đánh giá năng lực sử dụng phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non trưng nhị phúc yên - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐỖ THỊ THỜI

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG PHƯƠNG
TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM
NON TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐỖ THỊ THỜI

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG
PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Thể chất
Người hướng dẫn:
ThS. NGUYỄN XUÂN ĐOÀN


Giáo dục mầm non

GDTC:

Giáo dục thể chất

GDQD:

Giáo dục quốc

GVMN:

Giáo viên mầm non

KNVĐCB:

Kỹ năng vận động cơ bản

SV:

Sinh viên

TCVĐ:

Trò chơi vận động

TDCB:

Thể dục cơ bản


cuả GDTC cho trẻ mẫu giáo
Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ tổ chức cho

26

Bảng 3.4

trẻ vận động
Thực trạng vai trò của yếu tố thiên nhiên đối với sự

27

Bảng 3.5

phát triển của trẻ
Tiêu chí đánh giá năng lực truyền đạt kiến thức của

28

Bảng 3.6

giáo viên
Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý về năng lực

28

Bảng 3.7

truyền đạt của giáo viên.
Tiêu chí đánh giá năng lực truyền đạt kiến thức của

Kế hoạch hoạt động GDTC của trẻ 5 - 6 tuổi trường

35

mầm non Trưng Nhị

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
1.3. Vị trí, vai trò của giáo viên mầm non trong xã hội hiện đại........................................................7


1.4. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu..............................................................8

CHƯƠNG 2....................................................................................................20
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.....................20
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................................................20
2.2. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................21
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu......................................................................21
2.2.2. Phương pháp quan sát Sư phạm...........................................................................................21
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm.........................................................................................21
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm............................................................................................21
2.3.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................................................22
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................................................23
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu..............................................................................................................23

CHƯƠNG 3....................................................................................................23
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................................23
3.1. Thực trạng công tác tổ chức giáo dục thể chất và năng lực sử dụng phương tiện giáo dục thể
chất cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Trưng Nhị.............................................................23
3.1.1. Thực trạng về cơ sở vật chất cuả Nhà trường.......................................................................23

xã hội. Do đó họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và giáo dục và
cả nội dung của giáo dục. [4]
Các nhà lí luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã
hội, là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng
thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng
định rằng chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm
phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thì
lúc đó mới có GDTC thực sự. [4]


2
Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật khách quan của sự phát triển xã
hội. C.Mác nhấn mạnh: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
xuất với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức
sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát
triển toàn diện” C.Mác coi hoạt động GDTC là một bộ phận hữu cơ của giáo
dục, là điều kiện tất yếu của sự phát triển toàn diện của một con người. GDTC
là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực của con người. GDTC cho trẻ
mầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những
thói quen cần thiết cho cuộc sống. [II.1]
Ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi, học mà
chơi chơi mà học. Ngoài ra, các hình thức vận động trong các hoạt động tích
hợp khác như: lao động, nặn hình, vẽ, vận động theo nhạc,... đều có ảnh
hưởng lớn đến quá trình phát triển thể chất của trẻ.
Nhưng để tác động tới việc nâng cao thể chất cho trẻ thì việc sử dụng
đa dạng các phương tiện GDTC là yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho trẻ
hoàn thiện về năng lực vận động của mình, giải quyết những nhiệm vụ GDTC
cho trẻ. Mỗi yếu tố của phương tiện GDTC có tác động khác nhau tới quá
trình phát triển thể chất cuả trẻ như:
- Những yếu tố vệ sinh bao gồm: chế độ làm việc - chế độ sinh hoạt,

động GDTC cho trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục mầm non
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
của mỗi quốc gia là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy ngay
từ khi giành được chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu” [I.1]. Vì vậy Giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ quan
trọng của cách mạng Việt Nam.
C.Mac nói: “giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người cho
nên giáo dục được coi là phương thức sản xuất lao động và xã hội. Sức lao
động đó có thể là những thành phần như kỹ sư, công nhân, hay bán thành
phẩm như học sinh” [II.1] Vì vậy có thể nói: Đầu tư cho giáo dục chính là đầu
tư cho phát triển, là thứ đầu tư khôn ngoan và có lợi nhất. Đây là chiến lược
quan trọng của các nước phát triển và đang phát triển hiện nay.
Khi bàn về việc xây dựng con người mới XHCN Việt Nam, Đảng Cộng
Sản Việt Nam cũng đã khẳng định: Con người mới vừa là sản phẩm, vừa là
chủ thể có ý thức của xã hội. Con người mới Việt Nam là kết quả tổng hợp
của ba cuộc cách mạng, đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất của CNXH có ý
nghĩa to lớn và quyết định đối với sự hình thành con người mới. Song con
người mới là chủ thể có ý thức của xã hội. Phải bằng kết quả tổng kết của ba
cuộc cách mạng, phải thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động và
đấu tranh thì những thành viên của xã hội mới cải tạo được mình và dần dần
trở thành con người mới. Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặt
từng bước việc học tập và giáo dục với thực tiễn cải tạo và xây dựng xã hội và
đấu tranh cách mạng. Vì vậy GDMN là điều quan trọng trong hệ thống giáo

ra phương pháp tốt nhất mà dẫn dắt các cháu theo mục tiêu giáo dục đào tạo


6
con người Việt Nam, cũng như theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc,
lần thứ X của Đảng. Đặc biệt là đội ngũ GVMN sẽ phấn đấu làm theo lời dạy
của Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Làm mẫu giáo là thay mẹ dạy trẻ. Muốn
làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ,
chịu khó nuôi dậy được các cháu” [10].
Nhiệm vụ các năm tới vì sự nghiệp giáo dục mầm non còn rất nặng nề
nhưng rất vẻ vang, chúng ta tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
trong điều kiện mới, trong vận hội mới; phát huy truyền thống vẻ vang 60
năm qua, toàn thể chúng ta vững tin hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng
và Nhà nước giao cho nhằm phát triển giáo dục mầm non lên một tầm cao
mới, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng và Bác Hồ, xứng đáng với sự tin
tưởng của nhân dân và các thế hệ đi trước.
Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng năm 1979 đã ra quyết định
số 14 - Nghị quyết trung ương về cải cách giáo dục với tư tưởng: Giáo dục được
xem là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng, thực thi nhiệm vụ
chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành, học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. [6].
Cơ sở pháp lý để GDMN phát triển trong thời gian và sắp tới là: Tư
tưởng phát triển GDMN được ghi trong các văn kiện Đại hội Đảng, Hiến
pháp của Nhà nước, các luật Giáo dục, Luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ
em; Chỉ thị 18/2002/CT - TTG của Thủ Tướng Chính phủ về một số biện
pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống GDQD, rồi Quyết
định số 161/2002/QĐ - TTG về một số chính sách phát triển GDMN, đặc biệt
gần đây nhất Chính phủ đã dành hẳn một phiên họp chính phủ để bàn về
chiến lược phát triển GDMN và đến ngày 23/6/2006 Thủ tướng Chính Phủ đã
ký Quyết định số 149/2006/QĐ - TTG phê duyệt đề án phát triển GDMN giai

tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả
giáo dục. Xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm


8
chất, năng lực của người GVMN. Trước hết đó phải là một nhà giáo dục, một
công dân gương mẫu, có tư cách đạo đức, có lối sống lành mạnh, hăng hái
tham gia vào sự phát triển cộng đồng. GVMN không chỉ đóng vai trò nuôi và
dạy trẻ mà còn là người tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ, giúp trẻ nhận
thức về thế giới quan, bước đầu cung cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năng
sống đầu đời, dạy cho trẻ những kỹ năng vận động cơ bản.
Căn cứ theo mục tiêu giáo dục của bậc học mầm non cho thấy, công
việc của GVMN không đơn thuần là “dạy” mà còn phải “nuôi” vì vậy đây là
hoạt động đặc thù. GVMN có lúc là cô giáo, có lúc là mẹ hiền và có những
lúc là người bạn của trẻ. [15]
1.4. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.4.1. Khái niệm đánh giá
Đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về vấn đề
được đánh giá. Muốn đánh giá kết quả học tập của trẻ thì việc đầu tiên là phải
kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của trẻ, sau đó tiến hành đo
lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra quyết định.
1.4.2. Khái niệm năng lực, năng lực Sư phạm
1.4.2.1. Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các
đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của
một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nơi
đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự
nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. [16].
Tâm lí học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung

* Yếu tố vệ sinh
Chế độ vệ sinh trong tập luyện cho trẻ mầm non: Vệ sinh dinh dưỡng,
vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh thân thể, vệ sinh trang phục.


10
- Vệ sinh dinh dưỡng: Vệ sinh dinh dưỡng tốt sẽ tác động trực tiếp đến
sự sống còn, sức khỏe và sự khôn lớn của trẻ, cần đảm bảo chế độ dinh
dưỡng, vệ sinh môi trường, vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh thân thể.
- Vệ sinh thân thể: Làm cho cơ thể hoạt động tốt, tăng cường quá trình
trao đổi chất, phát triển khả năng làm việc trí óc và hoạt động chân tay, đề
phòng bệnh tật.
- Vệ sinh môi trường: Những nơi có thể tiến hành cho trẻ tập luyện là
trong phòng nhóm, ngoài sân chơi và phòng thể dục. Nơi tập phải được tiến
hành cho trẻ tập luyện. Phòng tập phải được vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng
khí, trong quá trình tập cửa sổ phải được mở. Sân tập phải sạch sẽ, bằng
phẳng, thoáng mát, tránh chỗ nắng gắt và gió lùa.
- Vệ sinh trang phục: Trang phục bảo vệ cơ thể khỏi những tác động
xấu của môi trường và những tác động tổn thương cơ học, giữ cho cơ thể sạch
sẽ. Vì liên quan đến hoạt động vận động, cho nên trang phục của trẻ phải gọn
gàng, thuận tiện không gây cản trở cho cử động, phù hợp với khí hậu của từng
vùng. Vì vậy, trang phục phải đảm bảo tính chất thoáng khí, giữ nhiệt, thấm
nước và các tính chất vật lí khác.
- Vệ sinh thiết bị, dụng cụ thể dục: Phải bảo quản và duy trì bảo dưỡng
thường xuyên để thiết bị, dụng cụ luôn giữ được màu giúp trẻ dễ xác định và
phát triển khả năng phân biệt màu sắc.
* Yếu tố thiên nhiên
- Ánh sáng: Mặt trời là nguồn sáng giúp cho việc rèn luyện sức khỏe
làm giảm một số bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp.
- Không khí: Không khí cung cấp ôxy cho trẻ. Không khí trong sạch

người, trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương với sự điều khiển của hệ
thần kinh.


12
Đặc trưng của trẻ sinh ra đến 6 tuổi là sự vận động tích cực của chúng.
Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thế
giới xung quanh. Trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú,
tiếp xúc của trẻ với thế giới càng rộng hơn.
1.5.1. Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi
Vận động đi, chạy và phát triển các cảm giác thăng bằng: Vận động đi
của trẻ ở lứa tuổi này đã ổn định, biết phối hợp tay chân nhịp nhàng. Trẻ đã có
phản xạ nhanh đối với hiệu lệnh xuất phát của vận động chạy. Bước chân
chạy gần giống với người lớn, chạy đúng hướng. Nhịp điệu các bước chân ổn
định, kết hợp tay chân tốt. Từ lứa tuổi này đã thấy sự khác nhau giữa trẻ trai
và trẻ gái trong thành tích chạy.
Vận động nhảy: Trẻ 5 tuổi đã biết kết hợp vận động khi nhảy, tay đã
góp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy. Khi hạ xuống mặt đất nhẹ nhàng hơn và
biết co đầu gối để giảm xóc, nhưng vẫn đặt cả bàn chân xuống sàn, chưa biết
chuyển từ mũi bàn chân đến gót chân.
Vận động ném, chuyền, bắt: Trẻ đã xác định được hướng ném đúng,
biết dùng động tác “ ngắm” để ném trúng đích, nhưng việc xác định khoảng
cách vẫn còn yếu, nên bóng thường rơi xung quanh đích cách từ 15 - 20cm.
Khi ném xa trẻ đã biết phối hợp lực đẩy của chân và tay, hướng ném thẳng.
Vận động bò, trườn, trèo: Trẻ đã xác định được hướng vận động chính
xác, phối hợp được chân tay, thân mình linh hoạt, tránh trướng ngại vật khéo
léo. Tốc độ trườn và trèo nhanh hơn.
1.5.2. Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Vận động đi: Ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và thân.
Bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi chân chạm đất.

kế hoạch và nội dung kiến thức dạy trẻ. Muốn trẻ tiếp thu tốt nội dung kiến
thức, giáo viên phải biết soạn bài giảng, lựa chọn phương tiện, phương pháp
dạy học khoa học. Do vậy, nội dung GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non là căn


14
cứ để xây dựng chương trình chăm sóc trẻ trong các nhà trường, đồng thời là
căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ GVMN.
1.6.2.1. Đội hình đội ngũ đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Cho trẻ đi theo vòng tròn, đi theo đường dích dắc.
Xếp hàng dọc theo tổ, dóng hàng thẳng.
Xếp hàng ngang theo tổ, dóng hàng.
Chuyển 1 hàng dọc thành 2 hàng dọc.
Chuyển vòng tròn thành 2 vòng tròn.
1.6.2.2. Bài tập phát triển chung đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Dựa vào cấu trúc của cơ thể người ta chia chia bài tập phát triển chung
thành 3 nhóm:
- Nhóm bài tập động tác tay:
+ 2 tay đưa lên cao, ra phía trước, sang 2 bên (kết hợp với vẫy bàn tay,
quay cổ tay, kiễng chân).
+ Co, duỗi từng tay, kết hợp kiễng chân. 2 tay đánh xoay tròn trước
ngực, đưa lên cao
- Nhóm bài tập động tác lưng, bụng, lườn.
+ Người ngửa ra sau, 2 tay giơ lên cao, chân bước sang phải, sang trái.
+ Quay sang trái, sang phải kết hợp tay chống hông hoặc 2 tay dang
ngang, chân bước sang trái, sang phải.
+ Nghiêng người sang 2 bên, kết hợp tay chống hông, chân bước sang
phải, sang trái.
- Nhóm bài tập động tác chân
+ Chân: Đưa ra phía trước, sang ngang, phía sau. Nhảy lên, đưa 2 chân

- Các yếu tố thiên nhiên có lợi cho sức khỏe như: Tắm nắng, dạo chơi
nơi không khí thoáng mát... sẽ tốt cho sức khỏe của trẻ vì vậy ở trường mầm
non nên tổ chức thời gian hợp lí cho trẻ được tắm nắng và dạo chơi để trẻ phát
triển toàn diện.
Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lí.
- Tác dụng của việc tích cực vận động có tác dụng rất lớn đối với sự
phát triển hệ vận động của trẻ như: giúp cho việc cốt hóa xương, hình thành


16
các mấu của xương sống, phát triển vòm chân, củng cố khớp, dây chằng, tạo
khả năng phát triển đúng tỉ lệ giữa các bộ phận của cơ thể.
- Ở trẻ mầm non là độ tuổi phát triển mạnh nhất. Nên những biến dạng
ở cột sống và các bộ phận khác có thể xảy ra dễ dàng nếu như trẻ vận động tư
thế không đúng. Vì vậy giúp trẻ uốn nắn những sai lệch của tư thế bằng cách
dùng các bài tập vận động.
Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật
- Thường xuyên vận động sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đôi chất, tăng
cường năng lực co bóp, lưu thông máu, điều hòa thần kinh tim được cải thiện,
bộ máy hô hấp cũng được hoàn thiện.
1.7.2. Nhiệm vụ giáo dưỡng
Hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển tố
chất thể lực, thói quen vệ sinh và kiến thức sơ đẳng về GDTC
Những thói quen vận động được hình thành trước 7 tuổi là cơ sở cho
việc hoàn thiện khi bước sang tuổi học sinh và cho phép tiếp tục đạt thành
tích cao trong các môn thể thao. Một đứa trẻ tròn 6 tuổi, cần phải được hình
thành những kỹ năng vận động của thể dục cơ bản một cách tương đối thành
thạo, đó là bài tập đội hình, bài tập phát triển chung, bài tập vận động cơ bản
và làm quen với một số môn thể thao như đi xe đạp, bơi. Ngoài ra cần phát
triển cho trẻ các tố chất thể lực nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ,… từ những

GDTC với giáo dục trí tuệ
+ Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ
thống thần kinh trung ương điều khiển. Một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật
chất giúp con người phát triển trí óc của mình.


18
+ GDTC một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho các quá trình tâm lí như cảm giác, tri
giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt. Ngoài ra còn giúp trẻ thu nhận được những
kiến thức về sự vật, hiện tượng xung quanh như tư thế của động vật, côn
trùng, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội.
+ Đối với trẻ mầm non điều quan trọng là phải giáo dục trẻ những cảm
xúc tích cực, đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui chơi, phát triển khả năng
vượt qua những trạng thái tâm lí tiêu cực.
GDTC với giáo dục đạo đức
+ Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi nhỏ vì vậy mà khả năng kinh nghiệm
đạo đức của trẻ còn hạn chế và khả năng tự ý thức còn yếu, nên khả năng tự
đánh giá hành vi bản thân và các bạn cùng tuổi còn hạn chế rất nhiều.
+ Trong các tiết học thể dục, TCVĐ, thể dục sáng, được giáo viên nhận
xét. Chính điều này đã tạo nên cho trẻ những hiểu biết nhất định về đạo đức.
Mặt khác, do trẻ phải vận động trong tập thể, phải tuân theo những quy tắc
nhất định, biết điều khiển hành vi của mình trong bài tập. Vì vậy, đã giúp trẻ
phát triển một số thói quen, phẩm chất đạo đức như có thiện ý, hứng thú đối
với hoạt động tập thể, lòng mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, khiêm tốn, tính
thẳng thắn, trung thực, dũng cảm,….
GDTC với giáo dục thẩm mỹ
+ GDTC là tiền đề tạo điều kiện cho giáo dục thẩm mỹ. Trong quá trình
thực hiện các bài tập thì các động tác cần dược thực hiện một cách khéo léo,
nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con

Bảng 1.1: chế độ sinh hoạt của trẻ 5- 6 tuổi trong chương trình
chăm sóc - giáo dục trẻ của Bộ giáo dục và đào tạo
TT
1
2
3
4

Nội dung
Đón trẻ, chơi tự do, thể dục sáng, điểm danh.
Tiết học
Chơi, hoạt động ở các góc
Chơi ngoài trời

Thời gian (phút)
70- 80 phút
30- 40 phút
40- 50 phút
30- 40 phút


Trích đoạn Thực trạng năng lực giáo viên trong tổ chức dạy học môn GDTC Thực trạng công tác dạy học lĩnh vực phát triển thể chất cho trẻ tại trường mầm non Trưng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status