GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ
Ngày nay, cùng với dân số và chiến tranh, môi trường được coi là một trong
những vấn đề bức xúc nhất của toàn thế giới. Vấn đề này không chỉ liên quan tới sự
thay đổi của tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội cũng như chất lượng
sống của loài người.
Ban đầu, con người tác động vào môi trường là không đáng kể, nhưng từ thế
kỷ XVIII với nền công nghiệp cơ khí ngày càng hiện đại, với số dân đã gần 1 tỷ và
tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, con người đã khai thác quá mức và sử dụng không
hợp lý các nguồn tài nguyên, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, môi trường sống bị ô
nhiễm nghiêm trọng ở qui mô toàn cầu và đang đe doạ cuộc sống của con người trên
trái đất. Chẳng hạn, các hiện tượng:
- Ô nhiễm không khí đã vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị và các khu
công nghiệp.
- Hiệu ứng nhà kính gia tăng do sự tăng lên của khí CO
2
và các khí nhà kính
khác thải vào khí quyển, làm nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất tăng lên. Sự thay
đổi này gây ra những biến đổi của khí hậu toàn cầu, gây ra lũ lụt, hạn hán và làm
mức nước biển dâng lên.
- Tầng ôzôn bị phá huỷ, lượng tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống mặt đất
tăng lên, gây nên ung thư da, suy giảm miễn dịch ở người, giảm năng suất sinh học
của động, thực vật. Nguyên nhân chủ yếu làm suy thoái và thủng tầng ôzôn là các
khí CFC,CH
4
, NO
x
thải vào khí quyển.
- Nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, nước mưa bị axit hoá (mưa axit);
nước ngầm bị khai thác quá mức và bị ô nhiễm, nước sông hồ, nước biển bị ô nhiễm
do nước thải công nghiệp, nước thải đô thị và khai thác khoáng sản biển cũng như
chất thải củagiao thông đường thủy.
vụ và với môi trường thiên nhiên; qua đó hình thành thói quen và kỹ năng lao động
tự phục vụ, tiến tới tự lập nghiệp khi trưởng thành.
Cụ thể là, “học xong môn học Công nghệ, học sinh cần phải đạt được:
- Kiến thức: Hiểu được những kiến thức ban đầu và thông thường về kỹ thuật
và công nghệ của một số lĩnh vực sản xuất phổ biến của đất nước như công – nông –
lâm – ngư nghiệp, về kinh tế gia đình và kinh doanh; bước đầu hình thành được tư
duy công nghệ, tư duy kinh tế.
- Kỹ năng: Hình thành được một số kỹ năng lao động nghề nghiệp đơn giản,
cơ bản, cần thiết thuộc các lĩnh vực nêu trên; hình thành được kỹ năng học tập môn
Công nghệ.
- Thái độ: Có thói quen làm việc theo kế hoạch, tuân thủ quy trình, thực hiện
an toàn lao động và bảo vệ môi trường; bước đầu hình thành được tác phong công
nghiệp; có thái độ quý trọng lao động, say mê, hứng thú học tập và tìm hiểu về nghề
nghiệp”.
(Chương trình giáo dục phổ thông môn Công nghệ, Nhà xuất bản Giáo dục,
2006).
c) Kế hoạch dạy học môn học
Theo Kế hoạch dạy học, môn Công nghệ được dạy từ lớp 1 đến lớp 12 của
trường phổ thông.
Nội dung môn Công nghệ phổ thông phản ánh các loại hình lao động phổ biến
như: lao động thủ công, lao động kỹ thuật đơn giản trong các lĩnh vực dịch vụ sinh
hoạt, kinh tế gia đình, công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp.
2. Giáo dục môi trường
a) Môi trường và môi trường học tập
- Môi trường
Có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về môi trường tùy theo cách tiếp
cận:
3
“Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó.
Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
với môi trường.
b) Giáo dục môi trường
Quan niệm thứ nhất: Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt
động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu
biết, kỹ năng và giá trị; tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền
vững về sinh thái.
Mục đích của giáo dục môi trường là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ
năng vào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế
hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công
nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo đói,
tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài
nguyên. Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực
và cam kết hành động, dù với cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi
trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
Quan niệm thứ hai: “Giáo dục môi trường là tiến trình giáo dục có mục đích
để thức tỉnh dân cư thế giới nhận thức và quan tâm đến môi trường và các vấn đề có
liên quan; có sự hiểu biết, kỹ năng, quan điểm, động cơ thúc đẩy và cam kết thực
hiện một cách riêng lẻ và tập thể nhằm hướng tới những giải pháp cho khó khăn
thực tại và ngăn ngừa những vấn đề mới”.
Các quan niệm thông thường về giáo dục môi trường đều có những đặc điểm
sau:
- Giáo dục môi trường nhằm hiểu biết mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên,
môI trường xã hội và vai trò của con người trong đó.
- Giáo dục môi trường là quá trình học hỏi liên tục, phát triển theo kinh
nghiệm của con người trong quá trình trải nghiệm cuộc sống.
5
- Mục tiêu cuối cùng đạt đươc qua học hỏi, trải nghiệm là thay đổi hành vi
của con người.
- Mọi nỗ lực của giáo dục môi trường cần tập trung vào việc nâng cao chất
lượng cuộc sống và thân thiện với môi trường.
giao thông vào môi trường nước.
Ô nhiễm không khí có nguồn gốc tự nhiên như hoạt động của núi lửa, phun ra
nham thạch nóng, khói bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác hoặc cháy
rừng, đồng cỏ do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô với nhau như tre, nứa,
lau, sậy, cỏ… hay bão lũ do gió, bão. Do các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động,
thực vật tự nhiên cũng phát thải vào không khí các khí độc hại như Sunfua, nitrít,…
Nguồn gốc nhân tạo làm ô nhiễm không khí rất đa dạng nhưng chủ yếu là
hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương
tiện giao thông vận tải.
Ô nhiễm đất là do lũ lụt gây xói mòn, do các chất gây ô nhiễm không khí lắng
đọng lại trên mặt đất, do hoạt động của con người như trong hoạt động nông nghiệp
(đốt, phá rừng trồng cây lương thực, cây công nghiệp, sử dụng phân bón hoá học,
thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…). Khai thác rừng một cách bừa bãi để lấy gỗ, trong
hoạt động công nghiệp (khai khoáng, chất thải của các nhà máy, xí nghiệp…) trong
sinh hoạt (chất thải rắn, nước thải …).
Ô nhiễm nhiệt có nguyên nhân chủ yếu là do con người đốt cháy nhiên liệu
(than, củi, xăng, dầu, khí…) trong sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và sinh
hoạt. Ô nhiễm nhiệt làm thay đổi khí hậu trong vùng nhất là các đô thị và khu công
nghiệp, nhiệt độ không khí trung bình ở các khu vực này thường cao hơn vùng rừng
núi và nông thôn từ 1÷3
o
c.
Ô nhiễm tiếng ồn, ngoài yếu tố tự nhiên gây ra như sấm sét, còn chủ yếu do
con người gây ra như bom, đạn trong chiến tranh; nổ mìn trong khai thác mỏ, khai
thác đá, …; sử dụng động cơ nổ và các phương tiện giao thông vận tải (máy bay, tầu
7
thuỷ, tầu hoả, ô tô, xe máy); trong sản xuất (rèn, dập, tán…); trong sinh hoạt (phát
thanh, truyền hình, ca nhạc…).
Như vậy trong các ô nhiễm chính nêu trên đều có tác nhân của con người, trong
đó hoạt động công nghiệp đóng vai trò chủ yếu. Sau đây xin giới thiệu những nét
bay cao, khó bay xa, thường tập trung ở khu vực gần nguồn thải. Mặt khác thiết bị
sản xuất thường không kin hoặc bị rò rỉ qua thiết bị, qua đường ống làm tăng nồng
độ chất độc trong không khí ở bên trong cũng như bên ngoài nhà máy hoá chất. Chất
thải còn xả vào nguồn nước.
8
Việc xả các khí H
2
S, SO
2
, NO
x
, … là nguyên nhân gây ra hiện tượng mưa axít,
làm chua đất, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thảm thực vật. Do vậy không khí,
nước, đất bị ô nhiệm rất nặng.
d) Ô nhiễm do ngành chế biến thực phẩm
Chất thải của các nhà máy chế biến thực phẩm làm ô nhiễm không khí, chủ yếu ở
khâu đốt lò, nồi hơi, thải ra nhiều bụi, khí độc (CO, CO
2
, SO
2
, NO
x
) và tạo ra nhiều
loại mùi hôi thối. Các chất thải chứa đường, tinh bột, protêin được xả vào nước gây
ô nhiễm nước, tiếp tục thối rữa, phân huỷ trong môi trường này.
e) Ô nhiễm do các ngành công nghiệp nhẹ
Các nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy thuốc lá, nhà máy xà phòng, nhà máy
thuộc da, chế biến cao su.v.v… đều thải ra không khí và nguồn nước làm ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất.
g) Ô nhiễm do ngành luyện kim
Bụi và khí thải ra từ các xưởng chính, từ xưởng rèn, đúc, xưởng nhiệt luyện,
xưởng hàn,…; nhiệt toả ra từ xưởng đúc, xưởng rèn đập; tiếng ồn từ búa máy,… đếu
làm môi trường bị ô nhiễm.
i) Ô nhiễm do ngành giao thông vận tải
Đây là một nguồn gây ô nhiễm lớn cho không khí. Hoạt động cuả giao thông
vận tải đã thải ra gần 2/3 lượng khí CO, hơn 4/100 lượng bụi, 1/37 lượng SO
x
, 3/5
lượng C
m
H
n
và 2/5 lượng NO
x
do con người tạo ra. Ngoài ra các phương tiện giao
thông vận tải còn làm ô nhiễm môi trường nước (tạo mưa axít, rò rỉ dầu, tràn dầu
hoặc đắm tàu chở dầu,…). Dầu, mỡ chất thải cuả sơn, mạ… cùng làm cho đất bị ô
nhiễm.
Cũng cần phải nói thêm một vài vấn đề sau đây: Một năm con người sử dụng
tới 35000 km
3
nước thì riêng cho hoạt động công nghiệp đã là 8050 km
3
(23%).
Bình thường con người mỗi ngày cần 250 lít nước dùng cho sinh hoạt nhưng để làm
ra 1 lít bia phải cần khoảng 15 lít nước, 1 tấn giấy cần 250m
3
nước, 1 tấn đạm cần
600m
3
Nước biển là một kho hoá chất tiềm tàng. Đáy biển và đại dương có nhiều loại
khoáng sản quan trọng như dầu khí, các sa khoáng như thiếc, vàng, than, quặng sắt,
quặng đồng, quặng photphorit, .v.v… Hiện nay, một số loài khoáng sản trên đang
được khai thác ở nhiều vùng biển. Trong đó, việc khai thác dầu khí trên biển có ảnh
hưởng lớn nhất đến môi trường biển. Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các
phương tiện vận chuyển dầu khí và sự cố tràn dầu có chiều hướng gia tăng. Màng
dầu loang trên mặt nước ngăn cản quá trình hoà tan oxy từ không khí. Cặn dầu lắng
xuống dáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển. Nhiều chất thải độc hại do con người
thải ra biển một cách có ý thức và vô ý thức. Loại hoá chất bền vững như DDT có ở
khắp các đại dương và tới 2/3 là do con người làm ra. Một lượng lớn các chất thải
11
phóng xạ do một số nước bí mật đổ ra biển. Việc nhấn chìm các loại đạn dược, bom
mìn, nhiên liệu tên lửa, thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh.
Vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển.
Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu, thuyền chiếm tới 50% nguồn ô nhiễm dầu trên
biển. Các tai nạn đắm tàu thuyển đem theo phương tiện, hàng hoá cùng hoá chất độc
hại vào biển.
Ô nhiễm không khí cũng tác động mạnh đến ô nhiễm biển. Lượng CO
2
cao
trong không khí cũng sẽ làm tăng lượng CO
2
hoà tan trong nước biển. Nhiệt độ của
khí quyển Trái đất tăng lên do hiệu ứng nhà kính làm mực nước biển dâng cao và
môi trường sinh thái biển thay đổi.
Ngoài nguồn ô nhiễm nhân tạo kể trên, biển còn bị ô nhiễm do các quá trình tự
nhiên như núi lửa phun trào, bão lụt, .v.v…
Các hoạt động công nghiệp đã xả vào đất một lượng lớn các chất thải qua các
ống khói, bãi rác, cống thoát nước,… Các chất thải này làm thay đổi thành phần của
đất, độ pH, quá trình nitơrat hoá,… và hệ sinh vật trong đất sẽ bị ảnh hưởng.
làm ô nhiễm không khí, đất, nước,…
Các hoạt động xây dựng nhà máy, bến bãi, đường xá,… sẽ phá huỷ thảm thực
vật và cảnh quan khu vực, làm thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy, tạo điều kiện
xói mòn đất,…
Trên đây mới chỉ là những vấn đề chung về ô nhiễm môi trường do sản xuất
công nghiệp gây nên.
Trong chương trình môn Công nghệ phổ thông có nhiều nội dung liên quan đến
môi trường và giáo dục môi trường; do đó có khả năng tích hợp giáo dục môi trường
thông qua dạy học bộ môn.
Dưới đây là phần tóm tắt chương trình tích hợp giáo dục môi trường trong phần
công nghiệp ở cấp trung học phổ thông.
(Bảng tổng hợp)
III. PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GDMT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ
1. Phương pháp tích hợp GDMT
a) Quan niệm
13
- Tích hợp ở đây được hiểu là sự kết hợp, lồng ghép các mục tiêu khác nhau
thông qua một hoạt động nào đó.
- Phương pháp tích hợp giáo dục môi trường
Ở đây nói đến phương pháp tích hợp giáo dục môi trường là nói đến cách
thức, con đường để đạt được các mục tiêu giáo dục môi trường thông qua môn
học/hoạt động giáo dục cụ thể. Chẳng hạn:
- Thông qua các bài dạy lý thuyết, thực hành của môn học;
- Thông qua tham quan thực tế;
- Thông qua ngoại khóa các nội dung có liên quan.
……………………………………………………………
2. Cơ sở của tích hợp GDMT trong dạy học môn Công nghệ
a) Quy luật về tính hệ thống, toàn vẹn của giáo dục
Giáo dục là một bộ phận (hệ thống con) của xã hội (hệ thống trên) trong mối
quan hệ với môi trường (tự nhiên và xã hội).
đặc trưng của môn Công nghệ (tính ứng dụng, tính thực tiễn).
Mô hình này trú trọng đến các mối quan hệ giữa con người với kỹ thuật (công
nghệ) và với môi trường (tự nhiên và xã hội). Vì thế, nội dung giáo dục kỹ
thuật/công nghệ không được hiểu theo nghĩa hẹp mà phải được xem xét trong sự
thống nhất của tự nhiên, xã hội và con người; xem xét trong mối quan hệ tổng thể
giữa sản xuất/khai thác, tiêu thụ cùng với những điều kiện về tự nhiên, xã hội và lợi
ích cá nhân/nhóm với cộng đồng (sơ đồ):
15
Điều kiện ban đầu
Hệ quả
Tự nhiên – con người – xã hội
Hệ thống đối
tượng kỹ thuật
Hệ thống con
người - kỹ
thuật – xã hội II
(sử dụng/khai
thác)
Hệ thống con
người - kỹ
thuật – xã hội I
(sự ra đời)
Mô hình hệ thống con người – kỹ thuật – xã hội
Ở đây:
- Hệ thống kỹ thuật (hệ thống đối tượng kỹ thuật) được hiểu là tập hợp các
phương tiện (máy móc, thiết bị) và phương pháp kỹ thuật nhằm làm biến đổi vật
liệu/năng lượng/thông tin. Việc nghiên cứu cụ thể sự biến đổi vật liệu/năng
lượng/thông tin thuộc chức năng của mô hình công nghệ học đại cương.
- Theo tiến trình lịch sử, có thể có nhiều hệ thống con người - kỹ thuật - xã
hội khác nhau cùng tồn tại và phát triển; trong đó, hệ thống kỹ thuật sẽ dần chuyển
làm việc, số liệu kỹ thuật…); có thể hỏi: Tại sao mỗi sản phẩm đều có các tiêu
chuẩn chất lượng kèm theo?
Nói chung, con đường suy diễn thường tiết kiệm thời gian hơn con đường quy
nạp và kết quả thường chắc chắn hơn.
- Tiến trình thực hiện
Các bước khai thác nội dung giáo dục môi trường trong chương trình/ sách
giáo khoa có thể tóm tắt như sơ đồ sau:
17
Các bước khai thác nội dung giáo dục môi trường
trong chương trình/ sách giáo khoa
Nội dung cụ thể các bước:
Bước 1. Tìm hiểu mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường
Bước 2. Xác định chủ đề/bài học có thể tích hợp
Có thể đối chiếu mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và nội
dung sách giáo khoa môn học với mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường
Tìm hiểu mối quan hệ giữa nội dung học tập (đối tượng) với môi trường (tự
nhiên và xã hội); nhất là tác động của đối tượng tới các tiêu chuẩn về môi trường
(đất, nước, không khí, tiếng ồn và rung động, ). Ở đây thường là các mối quan hệ
nhân quả. Thông qua đó tìm ra các chủ đề của môn học và nội dung giáo dục môi
trường có thể tích hợp. Nên phân tích mục tiêu chung của môn học, đối chiếu với
mục tiêu của giáo dục môi trường và các tiêu chuẩn về môi trường như đã giới thiệu
ở phần trên.
Bước 3. Xác định địa chỉ cụ thể có thể tích hợp
18
Tìm hiểu mục tiêu và nội dung giáo dục
môi trường (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
Xác định chủ đề/bài học có thể tích hợp
Xác định địa chỉ cụ thể có thể tích hợp
Xác định nội dung giáo dục môi trường
(kiến thức, kỹ năng) có thể tích hợp
định có tác dụng định hướng hành động của con người. Nó được thể hiện trong cách
nhìn nhận và ý kiến của con người về sự đánh giá các mặt khác nhau của cuộc sống.
Hàng ngày, con người phải quyết định hoặc lựa chọn từ nhiều phương án có
sức hấp dẫn nhưng đôi khi lại đối lập nhau; do đó họ có thể bối rối, không tự quyết
định được. Khi đó họ thường chọn hoặc quyết định trên cơ sở xác đinh và phân tích
giá trị của các phương án. Vì thế, giá trị có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân.
Với tư cách là phương pháp cụ thể để tích hợp giáo dục môi trường trong dạy
học Công nghệ, làm sáng tỏ hoặc xác định giá trị là phương pháp làm cho học sinh biết
tư duy hợp lý trong việc xem xét và xác định các giá trị theo mục tiêu giáo dục môi
trường. Ở đây, học sinh được tìm hiểu, liên hệ/trải nghiệm để có được tình cảm, niềm
tin; từ đó quyết định hoặc lựa chọn dựa trên hệ thống những giá trị của bản thân.
+ Các bước thực hiện: dựa theo quá trình định giá, có thể thực hiện phương
pháp này qua các bước sau: lựa chọn đánh giá cao hành động. Cần chú ý:
. Đặt ra các vấn đề/câu hỏi sao cho các ý kiến, quan điểm của học sinh được
làm sáng tỏ trên cơ sở thực hiện quá trình định giá.
. Tập trung vào việc làm cho học sinh quan tâm đến những niềm tin và hành vi mà
họ đã lựa chọn, có cảm xúc với niềm tin và hành vi này, mong muốn được bảo vệ chúng.
. Hướng dẫn cho học sinh cân nhắc, lựa chọn các phương án dựa vào hệ quả
của chúng, xem xét niềm tin - thái độ - mục đích - hứng thú và hành động của bản
thân. Mục đích chủ yếu là kích thích học sinh làm sáng tỏ suy nghĩ của mình, xem
xét hành động của mình và từ đó làm sáng tỏ giá trị của mình.
+ Khả năng áp dụng: phương pháp này có thể sử dụng trong việc tìm ý nghĩa
thực tiễn của nội dung bài học có liên quan đến nhận thức và hành động của bản
thân (nói riêng) và con người (nói chung) đối với môi trường.
Ví dụ: Tại sao phải làm việc theo quy trình/kế hoạch? Tại sao phải thực hiện
đúng các quy định về an toàn lao động? Tại sao phải xắp xếp dụng cụ gọn gàng? Tại
sao phải quy định tốc độ tối đa của ô tô, xe máy khi tham gia giao thông?
- Dạy học theo dự án
20
+ Bản chất: Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học (theo nghĩa
hoạch
thực hiện
dự án
Thực hiện
dự án
Đánh giá
kết quả
dự án
Bước 4. Đánh giá dự án
Học sinh (đại diện nhóm) báo cáo quá trình thực hiện và kết quả có đối sánh
với mục tiêu ban đầu, giới thiệu sản phẩm (báo cáo tổng hợp số liệu, kết luận hoặc
sản phẩm cụ thể) và tự đánh giá. Giáo viên nhận xét và đánh giá.
+ Khả năng áp dụng:
Do tính chất phức hợp của mục tiêu giáo dục môi trường (như đã nêu ở phần
trên), phương pháp này có thể được áp dụng trong việc thực hiện các dự án học tập
như: xác định/đánh giá các chỉ số về môi trường: đất, nước, không khí, mức độ
nhiễm điện… và ảnh hưởng của chúng đến chất lượng cuộc sống tại địa phương dựa
trên các tiêu chuẩn về môi trường (do giáo viên tìm hiểu và cung cấp).
Các kỹ thuật này cũng có thể được thực hiện dưới hình thức ngoại khóa theo
các chủ đề học tập (các chương/phần trong chương trình môn học).
IV. MỘT SỐ BÀI SOẠN TÍCH HỢP GDMT
Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn công nghệ có thể thực hiện
thông qua hệ thống các câu hỏi với sự gợi mở của giáo viên với hai cách:
- Từ nội dung bài học có liên quan, phân tích ảnh hưởng của nó đối với môi
trường;
- Từ kinh nghiệm/hiểu biết thực tế có liên quan mà dẫn dắt vào nội dung bài
học.
V. HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH, THỰC TẾ, NGOẠI KHÓA GDMT
22
23