HÀ NỘI - 2009
Tổ chức Giáo dục
Khoa học và Văn hóa
của Liên Hợp Quốc
Chuyên đề
CHĂM SÓC SỨC KHỎE
TRẺ EM VÌ TƯƠNG LAI
CỦA CỘNG ĐỒNG
Bộ tài liệu nguồn theo các chuyên đề Giáo dục vì Sự phát triển bền vững dành cho
Trung tâm học tập cộng đồng
- Dự án “Phát triển chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng
kiến nâng cao năng lực xóa mù chữ (LIFERSS) ở Việt Nam” - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Văn phòng
UNESCO Hà Nội.
Bộ tài liệu được tổ chức biên soạn bởi Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Không chính quy - Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam, góp ý, chỉnh sửa và phê duyệt bởi Vụ Giáo dục Thường xuyên - Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
Tác giả: Phí Nguy
ệt Lự
Nguyễn Bích Liên
Dương Thị Lan Hương
© Văn phòng UNESCO Hà Nội 2009
Xuất bản bởi Văn phòng UNESCO Hà Nội
Giấy phép xuất bản số:
In tại: Công ty CP In Trần Hưng. Số lượng: 750 cuốn. In xong và nộp lưu chiểu tháng 10.2009.
Để biết thêm thông tin xin liên hệ:
Văn phòng UNESCO Hà Nội
Địa chỉ: 23 Cao Bá Quát, Hà Nội
ĐT: 04-37470275/6
Fax: 04-37470274
Email:
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Bộ tài liệu đã nhận được sự góp ý của các chuyên gia từ các Bộ, ban ngành đoàn
thể, các nhà khoa học, các cán bộ và giáo viên của các địa phương với mục đích
nhằm tăng cường tính chính xác, tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn của
Bộ tài liệu. Mặc dù vậy, Bộ tài liệu vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi
rất mong tiếp tục nhận được đóng góp của các chuyên gia, của cán bộ, GV/HDV
và các học viên trong quá trình sử dụng Bộ tài liệu này.
Vụ Giáo dục Thường xuyên chân thành cảm ơn Văn phòng UNESCO Hà Nội đã giúp
đỡ về kỹ thuật và tài chính để biên soạn và in ấn Bộ tài liệu này. Xin chân thành
cảm ơn các chuyên gia của các Bộ, ban, ngành, đoàn thể đã tham gia biên soạn và
góp ý cho Bộ tài liệu. Cảm ơn các địa phương đã nhiệt tình tham gia thử nghiệm
và đóng góp ý kiến để hoàn thiện Bộ tài liệu này.
Hà Nội, tháng 7 năm 2009
Vụ Giáo dục Thường xuyên
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Lời giới thiệu
Bài Một: Phòng chống tiêu chảy ở trẻ em 7
I. Một số hiểu biết cần thiết về tiêu chảy ở trẻ em 8
II. Thực trạng phòng chống tiêu chảy ở trẻ em 13
III. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng chống tiêu chảy ở trẻ em 15
Phụ lục 1: Chế độ ăn của trẻ khi bị tiêu chảy 17
Phụ lục 2: Bệnh tiêu chảy mùa lạnh ở trẻ nhỏ 21
Phụ lục 3: Bốn khuyển cáo cho cộng đồng phòng chống
bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm 22
Bài Hai: Phòng, chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 23
I. Một số hiểu biết chung về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 24
II. Thực trạng phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 28
III. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về
phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 29
Phụ lục 1: Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí 31
Phụ lục 2: Hiểu hơn về bệnh cảm cúm ở trẻ em 33
nước, kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày).
Dự
a theo triệu chứng lâm sàng, tiêu chảy cấp thông thường lại được chia làm hai loại
chính:
+ Tiêu chảy viêm nhiễm: Khi bệnh nhân bị sốt, phân có máu, thường là tiêu chảy nhiễm
trùng
+ Tiêu chảy không viêm nhiễm: Khi bệnh nhân không bị sốt và phân không có máu
• Tiêu chảy cấp nguy hiểm: triệu chứng như tiêu chảy cấp thông thường, nhưng nguyên
nhân do vi khuẩn tả gây nên.
* Tiêu chảy mạn tính là tiêu chảy kéo dài trên 2 tuần, 1 tháng, có khi hơn nữa, có ngày tiêu
chảy ít, có ngày tiêu chảy nhiều, có ngày tưởng như khỏ
i bệnh, nhưng sau đó lại tái phát ngay.
Dựa theo nguyên nhân gây bệnh, tiêu chảy mạn tính được chia làm 2 nhóm:
• Nhóm 1: Không có tổn thương tại ruột, hay gặp là hội chứng ruột kích thích.
• Nhóm 2: Có tổn thương tại ruột thực sự như viêm loét đại tràng do amip và kí sinh trùng,
viêm loét đại tràng chảy máu
3. Nguy hiểm của tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như:
• Mất nước.
• Rối loạn điện giải.
• Tụt cân.
• Suy dinh dưỡng.
• Thậm chí tử vong.
Tiêu chảy chính là một phản ứng của cơ thể để thải các vi rút, vi khuẩn, các chất độc ra ngoài. Tuy
nhiên, phản ứng đó nhiều khi gây tai hại, đó là khi tiêu chảy thải ra khỏi cơ thể quá nhiều nước
mà không được bù vào. Khi đó, c
ơ thể sẽ lâm vào tình trạng gọi là “mất nước”. Tai hại nữa là nước
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
9
được cơ thể thải ra lại mang theo cả một số chất rất cần thiết cho sự sống (chất “điện giải”). Khi
thời.
• Trẻ có thể đi ngoài 10 - 15 lần/ngày, phân lỏng, nhiều nước, mùi chua, nhiều khi có nhầy,
máu.
• Nôn liên tục hoặc vài lần trong ngày, thường nôn sau khi ăn.
• Trẻ từ chối ăn các thức ăn thông thường và uống nhiều nước, đái ít.
• Có thể có các biểu hiện của viêm đường hô hấp trên như ho, chảy mũi, khám thấy họng
viêm cấp, phát ban.
5. Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy
Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy có rất nhiều, nhưng Hiệp hội Tiêu hóa Thế giới phân chia ra 4
loại nguyên nhân chính gây tiêu chảy, đó là:
• Do vi khuẩn.
• Do vi rút.
• Do kí sinh trùng.
• Do một số độc tố khác .
Nhưng ở trẻ em, nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy chủ yếu là do rotavirus chiếm tới hơn 60%.
Bệnh tiêu chảy còn có thể do vi trùng hay vi rút gây ra từ những ổ viêm nhiễm ở họng, ở tai xuống
gây bệnh ở ruột.
Ngoài ra, trẻ em bị tiêu chảy còn do những nguyên nhân sau:
• Cho trẻ
ăn dặm quá sớm (trước 6 tháng).
• Pha sữa đặc quá hoặc loãng quá.
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
10
• Cho trẻ ăn quá sớm những thức ăn khó tiêu như: thịt, rau, trứng, hoặc cho ăn với liều lượng
nhiều quá; ăn nhiều bột quá.
• Thực phẩm chưa được nấu chín hoặc đã bị ôi, thiu.
• Đồ dùng pha sữa và đồ đựng thức ăn cho trẻ không được tiệt trùng sạch sẽ.
• Không bảo đảm vệ sinh khi chế biến thức ăn, bảo quản thức ăn, khi cho tr
ẻ ăn (ruồi, muỗi
đậu vào).
Theo dõi sát tình trạng mất nước của trẻ, nếu không đỡ mà nặng lên thì phải đưa ngay trẻ
đến
trung tâm y tế.
Khi nào cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế: Nếu điều trị tại nhà 2 ngày không đỡ hoặc thấy trẻ có một
trong các dấu hiệu nguy hiểm sau thì cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế:
• Bỏ ăn, bỏ bú.
• Nôn nhiều.
• Khát nước.
• Ỉa phân nước nhiều lần.
• Sốt cao.
• Có máu trong phân.
• Có dấu hiệu mất nước vừa (độ B) và mấ
t nước nặng (độ C).
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
11
Điều trị tại trung tâm y tế:
• Nếu mất nước vừa: Tiếp tục cho trẻ uống nước, điện giải dựa theo cân nặng của trẻ. Có
thể cho trẻ uống bằng cốc, từng thìa, nếu trẻ nôn thì chờ 10 phút sau lại cho uống tiếp.
• Nếu mất nước nặng, có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng, cần bù nhanh chóng lượng dịch
đã mất bằng đường uống,
ống thông dạ dày hoặc qua đường tĩnh mạch bằng các dung dịch
đẳng trương.
7. Pha dung dịch ORESOL và các loại dịch dùng trong điều trị tiêu chảy
Pha dung dịch ORESOL
• Gói ORESOL thường có sẵn ở các hiệu thuốc, trạm y tế.
• Đổ bột trong gói ORESOL vào một bình hay ấm tích sạch. Đổ một lít nước sạch, tốt nhất là
nước đun sôi để nguội và ngoáy kĩ cho đến khi bột hòa tan hoàn toàn. Đậy bình lại và cho
trẻ uống trong vòng 24 giờ.
Lưu ý:
• Dung dịch ORESOL đã pha chỉ để được một ngày (24 giờ), còn thừa phải bỏ đi, không dùng
8. Nuôi dưỡng trẻ khi bị tiêu chảy
Thông thường khi bị tiêu chảy, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng bởi vì trẻ thường kém ăn, hay nôn trớ, và
các bậc cha mẹ lại cho trẻ ăn ít, ăn những chất ít giá trị dinh dưỡng. Bên cạnh đó, sự hấp thu các
chất dinh dưỡng giảm 30% nhất là lipid, protein do tổn thương các liên bào hấp thu của niêm mạc
ruột, các men disaccharidase, đặc biệt là lactase giảm, nồng độ muối mật trong lòng ruột cũng
giảm ảnh hưởng đến hấp thu mỡ. Để hồi phục tổn thương liên bào ruột và bù lại protein mất qua
đường tiêu hóa thì phải tăng nhu cầu dinh dưỡng, nhưng lượng thức ăn đưa vào lại giảm khiến
trẻ dễ sụt cân. Nếu tiêu chảy xảy ra thường xuyên trẻ dễ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.
Nuôi dưỡng có tác dụng thúc đẩy hồi phục sớm tổn thương niêm mạc ruột, chức năng tụy và các
men disaccharidase
ở vi nhung mao ruột nhằm rút ngắn thời gian tiêu chảy, giảm nguy cơ tái diễn
các đợt tiêu chảy và phòng chống thiếu hụt dinh dưỡng.
Nuôi dưỡng trong khi tiêu chảy
Mặc dầu trong thời gian bị tiêu chảy, quá trình hấp thu thức ăn
có giảm hơn bình thường nhưng vẫn hấp thu qua ruột 60%. Do
vậy trong suốt quá trình tiêu chảy, cần cho trẻ ăn đủ khẩu phần
thì tốc độ tăng trưởng đạt gần như
bình thường. Nếu ăn không
đủ khẩu phần, trẻ sẽ sụt cân hoặc không tăng cân.
Tùy theo lứa tuổi và chế độ ăn của trẻ trước khi bị tiêu chảy để
có chế độ ăn thích hợp.
• Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú, thậm chí
bú nhiều lần hơn bình thường. Sữa mẹ vẫn dung nạp tốt.
Những trẻ tiếp tụ
c bú mẹ khi bị tiêu chảy thường có lượng
phân bài tiết ít hơn và tiêu chảy cũng khỏi nhanh hơn so
với những trẻ không được bú mẹ.
• Những trẻ nuôi bằng sữa bò thì vẫn tiếp tục cho ăn và
trong hai ngày đầu tiêu chảy thì nên pha loãng sữa rồi tăng
đậm độ như bình thường. Nếu có biểu hiện mất nước, thì trong quá trình bù nước 4 - 6 giờ
là nước dừa hay nước cháo. Trong trường hợp trẻ ăn gì cũng nôn và nhiệt độ cơ thể tăng
cao thì cần phải đến ngay bác sĩ.
• Có thể cho trẻ ăn những thức ăn mềm và dễ tiêu hóa như súp củ quả, khoai tây ninh, súp
nước gà, cháo loãng xay mịn.
• Nên tránh cho trẻ ăn hoa quả vì nó sẽ làm tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa. Trừ táo tây và
chuối chín là những hoa quả chứa rất nhiều kali sẽ giúp cơ thể trẻ
chống lại bệnh tiêu chảy.
Có thể nấu cháo táo cho trẻ ăn để cơ thể dễ hấp thụ hơn.
• Nên chia nhỏ bữa ăn và cho trẻ ăn làm nhiều lần thay vì một lần. Đừng ép trẻ phải ăn, hãy
cho trẻ lựa chọn thức ăn và như vậy có thể trẻ sẽ ăn nhiều hơn .
• Đường ngọt thường làm cho tình trạng tiêu chảy của trẻ n
ặng thêm. Vì vậy hãy tránh các
hoa quả ngọt và đồ uống chứa đường. Tránh cho trẻ ăn các thực phẩm có thể làm bệnh
tiêu chảy thêm nặng như các loại rau sống, các loại đồ ăn ngọt.
• Nên tránh cho trẻ ăn các thực phẩm nhiều gia vị và dầu mỡ hay các thực phẩm quá nóng,
quá lạnh như kem, các món nướng
9. Các biện pháp phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em
• Nuôi con bằng sữa mẹ.
• Cho trẻ ăn bổ sung đúng và hợp lý.
• Đảm bảo vệ sinh khi chế biến, bảo quản, dùng nguồn nước sạch, thực phẩm sạch và tươi
không bị nhiễm khuẩn hoặc hóa chất bảo vệ thực vật.
• Rửa tay bằng xà phòng: sau khi đi ngoài, sau khi thay tã lót cho trẻ, trước khi chế biến thức
ăn, cho trẻ ăn, chăm sóc trẻ.
• Sử dụng hố xí hợ
p vệ sinh, xử lý an toàn phân trẻ nhỏ bị tiêu chảy.
• Tiêm phòng sởi: tiêm vắc xin sởi có thể phòng ngừa được 25% tử vong liên quan đến tiêu
chảy trẻ dưới 5 tuổi.
• Không cho trẻ uống kháng sinh bừa bãi. Khi trẻ bị bệnh cần đưa trẻ tới cơ sở y tế khám và
thực hiện theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế.
II. THỰC TRẠNG PHÒNG CHỐNG TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM
E.Coli là vi khuẩn và độc tố được tìm thấy thường xuyên ở trẻ bú bình.
• Tại Bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2 TP. Hồ Chí Minh, số trẻ nhập viện bệnh tiêu chảy
luôn chiếm khoảng 1/3 số giường bệnh nội trú. Bệnh thường khởi phát đỉnh vào tháng 3,
9, 10 hằng năm.
Theo số liệu thống kê của Phòng Kế ho
ạch tổng hợp Bệnh viện Nhi Đồng 2, số trường hợp tiêu
chảy cấp đến khám tại Khoa Khám bệnh trong tháng 3 - 2008 là 4.406 trường hợp, tăng 32% so
với tháng 1 - 2008 và hơn 12% so với tháng 2 - 2008. Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết, Trưởng Khoa
Tiêu hóa Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết số trẻ mắc bệnh tiêu chảy cấp phải nhập viện đã tăng
khoảng 15%. Trong tình hình thời tiết nắng nóng như hiện nay dự đoán số trẻ mắc bệnh tiêu chảy
cấp sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới. Bác sĩ Ngọc Tuyết giải thích, thời tiết chuyển sang
nắng nóng là một yếu tố thuận lợi cho vi trùng, virus phát triển. Chưa kể, thời tiết nắng nóng còn
làm thức ăn dễ ôi thiu nếu không được bảo quản tốt. Vì vậy, đây cũng được coi là mùa của bệnh
tiêu chảy. Trong những ngày hè sắp tới, số trẻ mắc bệnh tiêu chảy cấp sẽ tăng cao hơn nữa vì học
sinh được nghỉ học ở nhà, nhà trường không quản lý trong khi bố mẹ vẫn đi làm nên có nhiều cơ
hội ăn uống ở ngoài đường, dễ bị ngộ độc thức ăn.
Trẻ bị mắc bệnh tiêu chảy cấp thường gặp nhiều ở trẻ dưới 2 tuổi. Tuy nhiên, vào những ngày
nắng nóng, số trẻ ở lứa tuổi học đường bị tiêu chảy cấp lại tăng cao.
Ở nước ta, tình trạng trẻ em bị tiêu chảy nhiều là do các nguyên nhân sau:
• Nhiều bậc cha mẹ còn nhận thức chưa đầy đủ về mức độ nguy hiểm của bệnh tiêu chảy,
nên chưa biết cách phòng tránh bệnh tiêu chảy:
+ Thiếu hiểu biết về: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống, vệ sinh ă
n uống, vệ sinh
an toàn thực phẩm, sử dụng nguồn nước sạch
+ Không thường xuyên cho con đi tiêm chủng, đặc biệt là tiêm phòng sởi.
+
• Nhiều tập quán ăn uống, chăm sóc của người lớn là nguyên nhân gây nên tình trạng tiêu
chảy cấp ở trẻ em. Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy cấp là:
+ Nuôi con chưa khoa học: cho con ăn dặm quá sớm.
+ Cho trẻ bú bình: bình sữa rất dễ bị ô nhiễm bởi các vi khuẩ
• Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các bậc cha mẹ về mức độ nguy hiểm của bệnh tiêu
chảy để biết cách phòng tránh bệ
nh tiêu chảy. Cụ thể:
+ Hướng dẫn các bậc cha mẹ biết cách vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống, vệ sinh
ăn uống, vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng nguồn nước sạch
+ Tuyên truyền cho các bậc cha mẹ đưa con đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch.
• Tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho các bậc cha mẹ cách nuôi con khoa học.
• Hướng dẫn cho các bậc cha mẹ tránh được một s
ố sai lầm trong điều trị tiêu chảy cho trẻ:
+ Phải bổ sung đủ nước và chất điện giải cho trẻ đúng nồng độ quy định.
+ Không cho trẻ dùng thuốc chống nôn, thuốc cầm tiêu chảy.
+ Tuyệt đối không dùng thuốc khánh sinh khi chưa có hướng dẫn của thầy thuốc.
+ Không kiêng khem, cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng.
+
III. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG
CHỐNG TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM
Đảng, Nhà nước và Chính phủ rất quan tâm tới việc phòng chống bệnh tiêu chảy, bảo vệ sức khỏe cho
nhân dân nói chung và cho trẻ em nói riêng, đã ban hành Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm, về
sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Chính phủ đã có nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của
Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm, về sản xuất, kinh doanh thực phẩm và trách nhiệm quản lí của
nhà nước, của các Bộ, ngành, UBND các cấp về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa, khắc phục ngộ
độc thực phẩm lây truyền qua thực phẩm, về kiểm tra, thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Để phòng chống tiêu chảy ở trẻ em, Chính phủ đã phê duyệt và triển khai Chương trình phòng
chống bệnh tiêu chảy quốc gia và chương trình tiêm chủng mở rộng cho tất cả trẻ em để phòng
6 bệnh nguy hiểm đó là S
ởi, Lao, Bại liệt, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván. Chương trình phòng chống
bệnh tiêu chảy quốc gia đã được tổ chức chặt chẽ và đạt được hiệu quả cao như giảm tỷ lệ nhập
viện do phòng mất nước và bù nước sớm tại nhà bằng phương pháp bù dịch, giảm tỷ lệ tử vong
Hiện nay, Bộ Y tế cũng đang nghiên cứu để có thể đưa Vaccine phòng chống tiêu ch
ảy do Ro-
nên kiêng cữ hoặc thay đổi chế độ ă
n của trẻ, nên cho trẻ bú nhiều hơn hoặc ăn nhiều bữa
hơn.
Để phòng ngừa bệnh tiêu chảy, cần:
• Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
• Hạn chế cho trẻ bú bằng bình. Nên cho trẻ ăn bằng ly, chén, thìa để dễ vệ sinh, nếu trẻ bú
bình cần vệ sinh bình thật kĩ.
• Vệ sinh an toàn thực phẩm.
• Vệ sinh ăn uống.
• Vệ sinh cá nhân.
• Vệ sinh môi trường sống.
• Sử
dụng nguồn nước sạch, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.
• Tiêm phòng sởi cho trẻ.
• Giữ cho trẻ không viêm họng, viêm tai.
• Không cho trẻ uống kháng sinh bừa bãi. Khi trẻ bị bệnh cần đưa trẻ tới cơ sở y tế khám và
thực hiện theo đúng hướng dẫn của cán Bộ Y tế.
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
17
Đây là một vấn đề rất quan trọng để đề phòng cho trẻ bị sút cân không bị suy dinh dưỡng.
1. Các loại thực phẩm nên dùng khi trẻ bị tiêu chảy
• Gạo (bột gạo), khoai tây.
• Thịt gà nạc, thịt lợn nạc, sữa đậu nành.
• Dầu ăn.
• Cà rốt, hồng xiêm, chuối.
2. Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi đang bú mẹ: Vẫn tiếp tục cho trẻ bú bình thường và tăng
số lần cho bú
3. Trẻ trên 6 tháng tuổi
Ngoài sữa mẹ cần cho trẻ ăn thêm nhiều lần và từng ít một, các thức ăn giàu chất dinh dưỡng
như thịt, trứng, cá sữa và cần cho thêm một ít dầu, mỡ để tăng thêm năng lượng của khẩu
- 180ml
Bú mẹ hoặc ăn sữa bò pha
loãng so với bình thường
(pha với nước cháo) 150 -
200ml
9h Bột thịt gà nạc + gà cốt
- Bột gạo: 2 thìa cà phê
- Thịt gà nạc: 20g
- Cà rốt nghiền:
2 thìa cà phê
- Dầu ăn 1/2 thìa (2,5 ml)
- Chuối nghiền 1/2 quả
Bột thịt gà nạc + gà cốt
- Bột gạo: 2 thìa cà phê
- Thịt gà nạc: 20g
- Cà rốt nghiền: 2 thìa cà phê
- Dầu ăn 1/2 thìa (2,5 ml)
- Chuối nghiền 1/2 quả
Bột thịt gà + cà rốt
- Bột gạo 3 thìa
- Thịt gà nạc 30g
- Cà rốt nghiền 2 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
12h Giống bữa 6h Giống bữa 6h Giống bữa 6h
15h Bột thịt lợn nạc + cà rốt
- Bột gạo: 2 thìa
- Thịt lợn thăn 20g
- Cà rốt nghiền 2 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
- Táo nghiền 1/2 quả
• Từ ngày thứ 5 nếu trẻ bớt ỉa chảy quay dần về ch
ế độ ăn bình thường.
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
19
Thực đơn cho đối với trẻ từ 7 - 12 tháng:
Giờ Ngày thứ 1 Ngày thứ 2 Ngày thứ 3+4
6h Bú mẹ* Bú mẹ * Bú mẹ *
9h Bột thịt gà + cà rốt
- Bột gạo: 3 thìa
- Thịt gà: 20g
- Cà rốt nghiền: 3 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
- Hồng xiêm nghiền 1/2 quả
Bột thịt gà + cà rốt
- Bột gạo: 3 thìa
- Thịt gà: 25g
- Cà rốt nghiền: 3 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
- Táo nghiền 1/2 quả
Bột thịt gà + cà rốt
- Bột gạo: 4 thìa
- Thịt gà: 30g
- Cà rốt nghiền: 3 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
- Giá đỗ 20g (xay nhỏ lọc lấy
150ml nước nấu bột)
- Hồng xiêm nghiền 1/2 quả
12h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
14h Bột thịt lợn + cà rốt
- Bột gạo: 3 thìa
- Táo nghiền 1/2 quả
Bột thịt gà + cà rốt
- Bột gạo: 3 thìa
- Thịt gà: 30g
- Cà rốt nghiền: 3 thìa
- Dầu ăn 1/2 thìa
- Giá đỗ 20g (xay nhỏ lọc lấy
150 ml nước nấu bột)
- Hồng xiêm nghiền 1/2 quả
Từ 21h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
Ghi chú:
• Nếu mẹ không có sữa hoặc ít sữa thay các bữa bú mẹ bằng sữa bột công thức pha với nước
cháo + cà rốt nghiền mỗi bữa từ 100ml - 150ml, trẻ nôn hoặc ăn ít cho tăng số bữa.
• Không có sữa bò hoặc sữa bột cho trẻ ăn sữa đậu nành 10% (100g đậu tương/1 lít sữa).
• Từ ngày thứ năm trở đi trẻ bớt ỉa chảy quay dần sang chế độ ă
n bình thường.
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
20
Thực đơn cho đối với trẻ trên 1 tuổi
Giờ Ngày thứ 1 Ngày thứ 2
6h Bú mẹ hoặc ăn sữa bò pha loãng với
nước cháo + cà rốt 200ml hoặc sữa đậu
nành 200ml
Bú mẹ hoặc sữa bò pha loãng với nước cháo +
cà rốt 200ml hoặc sữa đậu nành 200ml
9h Cháo thịt gà + cà rốt
- Gạo 30g (1 vốc tay)
- Thịt gà 30g, cà rốt 50g
- Dầu ăn 1 thìa (5g)
- Giá đỗ 20g
15h Sữa bò hoặc sữa đậu nành 200ml
Táo nghiền 1 quả
Sữa bò hoặc sữa đậu nành 200ml
Chuối tiêu 1 quả
17h Cháo thịt nạc + cà rốt
- Gạo 30g
- Thịt nạc 30g
- Cà rốt 30g
- Dầu ăn 5g
- Giá đỗ 20g
Cháo thịt gà + cà rốt
- Gạo 30g (1 vốc tay)
- Thịt gà 30g,
- Cà rốt 50g
- Dầu ăn 1 thìa (5g)
- Giá đỗ 20g giã hoặ
c xay lọc lấy nước nấu cháo
20h Bú mẹ hoặc ăn sữa bò pha loãng với
nước cháo + cà rốt 200ml hoặc sữa đậu
nành 200ml
Bú mẹ hoặc ăn sữa bò pha loãng với nước cháo
+ cà rốt 200ml hoặc sữa đậu nành 200ml
(Nguồn: Theo Hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng trẻ. PGS. TS. Nguyễn Thị Lâm - ThS. BS. Lê
Thị Hải.)
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
21
Triệu chứng chính là tiêu chảy và nôn, có khi kèm theo sốt. Trẻ đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu
vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Đối tượng dễ mắc bệnh
ợp mất nước vừa và nhẹ, ngoài việc cho uống dung dịch ORESOL đến
khi tiêu chảy ngừng hẳn, người mẹ cần tiếp tục cho trẻ bú và ăn bình thường. Cần chọn
thức ăn tươi, sạch, dễ tiêu để trẻ đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị
suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.
• Trong trường hợp mất nước nặng, phả
i đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cứu chữa kịp
thời và truyền dịch.
Để đề phòng bệnh tiêu chảy do virút rota, tốt nhất là nên nuôi con bằng sữa mẹ. Khi cho trẻ ăn
thêm những thực phẩm khác, nhất thiết phải bảo đảm các tiêu chuẩn như tươi, được bảo quản
và chế biến sạch.
(Nguồn: Báo Sức khỏe và Đời sống)
Phụ lục 2
BỆNH TIÊU CHẢY MÙA LẠNH Ở TRẺ NHỎ
Chăm sóc sức khỏe trẻ em vì tương lai của cộng đồng
22
Phụ lục 3
BỐN KHUYẾN CÁO CHO CỘNG ĐỒNG
PHÒNG CHỐNG BỆNH TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM
Bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm lây lan nhanh và dễ tử vong, nhưng có thể đề phòng được. Để
ngăn ngừa bệnh và phòng dịch bệnh lây lan, Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế đã đưa ra 4 khuyến
cáo như sau:
1. Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường:
• Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
• Mỗi gia đình có một nhà tiêu hợp vệ sinh, cấm đi tiêu bừa bãi. Đối với gia đình có bệnh
nhân tiêu chảy c
ấp cần rắc vôi bột hoặc Cloramin B sau mỗi lần đi tiêu.
• Phân và chất thải của người bệnh phải đổ vào nhà tiêu, cho vôi bột, Cloramin B vào sau
mỗi lần đi để sát khuẩn.
• Tránh tập trung ăn uống đông người như ma chay, cưới xin, cúng giỗ.
• Hạn chế người ra, vào vùng đang có dịch.
chăm sóc trẻ chưa biết cách phát hiện bệnh sớm để đưa trẻ đi khám và điều trị kịp thời, dẫn đến
trẻ có tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong cao. Trẻ có thể mắc bệnh nhiều lần trong năm, do đó gây
ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của trẻ, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự phát triển bền
vững của cộng đồng.
I. MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP
CẤP TÍNH Ở TRẺ EM
1. Khái niệm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em
NKHHCT ở trẻ em là một nhóm bệnh chỉ sự tổn thương cấp tính của đường hô hấp như mũi,
họng, thanh quản, khí quản, phế quản hoặc nhu mô phổi do vi khuẩn hoặc virut gây nên.
Theo vị trí giải phẫu của đường hô hấp, người ta phân làm 2 loại NKHHCT ở trẻ em:
• Nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp trên thường nhẹ hay gặp hơn bao gồm: viêm mũi
họng, VA, viêm amidan, viêm tai giữa, các trường hợp ho, c
ảm lạnh
• Nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp dưới ít gặp hơn nhưng thường nặng bao gồm các
trường hợp viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và viêm phổi.
2. Các dấu hiệu của trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Khi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ thường biểu hiện bằng nhiều dấu hiệu như ho, sốt, khó
thở, thở nhanh hoặc thở khác thường, đau họng, chẩy nước mũi, chảy mủ tai Trong đó ho là
triệu chứng hay gặp nhất. Dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và
một số dấu hiệu sau để phân làm ba loại mức độ NKHHCT ở trẻ:
• Nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ (không viêm phổi): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không
thở nhanh, không rút lõm lồng ngực.
• Nhiễm khuẩn hô hấp thể vừa (viêm phổi): Nếu trẻ có dấu hiệu thở nhanh nhưng không rút
lõm lồng ngực.
• Nhiễm khuẩn hô hấp thể nặng (viêm phổi nặng): Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu nguy
hiểm sau:
+ Trẻ bỏ bú hoặ
c không uống được: Đối với trẻ dưới 2 tháng khi bị bệnh mà không bú được
hoặc bỏ bú là biểu hiện rất nặng. Ở trẻ lớn nếu không thể uống được nước cũng rất nguy
hiểm. Cần phải phát hiện sớm để đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị kịp thời.
• Ngay từ khi mang thai, các bà mẹ không được chăm sóc đầy đủ, ăn uống kiêng khem nên
khi sinh con ra trẻ bị thiếu cân (dưới 2.500gram). Trẻ nhẹ cân sẽ thiếu sức đề kháng dễ
NKHHCT.
• Trẻ suy dinh dưỡng dễ mắc NKHHCT hơn trẻ bình thường, và khi NKHHCT thì thời gian điều
trị kéo dài hơn và có tiên lượng xấu hơn.
• Trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ sẽ thiếu sức
đề kháng dễ NKHHCT.
• Vào mùa hè thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện cho các loại virut, vi khuẩn phát triển. Cơ thể
non yếu của trẻ khiến cho các loại virut, vi khuẩn này rất dễ xâm nhập và gây bệnh.
• Tình trạng ô nhiễm môi trường do bụi, khói, do sự hình thành các khu công nghiệp, các làng
nghề ngày một gia tăng ảnh hưởng rất nhiều đến đường hô hấp của trẻ.
• Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà, khói thuốc lá sẽ làm
ảnh hưởng lớn đến hoạt động
bảo vệ của niêm mạc đường hô hấp. Vì vậy trẻ sẽ dễ bị mắc bệnh hơn.
• Thời tiết lạnh thay đổi đột ngột là điều kiện thuận lợi gây NKHHCT, đặc biệt là thời điểm
chuyển mùa.
• Nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh.
• Đời sống kinh tế gia đình thấp, trẻ b
ị thiếu vitamin A.
• Mùa hè nóng nực, cơ thể trẻ ra nhiều mồ hôi. Nếu không được lau khô kịp thời, trẻ rất dễ
bị cảm lạnh.
• Trời nóng nực, mồ hôi đang ra nhiều mà trẻ bị tắm ngay cũng làm cho trẻ dễ bị ốm.
• Nhiều gia đình sử dụng máy điều hòa nhiệt độ. Đây là một nguy cơ nguy hiểm nếu không
biết sử dụng phù hợp v
ới sức khỏe của trẻ. Trẻ đang ở trong phòng điều hòa bỗng đột ngột
đưa ra ngoài làm cơ thể trẻ không thích ứng kịp.
• Một nguyên nhân làm trẻ bị bệnh nặng phải nhập viện là do các bậc cha mẹ không hiểu biết
về kiến thức chăm sóc trẻ khi bị bệnh. Triệu chứng ban đầu của NKHHCT là ho và sổ mũi.
Có nhiều các bậc cha mẹ tự mua thuốc c
ầm ho cho trẻ uống khiến trẻ bị ứ đờm và các độc
ủa một trẻ bị viêm phổi.
Nếu không đếm được nhịp thở của trẻ hoặc không thể phân
biệt được trẻ có thở nhanh hơn ngày thường hay không thì có
thể vén áo trẻ lên và quan sát lồng ngực. Nếu thấy trẻ thở khác
thường hoặc nghe thấy trẻ thở phát ra một tiếng bất thường
khác thì cũng có thể trẻ bị viêm phổi.
Rút lõm lồng ngực
Vén áo trẻ lên và nhìn vào phần ranh giới gi
ữa ngực và bụng trẻ
thấy lõm vào khi trẻ hít thở vào thì đó chính là dấu hiệu rút lõm
lồng ngực. Dấu hiệu này được quan sát dễ dàng và chính xác
nếu bế trẻ nằm ngang trên lòng hoặc đặt trẻ nằm ngang trên
giường. Hiện tượng này phải thấy thường xuyên ở bất kì nhịp
thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên tĩnh hoặc ngủ mới có giá trị,
còn nếu chỉ thấy khi trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu vào
thì không được coi là rút lõm lồng ngực. Trẻ có rút lõm lồng ngực chứng tỏ trẻ đã bị viêm phổi
nặng. Các trẻ này cần phải được điều trị tại bệnh viện.
Khi trẻ có ho, sốt cần phải theo dõi xem trẻ có thở nhanh hoặc có bất kỳ biểu hiện thở khác
thường (khó thở hơn bình thường hoặc co rút lõm lồng ngực …). Đây là việc làm đầu tiên và quan
trọng nhất để phát hiện sớm trẻ có bị viêm phổi hay không.
Chú ý: Khi trẻ có ho, sốt mà lại thấy trẻ thở khác thường thì phải mang đến cơ sở y tế ngay.
6. Cách xử trí và chăm sóc trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Khi thấy trẻ có những dấu hiệu của NKHHCT, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và tư
vấn chăm sóc đúng. Đặc biệt nếu thấy trẻ có một trong số những dấu hiệu của bệnh nặng hoặc
rất nặng thì nhất thiết phải đưa trẻ tới ngay các trung tâm hoặc cơ sở y tế gần nhất để được c
ứu
chữa kịp thời.
Nếu sau khi khám, y/bác sĩ quyết định cho trẻ về chăm sóc tại nhà thì các bậc cha mẹ phải biết
cách chăm sóc trẻ tại nhà.