BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
...................................
TÀO THỊ HỒNG VÂN
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ MẪU GIÁO
TRONG TRƯỜNG MẦM NON
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Mã số: 62.72.73.15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
2. Thư viện của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Tào Thị Hồng Vân (2007), “Bàn về cách đánh giá chất lượng chăm
sóc sức khoẻ cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non. Quan niệm và
nội dung”, Tạp chí giáo dục, số 8, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo xuất bản.
2. Tào Thị Hồng Vân (2008), “Thực trạng việc đảm bảo môi trường
chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn,
đáp ứng yêu c
ầu đổi mới”. Tạp chí y học thực hành, số 8 , Bộ Y Tế xuất
Bản. 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của luận án
Trong thực tế, ngành mầm non hiện nay đã thu hút 61% trẻ độ tuổi mẫu giáo
vào trường. Trẻ được chăm sóc sức khoẻ trong trường mầm non chiếm tỷ lệ khá cao.
Công tác chăm sóc sức khoẻ trong trường mầm non, mặc dầu đã được quan
tâm nhưng việc thực hiện chăm sóc sức khoẻ của trẻ vẫn còn nhiều khó khă
, 2% trường mầm non có cán bộ y tế
chuyên trách. Số trường đưa hoạt động y tế học đường vào công tác thi đua, khen
thưởng chưa cao (45%). 80% trường chưa có kế hoạch chi tiêu cho y tế trường
học. Cấu trúc nhóm lớp chủ yếu là bán kiên cố ( 60%), vẫn còn 8% trường mầm
non phải học nhờ nhà kho, trường tiểu học. Công trình phụ chưa bố trí liên hoàn
giữa các nhóm lớp. Phương tiên dạy học cho giáo dục sức khoẻ
chỉ đáp ứng 50%
so với yêu cầu. Trẻ chưa được rèn luyện nhiều về kỹ năng sống, chưa tạo được
thói quen tốt để tự mình biết bảo vệ sức khoẻ. Kiến thức, thực hành của giáo viên
mầm non, cha mẹ trẻ đa số vẫn còn ở mức trung bình (75%), mức tốt (2%).
2
2. Để khắc phục tình trạng trên, luận án đã đề xuất và triển khai thực nghiệm
các biện pháp chính có tính khả thi cao gồm: (1) Nâng cao vai trò và trách nhiệm
của giáo viên về theo dõi tình trạng thể lực sức khoẻ của trẻ để phát hiện sớm trẻ
mắc bệnh và đề phòng trẻ suy dinh dưỡng.(2) Phối hợp các biện pháp giáo dục sức
khoẻ theo hướng tích hợp các chủ đề, đáp ứng yêu cầu đổi mới. (3) Nâng cao ki
ến
thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khoẻ cho trẻ của cán bộ, giáo viên và cha
mẹ. (4) Nâng cao năng lực quản lý chăm sóc sức khoẻ của cán bộ kiêm nhiệm về y
tế học đường. Kết quả thử nghiệm các biện pháp đã tạo nên chuyển biến rõ rệt
đến tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng, kiến thức và thực hành về giáo dục sức
khoẻ cho trẻ 3-5 tu
ổi cũng như kiến thức, thực hành của giáo viên mầm non
và cha mẹ ở nhóm can thiệp. Kiến thức trẻ 3-<4 tuổi, 4-<5 tuổi tăng lên ở các
nội dung: từ 54%- 70% (3-<4 tuổi), từ 8%-88% (4-<5 tuổi). Kỹ năng thực hành
của trẻ 3-<4 tuổi và 4-<5 tuổi: trẻ xếp loại tốt tăng 80% ( 3-<4 tuổi); tăng 98%
(trẻ 4-<5 tuổi). Tình trạng sức khoẻ : số trẻ bị viêm đườ
ng hô hấp giảm 16% (3-<4
tuổi) và 12% ( 4-<5 tuổi); số trẻ bị bệnh răng giảm 6% ở cả hai độ tuổi; số trẻ
nước ta cũng thua kém nhiều nước.
3
Về sức khoẻ tâm thần
Trẻ em Việt Nam gia tăng rõ rệt về chiều cao, cân nặng, tuổi dậy thì còng
đến sớm hơn trẻ cùng lứa tuổi ở thập kỷ trước.
Trong xã hội hiện đại, trẻ em đã tăng trưởng cả về tâm lý và sinh lý. Tuổi
trưởng thành về sinh lý và sự phong phú về phương diện tâm lý có xu hướng sớm
lên trong khi sự trưởng thành về mặt xã hội (thời
điểm trẻ em đủ tư cách làm một
thành viên lao động trong xã hội) có chiều hướng kéo dài. Tri thức của trẻ em ở đô
thị được nâng cao nhiều so với trẻ em ở nông thôn.Tri thức và sự phát triển trí tuệ
của trẻ em tốt hơn hẳn 20 năm trước .
Về sức khoẻ xã hội
Còn thiếu những nghiên cứu có tính hệ thống để làm rõ khái niệm sức khoẻ
xã hội vµ đ
ánh giá thực trạng sức khoẻ xã hội của trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên,
qua ý kiến của một số nhà nghiên cứu, có thể đưa ra nhận định sơ bộ là trẻ em Việt
Nam còn chưa được quan tâm rèn luyện đầy đủ về sức khoẻ xã hội, do đó khả
năng hoà nhập cộng đồng, tính tự chủ, lòng tự tin và khả năng tập hợp, chỉ huy
cộng đồng còn hạn chế.
Về tình hình bệnh tật và tử vong
Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, bệnh tật của trẻ em nước ta vẫn
mang đặc điểm bệnh tật trẻ em các nước đang phát triển, đặc điểm chủ yếu của mô
hình bệnh tật là các bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng vẫn chiếm một tỷ lệ
đáng kể. Trẻ dưới 5 tuổi bệnh mắ
c chủ yếu vẫn là suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn
hô hấp cấp và tiêu chảy cấp. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do 6 bệnh lây: lao, uốn
ván, ho gà, thương hàn, bại liệt, sởi, giảm rõ rệt. Béo phì, tai nạn, rối loạn tâm
thần, ung thư là những biến đổi đáng chú ý trong bệnh tật của trẻ.
ưa thật đảm bảo về chất
lượng, thiếu trang thiết bị và nơi vui chơi giải trí cho trẻ
Sức khoẻ trẻ trong trường mầm non
Tình trạng dinh dưỡng chung
Bảng 1.5: Cân nặng / tuổi
Thành phố (%) Nông thôn (%) Miền núi (%)
Tuổi/kênh
A B C A B C A B C
3-4 tuổi 98,26 1,74 0 93,00 6,10 0,90 96,80 3,20 0
4-5 tuổi 91,00 7,40 1,60 84,20 14,20 1,60 75,00 24,20 0,80
5-6 tuổi 97,50 2,50 0 86,00 11,60 2,40 87,20 12,00 0,80
Chung 95,58 3,88 0,54 87,73 10,63 1,63 86,33 13,13 0,54
( Nguồn: Báo cáo đề tài Trung Tâm Nghiên cứu Giáo dục Mầm Non. 2005),
Tỷ lệ SDD của trẻ ở khu vực nông thôn và miền núi cao hơn hẳn trẻ ở khu
vực thành phố, mức độ SDD chủ yếu là ở mức độ nhẹ (Kênh B - SDD độ I). Trẻ
mẫu giáo nhỡ có tỷ lệ SDD cao hơn trẻ MG bé và MG lớn .
Nhìn chung tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ ở nông thôn và miền núi cao hơn
hẳn ở thành phố, dù mức độ
suy dinh dưỡng chủ yếu ở độ nhẹ (Kênh B - SDD độ
I). Trẻ miền núi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất.
Tình trạng bênh tật của trẻ: trẻ hay mắc bệnh viêm đường hô hấp, bệnh về răng,
giun sán.
1.2. YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHĂM SÓC SỨC KHOẺ TRẺ EM
1.2.1. Khái niệm về sức khoẻ, phân loại sức khoẻ
1.2.1.1. Định nghĩa sức khoẻ
c khỏe
theo WHO (2006): nằm trong vùng từ -2SD đến +2SD (phần biểu đồ in đậm màu
xanh) là trẻ phát triển bình thường. Nếu nằm ngoài vùng qui định có thể trẻ ở tình
trạng suy dinh dưỡng hoặc trẻ béo phì.
1.2.2. Khái niệm về giáo dục sức khỏe và quá trình giáo dục sức khỏe
Giáo dục sức khoẻ là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến
tình cảm và lý trí của con người, nhằm làm thay đổi hành vi sức khoẻ có hạ
i thành
hành vi có lợi cho sức khoẻ cá nhân và tập thể trong cộng đồng
Cơ sở của quá trình giáo dục sức khoẻ
Khi thực hiện giáo dục hành vi sức khoẻ cần luu ý đến 3 lĩnh vực luôn có sự
tác động hai chiều, liên quan khăng khít với nhau trong mục tiêu giáo dục, luôn hỗ
trợ và thúc đẩy bổ sung cho nhau.
Kiến thức
Kỹ năng Thái độ
Nội dung giáo dục sức khoẻ trẻ mẫu giáo
V
ệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, vệ sinh ăn uống, bảo vệ và giữ gìn sức
khỏe, an toàn. ;
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khoẻ trẻ em
1.2.3.1. Di truyền
Sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến sự phát triển cơ thể của trẻ (phát triển thể
chất) là hết sức rõ ràng . Kích thước cơ thể trẻ và tỷ lệ phát triển liên quan đế
n
kích thước và tỷ lệ tương ứng của cha mẹ trẻ. Các gen tác động đến sự phát triển
bằng cách kiểm soát việc sản xuất các hormone của cơ thể đặc biệt là hormone
được giải phóng bởi tuyến yên nằm ở phía dưới não. Đó là hormon tăng trưởng
cần thiết cho sự phát triển cơ thể ngay từ khi mới sinh.
1.2.3.2. Môi trường tự nhiên
Khi đứa trẻ lọt lòng mẹ, rời kh
- Nghiên cứu can thiệp tại 2 trường mầm non huyện Hoài Đức- Hà tây cũ.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành từ 7/2007-9/2007
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Điều tra cắt ngang để xác định thực trạng chăm sóc sức khỏe cho tr
ẻ
mẫu giáo ở các trường mầm non nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng.
Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp tập trung vào vấn đề nâng cao chất lượng chăm
sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn.
2.2.2. Khung lý thuyết và các biến số về hệ thống CSSK cho trẻ MG trong trường
MN
2.2.2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu
2.2.2.2. Nhóm biến số: Dựa trên khung lý thuyết trên, các nhóm biến bao gồm:
Nhóm biến phụ thuộc:
Là thể lực, sức khoẻ của trẻ mẫu giáo (cân nặng, chiều
cao, tỷ lệ bệnh tât) và kiến thức, thực hành về tự chăm sóc sức khoẻ của trẻ.
Nhóm biến độc lập: Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại trường MN bao gồm:
Hoạt động chăm sóc sức khỏe:
Theo dõi sức khoẻ trẻ bằng biểu đồ, tiêm chủng, sơ cứu ban
đầu những
trường hợp cấp cứu. Khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh. Chăm sóc và theo dõi
một số bệnh thường gặp. Phòng chống các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng,
béo phì., tai nạn trong trường mầm non, vệ sinh môi trường. Tạo được một ngân
qũi thích hợp cho CSSK. Có kế hoạch cụ thể và kiểm tra đánh giá thường xuyên
hoạt động y tế. Đưa công tác y tế học đường vào thi đua, khen thưởng. Làm t
ốt
công tác tham mưu, phối hợp với các ngành y tế địa phương, gia đình. Thực hiện
hoạt động giáo dục sức khoẻ cho trẻ mẫu giáo.
Kết quả tính toán tìm ra n=322. để tránh sự thiếu hụt đối tượng, cỡ mẫu
được lấy thêm và làm tròn 500 cha mẹ trẻ và 500 giáo viên ở 50 trường thuộc 5
tỉnh
2.2.3.2. Phương pháp can thiệp
Bước 1. Chọn địa điểm can thiệp/đối chứng, cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Cỡ mẫu chọn cho nghiên cứu can thiệp
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu can thiệp thí đi
ểm, chúng tôi chọn cỡ mẫu
theo chủ đích để can thiệp. Chọn 2 trường MN nông thôn ( Đức Giang- Sơn Đồng
thuộc huyện Hoài Đức ( Hà tây cũ) trong số các trường đã điều tra thực trạng ban
đầu để can thiệp thí điểm và làm đối chứng. Thời gian tiến hành ( 9/2006-9/2007).
Cỡ mẫu cho giáo viên và cán bộ: Lấy toàn bộ giáo viên và cán bộ nhân
viên trong 2 trường mầm non đã chọn. Tổng số mẫu là 60 giáo viên.
Cỡ
mẫu đối trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi:
Mỗi trường chúng tôi chọn 2 nhóm ở mỗi một độ tuổi ( 3-<4 tuổi; 4<-5
tuổi). Như vậy tổng số trẻ 3-<4 tuổi ở hai trường là 100 trẻ (can thiệp là 50, đối
chứng 50 trẻ). Độ tuổi 4-<5 tuổi ở hai trường 100 trẻ ( can thiệp 50; đối chứng 50)
Cỡ mẫu cho cha mẹ :
Lấy toàn bộ phụ huynh của các trẻ làm thực nghiệm và làm đố
i chứng ở các
lớp mẫu giáo. Tương ứng với 200 trẻ đã chọn ở trên thì số cha mẹ là 200 cha mẹ.
Bước 2. Đánh giá trước can thiệp: Tiến hành mô tả cắt ngang về KAP chăm
sóc sức khoẻ của giáo viên, cha mẹ trẻ, trẻ mẫu giáo độ tuổi 3-<5tuổi. Kết hợp
nghiên cứu định tính và định lượng. Khám sức khoẻ cho trẻ và quan sát hoạt động
của trẻ trong ngày 2 trường
đối chứng và thực nghiệm ( Đức Giang- Sơn Đồng) .