và Nhật Bản đã vơn lên. Năm 1995, so với
GDP của Mỹ, Nhật Bản đã bằng 70%, Đức bằng 33% và Anh bằng 61%. Tính
chung sáu nớc công nghiệp phát triển nhất đã có GDP gấp đôi Mỹ. Nhiều chỉ
tiêu tơng đối về phát triển kinh tế tổng hợp của Mỹ đã giảm sút dần so với các
nớc khác. Chẳng hạn, tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP thế giới giảm
trong các năm gần đây nh sau: 1994: 21,14%, 1995: 20,89%, 1996: 20,69%.
GDP tính trên đầu ngời của Mỹ cũng đang dần bị một số nớc đuổi kịp và vợt.
Những số liệu trên cho thấy sức mạnh kinh tế của Mỹ đã giảm sút tơng
đối so với sự phát triển chung của toàn thế giới.
Tuy nhiên, dù có sự giảm sút, sức mạnh kinh tế của Mỹ vẫn đang đứng đầu
thế giới. Số liệu so sánh Mỹ với các nớc phát triển khác của thế giới (G7) sẽ
cho thấy điều đó. Năm 1997 GDP của Mỹ đứng đầu thế giới với 8083,4 tỷ
USD, trong khi đó Nhật Bản là 4192,3 tỷ USD bằng 52% so với Mỹ, của Anh
là 4801,3 tỷ USD bằng 59% và của Pháp là 1393,3 tỷ USD bằng 17%. Năm
1997, trong GDP thế giới Mỹ chiếm 20,4%, Nhật: 7,7%, Đức: 4,6%
1
. Với tỷ
1
Nguồn: WTO (trang web)
1
WTO và các tổ chức kinh tế tài chính khác.
1
Nguồn: Bộ thơng mại Mỹ
2
Nguồn: Vụ Châu Mỹ, Bộ ngoại giao
2
Tuy nhiên, tăng trởng kinh tế Mỹ bắt đầu suy giảm từ nửa cuối năm
2000 cho dù vẫn tiếp tục kéo dài kỷ lục tăng trởng kinh tế liên tục (124 tháng)
cho đến tháng 6 năm 2001. Sau khi đạt mức tăng trởng 5,7% trong quý I năm
2000, nền kinh tế bắt đầu chững lại, trong quý III và IV năm 2000 mức tăng
trởng là 1,3 và 1,9%. Trong quý I và quý II năm 2001 tốc độ tăng trởng chỉ
đạt 1,3 % và 0,3%. Theo báo cáo của ban nghiên cứu kinh tế quốc gia thì nền
kinh tế Mỹ đã thực sự bớc vào trì trệ kể từ tháng 3 năm 2001.
Bảng 1: Các chỉ số tăng trởng của kinh tế Mỹ năm 2000-2001 (%)
Q2/ 00 Q3/ 00 Q4/ 00 Q1/ 01 Q2/ 01 Q3/ 01
GDP 5,7 1,3 1,9 1,3 0,3 - 1,3
Chi tiêu cá nhân 3,6 4,3 3,1 3,0 2,5 1,0
Đầu t 19,5 - 2,8 - 2,3 - 2,3 - 12,1 - 10,5
Xuất khẩu 13,5 10,6 - 4,0 - 1,2 - 11,9 - 18,8
Nhập khẩu 16,4 13,0 - 0,5 - 5,0 - 8,4 - 13,0
Chi tiêu chính phủ 4,4 - 1,8 3,3 5,3 5,0 0,3
Nguồn: BEA, Department of Commerce
Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là sự cắt giảm đầu t một cách
ồ ạt. Trong quý II năm 2000 tốc độ đầu t còn ở mức 19,5% là nhân tố quan
trọng nhất đóng góp 57% cho tăng trởng kinh tế thì trong năm 2001, mức suy
giảm đầu t luôn trên 10%, trong quý III là -10,5%. Sản xuất đình trệ, ngoại th-
ơng thu hẹp. Trong 10 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ
giảm tơng ứng 4,2% và 4,5% so với cùng kỳ năm trớc. Trong đó , xuất-nhập
khẩu hàng hoá giảm 4,8% và 4,3% so với 10 tháng đầu năm 2000, xuất-nhập
khẩu dịch vụ cũng giảm tơng ứng 2,6% và 5,7%. Trớc tình hình đó Cục dự trữ
đầu từ 1/10/2002), mức thâm hụt ngân sách đạt 292 tỷ USD và dự tính cả năm
2003 ít nhất là 400 tỷ USD. Nợ trong nớc đạt mức kỷ lục 3900 tỷ USD. Đáng
chú ý là, mặc dù kế hoạch cắt giảm thuế cả gói của Tổng thống Bush đã đợc
thông qua nhng tỷ lệ thất nghiệp không ngừng tăng, từ 5,7% tháng 1 đến 6,4%
tháng 6/2003, là mức cao nhất trong vòng 9 năm qua. Cũng theo số liệu thống
kê vừa công bố, kể từ năm 2000 đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Mỹ giảm 90%
1
.
1
Nguồn: Bộ thơng mại (trang web)
4
Năm 2001, FDI vào Mỹ là 144 tỷ USD thì năm 2002 chỉ còn 30 tỷ USD.
Nguyên nhân của sự giảm sút đầu t là do: thứ nhất, tốc độ tăng trởng kinh tế
thế giới giảm sút trong ba năm qua đã làm cho FDI toàn cầu giảm, với hệ quả
là FDI vào Mỹ cũng giảm mạnh; thứ hai, triển vọng không sáng sủa của kinh
tế Mỹ, đe doạ khủng bố, thâm hụt ngân sách Mỹ đã tác động không ít đến
lòng tin của các nhà đầu t nớc ngoài; thứ ba là do giá trị đồng Đô la cao trong
2 năm 2001, 2002 đã làm tăng giá cổ phần tại Mỹ.
Nền kinh tế khổng lồ của Mỹ chiếm khoảng 1/3 GDP toàn cầu và khoảng
1/2 mức tăng trởng nhập khẩu của thế giới, có giá trị FDI lớn nhất nhì thế giới,
đồng USD là đồng tiền mạnh đợc nhiều nớc trên thế giới dùng làm phơng tiện
tích trữ và là phơng tiện thanh toán quốc tế, công nghệ Mỹ đứng hàng đầu thế
giới. Với sức mạnh đó, tầm ảnh hởng của nền kinh tế Mỹ đối với kinh tế thế
giới là không nhỏ và một khi nó bị suy giảm thì không thể không tác động đến
sự phát triển kinh tế của nhiều nớc và khu vực trên thế giới.
Nh vậy, sự suy giảm kinh tế Mỹ đơng nhiên sẽ vừa trực tiếp vừa gián
tiếp tác động đến nền kinh tế Việt Nam, mà chủ yếu là ở hai lĩnh vực thơng
mại và đầu t. Tuy nhiên, mức độ ảnh hởng là không lớn. Mặc dù vậy chúng ta
vẫn cần lu ý nhằm hạn chế ảnh hởng tiêu cực, khai thác tận dụng những ảnh h-
ởng tích cực để ổn định và phát triển kinh tế đất nớc.
2
. Bộ phận thứ ba là quần đảo Hawaii,
nằm trong Thái Bình Dơng, có diện tích trên 16000 km
2
, là trạm dừng chân từ
Tây Bắc Mỹ sang các nớc Đông á. So với Việt Nam, Mỹ nằm tận phía bên kia
bán cầu, lệch từ 12 đến 15 múi giờ.
Là một đất nớc lục địa rộng lớn (bề ngang trên 4000 km, dài gần 2500
km), Mỹ có tất cả các loại địa hình khí hậu. Với địa hình khí hậu đa dạng nh
vậy cho phép Mỹ phát triển các sản phẩm nông lâm ng nghiệp phong phú trên
quy mô lớn.
Nớc Mỹ cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Nhiều loại khoáng sản có
trữ lợng lớn. Mỹ là một trong những nớc đứng đầu thế giới về khai thác
khoáng sản, đặc biệt là dầu và than đá (800 triệu tấn/năm). Đây là những yếu
tố rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Mỹ, nhất là trong những năm đầu của
giai đoạn công nghiệp hoá.
Trớc 1865, Mỹ vẫn là quốc gia sản xuất và xuất khẩu nông sản là chủ yếu,
nhng sau đó Mỹ bắt đầu vơn lên trở thành một nớc công nghiệp phát triển,
6
đuổi kịp và vợt Anh, Pháp, Đức trở thành cờng quốc số một thế giới cho đến
tận ngày nay.
Nền kinh tế Mỹ hiện nay có những đặc điểm nổi bật sau:
* Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới:
Với dân số xấp xỉ 300 triệu ngời, trong đó 76% số ở thành thị, Mỹ là
thị trờng tiêu thụ bậc nhất thế giới hiện nay. Giá trị tổng sản phẩm quốc dân
của Mỹ năm 2002 đạt 10.446,2 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu ngời năm
2000 là hơn 36200 USD/ ngời/ năm, thuộc bộ phận những nớc có thu nhập
bình quân đầu ngời cao nhất thế giới.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim
ngạch buôn bán toàn cầu. Năm 2002, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ lên tới
chính phủ là khoảng 10%. Tỷ trọng này tăng đều qua các năm, năm 1998 so
với năm 1993 tăng 2%. Sự áp đảo của khu vực kinh tế t nhân đợc coi là nhân
tố chính tạo nên tính năng động, dễ thích nghi với các biến động, luôn sáng
tạo đổi mới. Chính phủ Mỹ quản lý nền kinh tế t nhân bằng thuế và các quy
định pháp luật chặt chẽ nh: luật chống độc quyền, bảo vệ ngời tiêu dùng, bảo
vệ môi trờng trên quan điểm càng ít can thiệp càng tốt, tạo điều kiện để
kinh tế t nhân phát triển và chỉ điều tiết khi cần hạn chế những tác động tiêu
cực của thành phần kinh tế này đến sự thịnh vợng chung của nền kinh tế
* Nền kinh tế tự do cạnh tranh:
Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới về tính cạnh tranh của các
nền kinh tế thì mức độ cạnh tranh giữa các công ty của Mỹ là cao nhất. Sở dĩ
nền kinh tế Mỹ có mức độ cạnh tranh cao nh vậy là vì: thứ nhất, thành phần
kinh tế t nhân chiếm vị trí áp đảo trong cơ cấu kinh tế; thứ hai, Mỹ là một thị
trờng mở nên sự cạnh tranh không chỉ trong phạm vi quốc gia mà mở rộng
trên phạm vi quốc tế; thứ ba, chủ nghĩa cá nhân và tính thực dụng của ngời
Mỹ đã khiến cho xã hội Mỹ trở thành một xã hội chỉ tin vào ngời thắng,
điều đó buộc con ngời ta chỉ có thể phát triển bằng cách hơn ngời khác và làm
8
cho cuộc cạnh tranh rất hung hãn và nhẫn tâm; thứ t là nhờ ở sự thi hành
hiệu quả các quy định pháp luật về chống độc quyền (Mỹ cũng đứng số một
thế giới trong lĩnh vực chống độc quyền theo báo cáo trên)
* Nền kinh tế dịch vụ:
Có thể gọi nh vậy là bởi giá trị dịch vụ chiếm đến 3/4 GDP và 80% lực
lợng lao động Mỹ và tỷ trọng này không ngừng tăng qua các năm. Chiếm tỷ
trọng lớn nhất và tăng nhanh nhất là các dịch vụ vận tải (hàng không, vận
chuyển hàng hoá bằng đờng bộ, dịch vụ kho hàng), thơng mại, tài chính, bảo
hiểm và bất động sản, dịch vụ t vấn quản lý và pháp luật kinh doanh, y tế, giáo
dục. Song song với mức tăng của tỷ trọng dịch vụ là mức giảm tơng đối của
các ngành khác, đặc biệt là các ngành sản xuất trực tiếp từ vật liệu tự nhiên
nh nông lâm thuỷ sản, khai khoáng. Là một nớc đứng đầu thế giới về sản xuất
tăng trởng của ngành công nghiệp Mỹ có sự đóng góp của máy tính và chất
bán dẫn. Nh vậy, một trong những nhân tố then chốt của nền kinh tế mới của
Mỹ là những tiến bộ liên tục và nhanh chóng của khoa học công nghệ. Khoa
học công nghệ đã làm tăng năng lực sản xuất, nâng cao hiệu suất và làm giảm
lợng lao động trên một đơn vị sản phẩm.
* Ngoại thơng đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế Mỹ
Điều này thể hiện ở tỷ trọng của kim ngạch XNK trong GDP của Mỹ.
Năm 1970, tỷ trọng này là 13%, đến năm 1990 đã là 30%. Năm 2002, kim
ngạch XNK của Mỹ là 2186,21 tỷ USD, chiếm 20,93% GDP (kim ngạch XNK
giảm do ảnh hởng của suy giảm kinh tế ) song vẫn đứng đầu thế giới. Khác với
Nhật Bản, một nớc nghèo tài nguyên thiên nhiên, ngoại thơng do đó là yếu tố
sống còn của nền kinh tế, Mỹ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, song
Mỹ đã sớm dựa vào ngoại thơng để phát huy lợi thế so sánh, điều chỉnh cơ cấu
kinh tế và tăng trởng không ngừng. Nhờ ngoại thơng, Mỹ đã thực hiện đợc mô
hình đàn sếu bay: không sản xuất các mặt hàng đòi hỏi lao động giản đơn nh:
dệt may, lơng thực thực phẩm, giày dép, máy móc thiết bị cơ bản, tivi mà
chuyển giao cho các nớc kém phát triển hơn và nhập khẩu trở lại các mặt hàng
10
này để tiêu dùng. Thay vào đó Mỹ tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt
hàng có hàm lợng khoa học công nghệ cao, lợi nhuận lớn nh: ngành chế tạo
hàng không, điện tử, tin học, nguyên tử, vũ trụ, hoá chất Trong cơ cấu xuất
khẩu các mặt hàng chế tạo và hàng công nghệ cao chiếm tỷ trọng từ 80 đến
90% tổng giá trị xuất khẩu. Ví dụ nh năm 1999 xuất khẩu mặt hàng chế tạo và
công nghệ cao đạt tới trên 800 tỷ USD.
* Một số đặc điểm khác:
Mỹ là quốc gia mà thu nhập bình quân đầu ngời cao nhất thế giới, song
chênh lệch thu nhập của ngời dân cũng rất lớn. Theo thống kê 20% dân số
giàu nhất nớc Mỹ chiếm hơn 1/2 thu nhập sau thuế của cả nớc, và một nửa số
thu nhập đó lại thuộc về 1% số ngời giàu nhất. Mức chênh lệch giữa 20% dân
số giàu nhất và 20% nghèo nhất của Mỹ là 9 lần, so với Đức là 6 lần và Nhật
chủ tịch Thợng nghị viện nhng thực tế thủ lĩnh của phe đa số trong Thợng nghị
viện sẽ điều hành công việc thờng ngày.
Hạ nghị viện gồm 435 nghị sĩ với nhiệm kỳ hai năm một lần. Viện đợc
bầu theo phổ thông đầu phiếu trực tiếp. Số nghị sĩ hạ nghị viện đợc phân cho
các bang theo tỷ lệ dân số nhng tối thiểu mỗi bang cũng có một nghị sĩ dù số
dân rất nhỏ. Theo Hiến pháp, số lợng nghị sĩ hạ viện đợc xác định 10 năm một
lần dựa trên kết quả điều tra dân số liên bang. Hạ nghị sĩ phải là ngời có tuổi
đời không ít hơn 25 và phải là công dân của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ít nhất 7
năm.
Chức năng chủ yếu của Quốc hội Mỹ là lập pháp, giám sát việc thi hành
pháp luật của các cơ quan chính quyền, biểu quyết các dự luật và thông qua
ngân sách, quyết định tham gia vào các vòng đàm phán mới, phê chuẩn các
thoả thuận sau các vòng đàm phán mới.
Tất cả các dự án luật đã đợc Hạ nghị viện và Thợng nghị viện thông
qua, trớc khi ban hành thành một đạo luật sẽ đợc đệ trình lên Tổng thống Mỹ.
Cơ quan hành pháp:
Điều II khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định: Quyền
12
hành pháp thuộc về Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tổng thống do dân
bầu ra theo cách bầu cử gián tiếp với chế độ cử tri đoàn, nhiệm kỳ 4 năm. Một
ngời không đợc làm tổng thống tối đa hai nhiệm kỳ. Tổng thống Mỹ là ngời
có quyền lực rất lớn, kiêm nhiệm cả hai vai trò: Nguyên thủ Quốc gia và là
ngời đứng đầu Chính phủ. Cùng với Tổng thống và Phó tổng thống, bộ máy
hành pháp Mỹ có 15 bộ và 60 uỷ ban độc lập. Tổng thống là ngời ký ban bố
các sắc luật và Hiến pháp cho phép tổng thống quyền phủ quyết dự luật đợc
Quốc hội thông qua.
Cơ quan t pháp:
Điều III khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:
Quyền t pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thuộc về Toà án Tối cao và các
Toà án cấp dới. Tối cao pháp viện là cơ quan đứng đầu một hệ thống toà án
phán quyết của toà án. Common Law có u điểm là giúp cho các vị thẩm phán
giải thích và áp dụng pháp luật một cách khách quan, trên cơ sở các phán
quyết của các vị thẩm phán trong các vụ án tơng tự trớc đó. Điều này làm cho
phán quyết của các vị thẩm phán có tính công bằng thuyết phục hơn.
Thứ hai là hệ thống pháp luật Mỹ đợc chia làm hai ngành là công pháp
và t pháp. Luật công đợc hệ thống hoá và ban hành dới dạng văn bản gồm có:
luật hiến pháp, luật nhà nớc, luật hình sự và những văn bản quy định về chính
sách đối ngoại, chính sách xuất nhập khẩu. Còn t pháp tồn tại dới hình thức án
lệ. Luật t bao gồm luật dân sự, luật thơng mại
Thứ ba, Mỹ sử dụng pháp luật nh là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ,
duy trì và củng cố chế độ chính trị cũng nh vị thế của Mỹ trên thế giới. Vì vậy
pháp luật Mỹ thể hiện rất rõ nét yếu tố chính trị trong nội dung cũng nh trong
tên gọi của văn bản luật.
3. Xã hội Mỹ
Đúng nh cái tên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, xã hội Mỹ hết sức đa dạng
về thành phần chủng tộc, ngôn ngữ , tôn giáo cũng nh lối sống.
14
Những ngời sống trên đất Mỹ hiện có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế
giới. Đông nhất là ngời da trắng từ Châu Âu, chiếm 83,5% dân số Mỹ. Thứ hai
là ngời da đen từ Châu Phi chiếm 12,4 % dân số. Ngời Châu á ở Mỹ cũng
khá đông và có xu hớng tăng nhanh trong những năm gần đây theo làn sóng
nhập c. Thống kê hiện nay cho thấy ngời gốc Châu á chiếm khoảng 3,3% dân
số Mỹ. Trong số đó nhiều nhất là ngời Trung Quốc, số lợng ngời Việt Nam ở
Mỹ là khoảng trên 1,5 triệu ngời ( Đây là một nhân tố thuận lợi cho việc thúc
đẩy quan hệ buôn bán hai nớc Việt Mỹ thông qua nhu cầu tiêu dùng của
Việt kiều đối với các sản phẩm Việt Nam, hay đóng vai trò trung gian phân
phối của họ tại Mỹ hoặc nh những ngời đầu t vào Việt Nam để xuất khẩu trở
lại thị trờng Mỹ). Cuối cùng, số lợng ít nhất là ngời Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ)
chiếm 0,8% dân số.
Về ngôn ngữ, tiếng Anh là quốc ngữ, song theo thống kê cũng có tới
Những ngời làm nghề tự do hay các doanh nhân có thu nhập
cao nhờ tài năng đặc biệt của mình. Tích cực tham gia công
tác xã hội và nghĩa vụ công dân; khao khát đợc thừa nhận địa
vị xã hội của mình, và chi tiêu có tính chất phô trơng. Cố
gắng tìm cách gia nhập vào giai tầng thợng lu lớp trên
Thị trờng những ngôi nhà đắt tiền, thuyền buồm, xe hơi
Giai tầng
trung lu
lớp trên
( 12%)
Những ngời đạt đợc công danh trong các nghề tự do, các nhà
quản trị, các doanh nhân. Thể hiện sự quan tâm đến vấn đề
học vấn, đời sống tinh thần, văn hoá và nghĩa vụ công dân.
Thị trờng nhà ở đẹp , đồ đạc quần áo và đồ dùng gia dụng tốt
Giai tầng
trung lu
lớp dới
(30%)
Viên chức, các nhà kinh doanh nhỏ, công nhân quý tộc
(đội ngũ kỹ thuật trung cấp của các nhà máy) quan tâm đến
việc tôn trọng chuẩn mực và quy tắc văn hoá, tạo cho mình
một dáng vẻ đáng tôn trọng.
Thị trờng những hàng hoá kiểu hãy tự làm lấy, đồ dùng gia
đình, quần áo theo kiểu mẫu nghiêm chỉnh
Giai tầng
hạ lu
lớp trên
(35%)
Những viên chức nhỏ, công nhân lành nghề và nửa lành
nghề. Quan tâm đến những vấn đề phân rõ vai trò giới tính,
hiểu đợc điều này, chúng ta phải quay trở lại lịch sử hình thành nớc Mỹ cách
đây 500 năm. Nớc Mỹ ngày nay đợc hình thành từ những ngời di c từ Châu
Âu sang. Họ thuộc đủ loại thành phần, ngời sang Châu Mỹ để tìm vàng, ngời
đi chốn tránh pháp luật, ngời đi tìm tự do tôn giáo hoặc ngời đi để tìm kiếm
vận may mà họ không đợc hởng từ quê nhà. Đa phần họ đều nghèo, trong tay
không có mấy tài sản nhng đều có niềm tin chung : nớc Mỹ rộng lớn nhiều tài
nguyên, nếu họ biết cần cù lao động thì tất đợc đổi đời. Chính vì niềm tin ấy
mà họ dám bỏ xứ sở ra đi để đến với vùng đất này. Họ bắt đầu từ đôi bàn tay
17
trắng, lại phải chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên hoang dã,
song họ không nản lòng. Tài sản quí giá nhất của ngời Mỹ lúc đó là lao động,
nên họ hiểu rất rõ giá trị của lao động và luôn có ý thức sao cho lao động bỏ ra
mang lại hiệu quả cao nhất. Đó là nguồn gốc của các phát minh, cải tiến trong
sản xuất, các phơng pháp tổ chức lao động khoa học, những yếu tố giúp nớc
Mỹ tiến xa và nhanh, từ một thuộc địa của Anh trở thành một quốc gia đứng
đầu thế giới. Đặc điêm này cũng lý giải cho tính thực dụng của ngời Mỹ. Đây
là một nét rất đặc trng của ngời Mỹ và đợc phản ánh trong rất nhiều mặt nh:
trong cách tiêu dùng, trong cách lao động, trong buôn bán, trong đàm phán,
Lao động là thứ rất đợc tôn vinh trong xã hội Mỹ. Khác với Châu Âu,
những ngời đợc coi trọng nhất trong xã hội không phải là các nhà quý tộc
xuất thân trong nhung lụa mà là những con ngời từ nghèo khó, nhờ lao động
và tài năng mà trở thành các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học hay các tỷ phú. ở
Mỹ đã lao động thì không phân biệt sang hèn. Dù có phải làm công việc phục
vụ trong các quán ăn thì ngời Mỹ cũng không tỏ ra coi thờng mà coi đó là dịp
rèn luyện bản thân.
Sống trong xã hội mà cạnh tranh luôn diễn ra một cách căng thẳng và
khốc liệt trên mọi lĩnh vực, trong đó thời gian cũng là yếu tố giúp vợt lên trên
đối thủ, ngời Mỹ dần hình thành nên ý thức tiết kiệm thời gian với những biểu
hiện đặc trng. Thời gian là tiền bạc (Time is money) là câu nói ăn sâu trong
tiềm thức mỗi cá nhân ngời Mỹ. ý thức tiết kiệm thời gian thể hiện ngày trong
ngôn luận đợc tuân thủ khá tốt ở Mỹ.
5. Thị hiếu tiêu dùng của ngời Mỹ
Chịu ảnh hởng của các yếu tố xã hội, văn hoá, lối sống, mức sống, thị hiếu
tiêu dùng của ngời mỹ rất đa dạng. Thậm chí khi bán hàng cho mỗi vùng mỗi
bang trên đất Mỹ ngời ta có thể phải sử dụng những chiến lợc Marketing hoàn
toàn khác nhau. Yêu cầu của ngời tiêu dùng đối với phẩm cấp hàng hoá cũng
có nhiều loại, từ phẩm cấp thấp đến phẩm cấp trung bình và phẩm cấp cao
19
(các hàng hoá Việt Nam xuất sang Mỹ chủ yếu hớng vào các đối tợng có nhu
cầu hàng phẩm cấp trung bình và thấp).
Đối với các hàng hoá thuộc phẩm cấp trung bình và thấp, thị hiếu của
ngời Mỹ nhìn chung chuộng những hàng có mẫu mã đơn giản, không cần cầu
kỳ, miễn là mới lạ, tiện dụng, giá rẻ. Do đó, những mặt hàng tiêu dùng của
Trung Quốc có cấu trúc đơn sơ nhng giá thành thấp đã bán rất chạy ở Mỹ. Ng-
ợc lại, một số hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam xuất sang Mỹ trớc đây do
công kềnh, trạm chổ tinh vi nhng giá thành cao nên rất khó bán ở Mỹ. Ngời
tiêu dùng Mỹ cũng là những ngời a sự độc đáo, mới lạ. Họ có thể rất tự hào vì
nhà mình có những chiếc bát ăn hay lọ hoa với hoa văn không ai có, dù nó rất
đơn giản và không phải là hàng đắt tiền. Yếu tố giá thành sản phẩm cũng rất
quan trọng. Nhất là các mặt hàng có giá thấp một cách đặc biệt so với các mặt
hàng cùng loại thì ngoài yếu tố kinh tế nó còn kích thích sự tò mò của ngời
tiêu dùng Mỹ.
6. Chính sách kinh tế
Những năm 1990, chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một môi trờng
mới cho sự phát triển kinh tế thế giới. Kinh tế trở thành trọng điểm trong các
quan hệ quốc tế. Nguy cơ của cuộc chiến tranh hạt nhân bị đẩy lùi, song cuộc
chạy đua về kinh tế trở thành những thách thức lớn nhất đối với an ninh mỗi
quốc gia. Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia kể cả Mỹ nếu không muốn tự loại
mình khỏi vòng đua thì phải tập trung u tiên phát triển kinh tế. Nhận thức sâu
sắc điều đó, Chính phủ Mỹ đã đặt mục tiêu phát triển kinh tế làm u tiên hàng
ngân sách bao gồm giảm chi tiêu về bảo trợ xã hội, quốc phòng, tăng cờng
sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế, tăng đầu t cho cơ sở hạ tầng và
khu vực t nhân, tăng thuế, cải cách bộ máy của chính phủ.
- Đầu t nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống giao thông vận tải nhằm tạo ra công
ăn việc làm cho ngời thất nghiệp, đặc biệt là tầng lớp thanh niên và sinh
viên đại học.
- Đầu t cho các ngành kỹ thuật cao để khôi phục sức cạnh tranh của hàng
21
hoá Mỹ.
- Coi thơng mại là nhân tố u tiên đối với an ninh của Mỹ, tăng cờng vai trò
lãnh đạo của Mỹ trong giới tài chính quốc tế, mở rộng thị trờng sang các n-
ớc phát triển.
Bớc sang năm 2001 nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái. Để ngăn chặn xu thế
này, chính quyền George Bush đã có những điều chỉnh trong chính sách kinh
tế thông qua việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài chính cởi mở,
vừa giảm lãi suất tín dụng, vừa giảm thuế với hy vọng thúc đẩy đầu t, kích
thích tiêu dùng, đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế. Những điều chỉnh này
đã có một số tác dụng tức thời qua tốc độ tăng trởng khá cao của nền kinh tế
trong quý I, II của năm 2002. Song cuối năm 2002 và sang đầu năm 2003 này,
nền kinh tế Mỹ lại tiếp tục nằm trong tình trạng trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp tăng
cao, thâm hụt ngân sách đạt mức kỷ lục, cho thấy tính kém hiệu quả (về lâu
dài) của các chính sách kinh tế đòi hỏi chính quyền Bush phải có những điều
chỉnh tích cực hơn trong thời gian tới.
III. Chính sách kinh tế đối ngoại
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Mỹ đặc biệt lu tâm đến tầm quan
trọng của chính sách kinh tế đối ngoại trong chính sách kinh tế nói chung.
Điểm nổi bật của chính sách kinh tế đối ngoại hiện nay của Mỹ là:
Chiến lợc kinh tế của Mỹ là lấy khu vực t nhân làm động lực thúc đảy nền
kinh tế phát triển, còn chính phủ có vai trò liên kết với khu vực t nhân.
Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ các lợi ích kinh doanh của Mỹ, là
ngắn hơn nếu không muốn bị hàng hoá nớc ngoài đánh bại. Do đó làm cho
các công ty hoạt động hiệu quả hơn. Một ví dụ đó là nhờ sự cạnh tranh từ bên
ngoài mà ngành công nghiệp ô tô của Mỹ đã giành lại đợc vị trí của mình trên
thị trờng thế giới. Từ chỗ phải nhờng phần thắng cho các đồng nghiệp Nhật
trong những năm 70, ngày nay các công ty ô tô của Mỹ đã trở lại là những nhà
23
xuất khẩu ô tô lớn trên thế giới.
* Tự do hoá thơng mại làm tăng tối đa lợi thế so sánh và mở rộng quy mô
kinh tế
Tự do hoá thơng mại đã làm hạn chế các rào cản thuế quan và phi thuế
quan cho phép hàng hoá Mỹ có thể mở rộng thị trờng, đẩy mạnh xuất khẩu
những mặt hàng mà Mỹ có u thế. Từ đó có thể phát huy đối đa những lợi thế
so sánh và mở rộng sản xuất. Không những thế, tự do hoá thơng mại cũng cho
phép Mỹ tập trung vào sản xuất những mặt hàng mà Mỹ có u thế hơn hẳn thay
vì phải phân tán một phần nguồn lực để sản xuất những mặt hàng khác kém
hiệu quả hơn.
* Tự do hoá thơng mại mở rộng quy mô thị trờng
Tự do hoá thơng mại giúp cho các công ty Mỹ có thể bán hàng hoá của
mình trên một thị trờng rộng lớn hơn thay vì chỉ phổ biến trên đất Mỹ. Nhu
cầu hàng hoá Mỹ ở nớc ngoài sẽ làm cho sản xuất của Mỹ phát triển thoả mãn
nhu cầu đó, làm tăng doanh thu và lợi nhuận của các công ty tạo nên sự thịnh
vợng chung của nớc Mỹ.
Ví dụ: nh chỉ sau 3 năm ký Hiệp định thơng mại NAFTA, giao dịch
buôn bán của Mỹ với Canada và Mexico đã tăng 44%. Tỷ trọng xuất khẩu
hàng hoá vào Canada và Mexico chiếm khoảng 35% (2002)
* Tự do hoá thơng mại củng cố vai trò kinh tế toàn cầu của Mỹ
Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ chiếm 17 % (1996) giá trị th-
ơng mại hàng hoá toàn cầu. Hàng năm Mỹ nhập khẩu tới 1200-1400 tỷ USD,
đồng thời họ cũng là những nhà cung cấp hàng đầu cho toàn thế giới các sản
phảm công nghệ cao cũng nh các nông sản chủ yếu cho thị trờng thế giới với
ở đây. Song dù với mục đích gì thì trong chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ
với Việt Nam đã xác định: một nớc Việt Nam phồn vinh, hội nhập với thị tr-
ờng thế giới và các tổ chức khu vực sẽ đóng góp cho sự ổn định khu vực là
phù hợp với lợi ích của Mỹ.
25