I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội hoá cá nhân là quá trình trong đó cá nhân với tư cách là một sinh vật
vốn có những đặc tính sinh học nhất định, tương tác với xã hội, thông qua sự giao
tiếp, học tập, hoạt động mà tập nhiễm những phẩm chất cần có để sống trong xã
hội. xã hội hoá cá nhân là quá trình hình thành nhân cách: chiếm lĩnh ngôn ngữ và
thế giới văn hoá, hình thành những tình cảm xã hội (tình cảm về phẩm giá, về
trách nhiệm ), lĩnh hội những chuẩn mực xã hội (về pháp quyền, về đạo đức ),
tiếp thu những quan niệm, niềm tin, định hướng giá trị, định hướng hành vi Xã
hội hoá cá nhân không phải chỉ là kết quả một chiều xã hội tác động đối với cá
nhân, mà còn là kết quả cá nhân tích cực tham gia đời sống xã hội. "Bản thân xã
hội sản xuất ra con người với tư cách là con người như thế nào thì con người cũng
sản xuất ra xã hội như thế" (Mac). Nội dung, cơ chế của quá trình XHHCN thay
đổi tuỳ theo cấu trúc kinh tế - xã hội của xã hội trong những thời đại lịch sử cụ thể.
Thực chất xã hội hoá là quá trình chủ thể hoá các tri thức của xã hội, là sự
tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và sự xét
đoán của mỗi cá nhân. Các cá nhân tiếp thu tri thức xã hội bằng cả hai con đường :
chính thức và không chính thức, tương ứng với các hình thức xã hội hoá và xã hội
hoá không chính thức. Xã hội hoá không chính thúc là kết quả tự nhiên của tương
tác xã hội giữa những nguời gần gũi nhất xung quanh như gia đình, nhóm bạn bè,
nhóm nghề nghiệp v.v…Ở đó, cá nhân học được nhiều điểu thông qua sự bắt
chước, quan sát và kinh nghiệm. Xá hội hoá chính thức là quá trình tiếp thu tri
thức, kinh nghiệm xã hội thông qua giáo dục. Hệ thống các trường phổ thông, cao
đẳng, đại học, các truờng dạy nghề …là những cơ quan xã hội hoá chính thức.
Giáo dục khác với các dạng xã hội hoá khác ở chỗ, đó là một sự tác động của chủ
thể giáo dục đến đối tưọng giáo dục một cách tỷ mỉ trong những tổ chức chính
thức, theo những chương trình giáo dục được tiêu chuẩn hoá nhằm truyên đạt các
tri thức và kinh nghiệm xã hội tức là tri thức hoá và nghề nghiệp hoá cho con
người. Xã hội càng phát triển, xã hội hoá thông qua giáo dục càng tăng lên.1
Đặc điểm của quá trình xã hội hoá là các cá nhân không phải lĩnh hội các
kinh nghiệm xã hội ngay một lúc mà dần dần. Cũng như vậy, các cá nhân không
phải tiếp xúc với xã hội rộng lớn nói chung, không phải tham gia vào tất cả các tỏ
những kiến thức đối với cuộc sống, giáo dục ở mức độ và phương pháp như thế
nào )
- Phân tích các yếu tố tác động đến việc giáo dục hình thành nhân cách của cha
mẹ cũng như hành vi tiếp nhận của trẻ
- Tìm hiểu về những khó khăn của cha và mẹ trong việc giáo dục hình thành nhân
cách con cái
- So sánh vai trò giữa cha và mẹ trong việc giáo dục con trẻ trong hình thành nhân
cách
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi, mẫu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của cha mẹ về việc giáo dục hình thành nhân cách trẻ em trong gia đình
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Cha mẹ có con trẻ
- Trẻ em trong gia đình
4.3. Phạm vi nghiên cứu : Khu vực Hà Nội và một số địa bàn lân cận
Thời gian khảo sát: từ tháng 10/2009-12/2010
Địa bàn khảo sát: Khu vực Hà Nội và một số địa bàn lân cận
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học
5.1. Phương pháp luận
Ở đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa
duy vật biện chứng làm phương pháp luận. Giáo dục nhân cách là một bộ phận của
xã hội hóa cá nhân, nó có liên quan mật thiết với các yếu tố khác . Chính vì vậy,
khi nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong vấn đề giáo dục hình thành nhân cách cho
con cái phải xem xét từng trường hợp, từng điều kiện kinh tế,văn hóa,chính trị, xã
hội của từng gia đình. Đồng thời, chúng ta cũng phải đặt việc giáo dục hình thành
nhân cách trong mối liên hệ với các nhân tố khác như nhà trường, các nhóm xã
hội, truyền thông đại chúng. Ngoài ra, chúng ta cũng phải xem xét vấn đề đó trong
một quá trình lich sử cụ thể để xem vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục hình
thành nhân cách cho con cái từ trước đến nay có sự chuyển động như thế nào.
6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
3
Lê Ngọc Hùng- Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB KHXH, 2008, trang 242
mối quan hệ quan trong nhận có thể thay đổi nhân cách cho con trẻ “ Dạy con từ
tuổi còn thơ ”
1.1.2. Lý thuyết vai trò của Ralph Linton
Theo Ralph Linton, vai trò là một quan điểm cơ bản trong lý thuyết xã hội
học nó đánh giá cao những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể và phân
tích thực hiện những mong đợi đó. Mỗi cá nhân có một loại vai trò được đem lại
từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự. Trong tiến trình cuộc đời
của mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác nhau lần lượt hoặc đồng thời
và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của cá nhân đó thực hiện từ khi sinh ra cho
đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của người đó. Ralph Linton nói chúng ta
giữ các địa vị nhưng chúng ta đóng các vai trò. Vai trò và địa vị không thể tách rời
nhau. Sự phân biệt chúng chỉ trong nhận thức khoa học. Không thể cso vai trò mà
không có địa vị hoặc ngược lại. Vai trò trở thành một tập hợp các quyền và nghĩa
vụ đã được thể hóa có nghĩa là với vị trí mà các cá nhân xã hội hay tổ chức nắm
giữ thì chủ thể xã hội đó cần thực hiện tốt những mong đợi, bổn phận và trách
nhiệm ở vị trí đó.4
Ở đề tài nghiên cứu này ta có thể thấy rằng địa vị của người cha, người mẹ
gắn với những vai trò nhất định, cía mà xã hội, con cái mong đợi. Đó chính là
trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục phảm chất đạo đức cho con cái trong đó chức
năng xã hội hóa giúp con cái mình hòa nhập với xã hội. Vai trò đó chỉ được thực
hiện khi họ tham gia tích cực vào việc giáo dục hình thành nhân cách con trẻ, lình
hội những kinh nghiệm của cuộc sống, biết ứng xử với những giao tiếp bình
thường “Tiên học lễ , hậu học văn “ , “ Kính già yêu trẻ “ . “ Kính già già để tuổi
cho”. Và làm thỏa mãn những mong muốn của xã hội, của con cái đối với trách
nhiệm, nghĩa vụ cụ thể đối với từng cha mẹ trong những hoàn cảnh cụ thể
2. KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:
2.1. Khái niệm “Gia đình”
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cho cả một đời người, là môi trường giáo
khác , nó dựa trên huyết thống , tình cảm thiêng liêng và tính cá biệt của đối tượng
giáo dục
2.4 . Trẻ em:
Theo công ước quốc tế, Trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ khi luật pháp
quốc gia công nhận tuổi vị thành viên sớm hơn.
Theo pháp luật Việt Nam thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
2.5 Giáo dục gia đình:
Giáo dục gia đình là sự tác động có hệ thống có mục đích của những
người lớn trong gia đình và toàn bộ nếp sống gia đình đến đứa trẻ . Có những đặc
điểm sau: Thứ nhất: Tình xúc cảm , tình cảm,…Thứ hai,: Tính đa dạng nhiều
chiều. Thứ ba: Giáo dục trong gia đình mang tính cá biệt. Thứ tư: Giáp dục gia
đình mang tính thực tiễn Trươc hết giáo dục gia đình gắn bó với những thang giá
trị tồn tại trong gia đình và những thực tế gia đình vì vậy so với những giáo dục
từ nhà trường, xã hội giáo dục gia đình mang tính linh hoạt hơn , thích ứng
nhanh với những biến đổi của xã hội và bản thân trẻ em . Mặt khác nó được thực
hiện thong qua hoạt đông trực tiếp của gia đình . vì vậy ở gia đình lý thuyết luôn
gắn với thực hành , những lời dạy bảo luôn đi lèm với thực hiện của người lớn với
những nhiệm vụ và hoạt động cụ thể 8
2.6 Giáo dục đạo đức cho trẻ:
Giáo dục đạo đức bao gồm những nội dung cơ bản sau: Giáo dục giá trị
đạo đức:Giá trị theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cái mà làm cho khách thể nào
đó có lơi ích , có nghĩa , đáng quý với chủ thể thừa nhận Lợi ích xã hội là tiêu
chuẩn khách quan trong giáo dục đạo đức , do đó khi nào những nguyên tắc chuẩn
mực đạo đức phù hợp với những lợi ích xã hội được sự ủng hộ thì mới có giá trị.
Giáo dục chuẩn mực đạo đức: Chuẩn mực đạo đức có thể hiểu là những quy
chuẩn xã hội đặt ra trong đáo dức xã hội của con người . Khi thực hiện hành vi
ứng xử , chủ thể đạo đức dưah vào những chuẩn mực hình thành trong bản thân
7
Lý thuyết xã hội học, Vũ Quang Hào, NXB KHXH, 2000, trang
8 Vai trò cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức con cái độ tuổi THCS Hà Nội hiện nay- NT Tố Quyên
Cha mẹ là những người luôn luôn công bằng , không xu nịnh hay thiên vị
ai cả, chính việc đó sẽ là nền tảng cho con cái biết học hỏi tính công bằng hơn ,
Anh em hòa thuận luôn luôn yêu thương và đùm bọc nhau trong lúc hoạn nạn khó
khăn
2.11 Giáo dục trung thực và giữ lời hứa
Trung thực là một phẩm chất tốt đẹp của con người , cha mẹ trung thực thành thật
, luôn dạy dỗ con cái điều hay lẽ phải. Anh em trung thực với nhau tạo nên không
khí hòa thuận gia đình vui vẻ và hạnh phúc. Giáo dục trung thực là giáo dục trẻ em
biết cư xử thành thật không dối trên lừa dưới cũng là hành vi chuẩn mực trong
nhân cách
2.12 Giáo dục hướng nghiệp:
Hướng nghiệp là một nội dung khá mói mẻ, lần đầu tiên trong lịch sử của
mình, gia đình phải đảm đương.
Chế độ XHCN thay đổi cơ cấu xã hội và quan hệ xã hội, tạo điều kiện để
các cá nhân, các thế hệ chuyển từ một địa vị, một nhóm xã hội này snag địa vị,
nhóm xã hội káhoặc. “ nối nghiệp cha mẹ không phải là con đường độc nhất nữa”.
Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn hiện tại, cả xã hội lẫn gia đình đều vấp
phải bao vấn đề phứuc tạp, càng khiến người ta chỉ cốt sao có công ăn việc làm, có
lưọi cho ban thân, chứ rất ít tính đến nhu cầu của xã hội .
Trong nghiên cứu của xã hội gia đình người ta quan tâm tới vấn đề “ trong
gia đình ai là người hướng nghiệp cho con cái?”
2.13 Giáo dục giới tính:
Việc xoá bỏ chế độ phong kiến và mô hình gia đình của nó cùng những
chuẩn mực đạo đức gia đình cũ, xã hội mới đặt ra một nhiệm vụ giáo dục mới mẻ,
rất quan trọng nhưng đầy khó khăn: xây dựng cho thế hệ trẻ thái dộ đúng đắn đối
với vấn đề giới tính, giáo dục giới tính là một bộ phận khăng khít của gíáo dục
nhân cách.
Ngày nay với đà công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự giao lưu rộng rãi các phương
tiện thông tin đại chúng: truyền hình, phim ảnh, sách báo đang hình thành một loại
nhà trường thứ hai có chiều hướng truyền tải nhiều tri thức một cách ngẫu nhiên tự
được các nhà nghiên cứu mệnh danh rất chính xác là “gia tốc”. Nếu không giáo
dục giới tính đúng đắn thì dễ dẫn dến tình trạng bột phát , quá khích hoặc khủng
hoảng.
Giáo dục giới tính còn nhằm hình thành cho thế hệ trẻ những kiến thức
khoa học tối thiểu về giải phẫu cơ thể, cơ ché thụ thai và những biệ pháp tránh
thai, góp phần thực hiện chính sách dân số của Đảng và Nhà nước.
Giáo dục giới tính có tác dụng tốt đẹp : củng cố và ổn định gia đình
Giáo dục tính dục sẽ mang lại cho mọi người khả năng tạo ra những quyết
định liên quan đến quan hệ tình dục dựa trên sự đồng ý một cáh tự do đầy đủ và
hiểu biết.
Giáo dục cuộc sống tính dục và xã hội được coi là nền tảng trong nỗ lựuc
để có một kiến thức và sự hiểu biết sâu rộng cũng như mang lại quan niệm đúng
đắn đúng đắn, tôn trọng và tích cực đối voí quan hệ tình dục và sức khoẻ.
Nghiên cứu việc giao hợp nam nữ sẽ giúp cho nam nữ quyết định khi nào
nên bắt đầu đời sống tình dục với các hậu quả, có thể đã biết trước , giúp họ ngăn
ngừa được nguy cơ có thai ngoài ý muốn và các bênh lây lan qua đường sinh dục.
CHƯƠNG 2
I. VAI TRÒ GIA ĐÌNH TRONG HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CÁ NHÂN
Gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn xã
hội hoá ban đầu Nhưng chức năng xã hội hoá của gia đình không chỉ dừng lại ở
giai đoạn xã hội hoá ban đầu ( cung cáp các kinh nghiệm xã hội , nuôi nấng , chăm
sóc rèn luyện các thói quen, các kỹ năng , từ khi con nhỏ) mà còn diến ra suốt cả
cuộc đời con người với tư cách là một quá trình liên tục. Gia đình tham gia vào tất
cả các giai đoạn xã hội hoá trong chu trình sống của con người. ở giai đoạn nào vai
trò của gia đình cũng thể hiện rất rõ.8
+ Giai đoạn tuổi ấu thơ: gia đình là môi truờng xã hội hoá đầu tiên của
đứa trẻ. Chỉ sau khi sinh ra không lâu, trẻ sơ sinh đã hướng về thế giới xung quanh
và bắt đầu quá trình học hỏi. Các giác quan tai, mắt, mồm , da của trẻ hoạt động
thể hiện ở các cảm giác nghe, nhìn, ăn, uống, cảm giác nóng, lạnh… Sự chăm sóc
của các thành viên trong gia đình (mẹ, bố) như cho ăn, tắm rửa, thay tã lót, quần
nguời trứoc khi bước vào hôn nhân thường đã quan sát hôn nhân của cha mẹ trong
một thời gian dài. Các vai trò hôn nhân đuợc học hỏi chủ yếu từ các vai trò thể
hiện trong hôn nhân của cha mẹ. Mô hình hôn nhân của cha mẹ có vai trò cực kỳ
quan trọng đối với việc xã hội hoá vai trò hôn nhần và làm cha mẹ của con cái
+ Giai đoạn bước sang tuổi già: nguời trẻ tuổi có thể hình dung được cuộc
sống của mình khi bước sang tuổi già sẽ diễn ra như thế nào chính là nhờ quan sát
cuộc sống của những ngưòi già trong gia đình ( ông bà, cha mẹ). Do đó, ngưòi ta
biết cách chuẩn bị cho tuổi già. Nói cách khác là người ta học đựoc cách để trở
thành ngưòi già. kể cả việc phải học cách sống phụ thuộc vào nguời khác sau
những năm dài họ từng có cuộc sống độc lập. Gia đình giúp mỗi ngưòi đưong đầu
với tuổi già và cái chết
+ Giai đoạn cuối cùng của chu trình sống là chuẩn bị đón cái chết
Nhiều khi, do không nhận thức được quá trình xã hội hoá diễn ra suốt cả cuộc đời
của một con người và không thấy được vai trò của gia đình trong xã hội hoá các cá
nhân ở lứa tuổi trưởng thành mà người ta chỉ chú ý xã hội hoá đối với trẻ em và
giới hạn chức năng xã hội hoá của gia đình chỉ đối với lứa tuổi trước tuổi trưởng
thành, thậm chí trước tuổi học đường. Do đó người ta đi tới một cực đoan là khi
đứa trẻ đến tuổi học đường chuyển giao toàn bộ trách nhiệ giáo dục, Đào tạo cho
nhà trường và các tổ chức xã hội. Giáo dục xã hội là sự tiếp tục chứ không phải àa
sự thay thế cho giáo dục gia đình.
86.2
74.6
69.3
78.6
82.1
0
20
40
60
80
Đức tính
II/ QUAN NIỆM CỦA GIA ĐÌNH VỀ SỰ GIÁO DỤC HÌNH THÀNH
NHÂN CÁCH TRẺ EM
Kết quả nghiên cứu của một số đề tài nghiên cứu khoa học gấn đây về gia
đình cho biết phần lớn các gia đình đều đặt kỳ vọng vào sự trưởng thành sau này
của con cái. Ví dụ két quả nghiên cứu khoa học của đề tài “ Vị trí, vai trò của gia
đình trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” do UBBVCSTEVN tiến
hành trong hai năm 1999-2000 cho biết, có đến 86,2% các bậc cha mẹ mong muốn
con cái có những đức tính giản dị, tiết kiệm, 74,6% mong muốn con cái hiếu thảo,
69,3% mong muốn con cái khiêm tốn, 78,6% mong muốn con cái biết tôn trọng
mọi người, 82,1% mong muốn con cái biết quan tâm đến ngưòi khác. Thậm chí
trong các gia đình có trẻ em hư thì gia đình cũng đạt rất nhiều kỳ vọng tốt đẹp ở
con cái.
Hình 1: Mong muốn của cha mẹ với con cái
Kết quả khảo sát 211 gia đình có trẻ em hư độ tuổi từ 11 đến < 16 tuổi tại
09 phường thuộc 06 quận nội thành Hà Nội vào thời điểm tháng 3-4 nắm 2001
thấy nổi bật có một số kỳ vọng của gia đình đối với con cái với tỷ lệ rất cao như:
học hành có bằng cấp cao, sống trung thực, lương thiện; trở thành người hữu ích
cho xã hội; hiếu thảo; có nghề nghiêp làm ăn. Trong khi đó có một số kỳ vọng
như: sự giàu có; quyền hành; sự nổi tiếng, những đièu mà ở một số người đã trở
thành khát vọng cháy bỏng, lại có tỷ lệ rất thấp.
Đa số các gia đình quan niệm giáo dục con cái hướng về truyền thống và cội
nguồn, hướng về các giá trị xã hội tốt đẹp dã được xã hội thừa nhận và hướng tới
sự tiến bộ của xã hội.
Từ việc tìm hiểu kỳ vòng đối với con cái cũng như quan niệm trong giáo dục con
cái của các nhóm gia đình đã cho thấy::
Thứ nhất, Đa số các gia đình đều đặt kỳ vọng vào con cái ở những mong
muốn rất nhân văn, nhân đạo: mong muốn con cái sau này học hành đến nơi đến
chốn, có bằng cấp cáo, có nghề nghiệp, sống lương thiện. có ích cho xã hội và hiếu
thảo với bố mẹ ông bà. Điều đó phản ánh đúng bản chất tâm lý con người Việt
khen thưởng ,
38.8
rèn luyện thói
quen , 38
trách phạt , 22.5
giảng giải nêu gương khen thưởng rèn luyện thói quen trách phạt
Hình 2: Hình thức giáo dục của cha mẹ
Số liệu phân tích cho thấy giảng giải (66.3%) nêu gương ( 47%) là 2
phương pháo được các cha mẹ cho là sử dụng nhiều nhất . Bên cạnh đó . 38.8 %
cha mẹ thường xuyên khen thưởng , 38 % dung phương pháp rèn luyện thói quen
22.5 % cha mẹ dung phương pháp trách phạt . Như vậy cha mẹ dung phương pháp
giảng giải là nhiều nhất
Khảo sát điều tra hơn 1000 gia đình có con đang học tiểu học và trung cơ
sở đã có 7,2% cha mẹ quan niệm việc giáo dục con cái là do nhà trường hoàn toàn
đảm nhiệm, gia đình chỉ chịu một phần nhỏ. Nhưng trên thực tế, đã có tới 25,5%
các bậc cha mẹ thừa nhận đã khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường1.
Thả nổi việc giáo dục con, đến khi con cái mắc khuyết điểm lại phạm vào tội che
dấu khuyết điểm của con. Khảo sát trên cũng cho thấy, khi nhà trường yêu cầu các
bậc cha mẹ đánh giá xếp loại 210 học sinh là con cái họ mà nhà trường đánh giá
hạnh kiểm chưa đạt yêu cầu, thì đã có tới 63,4% số học sinh thuộc danh sách trên
được bố mẹ các em nâng nên loại hạnh kiểm khá và tốt. Các bậc cha mẹ đã không
dám nói thật khuyết điểm của các em với nhà trường, sợ ảnh hưởng đến kết quả
học tập của con em mình!2. Bỏ mặc, khoán trắng cho nhà trường, đến khi con cái
mắc lỗi lầm thì bố mẹ lại rơi vào tâm trạng hẫng hụt, phàn nàn về sự bất lực của
mình đã không dạy bảo được con. Hậu quả tất yếu là nhiều bậc cha mẹ đã nổi cáu,
dẫn đến đánh đập trẻ, vi phạm quyền trẻ em. Nhiều bậc cha mẹ đã bộc lộ quan
điểm của mình, cho rằng không dùng roi vọt thì không giáo dục được trẻ. Phổ
biến, các bậc cha mẹ cũng thừa nhận là không hiểu được, không nắm được các
phương pháp giáo dục trẻ.
CHƯƠNG 3
nhiều nhất là mang tính chất “tư vấn”, khuyên bảo cha mẹ cách dạy dỗ con trẻ
(92,8%). Trực tiếp dạy dỗ các cháu cũng là cách rất hay được sử dụng (77%). Hai
cách thức được dùng nhiều nhất trên đây khẳng định vai trò truyền thống, quan
trọng và trực tiếp của ông bà trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
Phù hợp với cách thức chủ đạo của ông là “khuyên bảo”, “tư vấn” (chứ không đưa
ra quyết định giống như cha mẹ) nên dù có thể không đồng ý với cách dạy dỗ,
nhưng hình thức “không can thiệp” chiếm tỉ lệ đáng kể (20.4%). Nhưng điều đó
không có nghĩa là “không quan tâm”. Ít quan tâm, để tuỳ cha mẹ giáo dục các
cháu là cách được lựa chọn ít thường xuyên nhất (9.9%). Điều này khẳng định một
lần nữa, hầu hết những người được hỏi đều thống nhất về vai trò tích cực, không
thể thiếu của ông bà trong việc giáo dục con trẻ: “Khi ông bà còn sống thì ông bà
cũng hay bảo các cháu khi đi học về thì có việc gì giúp đỡ, đỡ đần bố mẹ. Ông bà
cũng luôn luôn khuyên bảo các cháu…” (Đ.T.M, nữ, tỉnh Thái Bình).
Khía cạnh mà ông bà quan tâm dạy dỗ các cháu nhiều hơn cả là cách ứng xử với
mọi người (91.6%), đứng thứ hai là chuyện học hành (80.3%) và vấn đề đáng
được quan tâm thứ ba là cách đi đứng, ăn mặc (65.3%). Điều này đã phản ánh
phần nào quan niệm truyền thống trong giáo dục con trẻ “tiên học lễ, hậu học
văn”. Hai trong số 3 lĩnh vực mà ông bà quan tâm liên quan đến dạy làm người,
còn lĩnh vực thứ ba liên quan đến học hành.
Hình 3:
So sánh giáo dục của ông bà với con cháu của thành thị và nông thôn
Khi được hỏi thái độ về việc giáo dục con cháu của ông bà, có 60% những
người được hỏi hoàn toàn đồng ý với cách dạy dỗ đó. Tỉ lệ này ở nông thôn lớn
gần gấp hai ở thành phố (41.1% so với 21.1%). Số người đồng ý một phần chiếm
một tỉ lệ khá lớn tới 38%. Điều này gián tiếp phản ánh sự khác biệt về cách thức
nuôi dạy con trẻ của 2 thế hệ giữa ông bà và cha mẹ như đã có dịp đề cập ở trên.
Dựa vào những kết quả sơ bộ vừa trình bày có thể hình dung ra một số yếu
tố tác động tới việc tham gia giáo dục con trẻ của ông bà ở Việt Nam nói chung.
Đó là xu thế gia đình hạt nhân ngày càng tăng, dù trong mẫu chọn của nghiên cứu
này con số đó mới là 57.8% với tỉ lệ ở thành phố cao hơn ở nông thôn. Có thể dự
các hoạt động nhân đạo (73.5 %). giáo dục yêu thương những người thân trong
gia đình ( 71% )
Hình 4: Giáo dục lòng yêu nước của cha mẹ
yêu thương
những người
xung quanh ,
78.5, 26%
Yêu thương
trường lớp , 78,
26%
dục tích cực tham
gia các hoạt động
nhân đạo, 73.5,
24%
giáo dục yêu
thương những
người thân trong
gia đình, 71, 24%
yêu thương những người
xung quanh
Yêu thương trường lớp
dục tích cực tham gia các
hoạt động nhân đạo
giáo dục yêu thương những
người thân trong gia đình
Yêu thương trường lớp , bạn bè thầy cô cũng là lòng yêu nước. Việc giáo dục cha
mẹ ở đấy cũng là cực kì quan trọng
Gia đình là môi trường quan trọng trong việc dạy các giá trị đạo đức truyền thống
cho các thế hệ, có ý nghĩa trong việc xây dựng cái gốc của nhân cách con người.
Vì thế các gia đình Việt Nam luôn coi trọng việc dạy đạo đức cho con em, coi đó
rằng cần truyền dạy phẩm chất này trong gia đình và 86,4% các gia đình thường
xuyên giáo dục con cháu phẩm chất này. Như vậy, trong điều kiện của nền kinh tế
thị trường, với việc trên 80% số hộ gia đình khẳng định đoàn kết là một yếu tố
quan trọng, cần phải được truyền dạy cho con cháu, đây là chỉ báo đáng mừng, cần
được phát huy hơn nữa.
Hình 6: Hình thức giáo dục gia đình
giáo dục qua
những câu
chuyện gian khổ,
87.2
qua hình thức nêu
gương, 81.3
qua giáo dục các
lễ giáo trong gia
đình, 73.3
giáo dục qua những câu
chuyện gian khổ
qua hình thức nêu gương
qua giáo dục các lễ giáo
trong gia đình
Hình thức giáo dục đạo đức cho cá nhân trong gia đình được thực hiện qua
các cách khác nhau: 87,2% giáo dục qua những câu chuyện gian khổ, 81,3% qua
hình thức nêu gương, 73,3% qua giáo dục các lễ giáo trong gia đình. Như vậy
những nội dung giáo dục thông qua câu chuyện sinh động về tấm gương cuộc đời
của chính ông bà, cha mẹ là chất liệu sống có tác động tích cực, trực tiếp tác động
tới nhận thức và tình cảm của các thành viên trong gia đình. Nhận thấy sự vượt
gian khổ của thế hệ đi trước, thế hệ nối tiếp dần hình thành và phát triển nhân cách
cá nhân của mình.
2.4 Giáo dục truyền thống gia đình, truyền thống dòng họ:
Theo nghiên cứu của TS – Nguyễn Thị Tố Quyên cho thấy:
Đã là cha mẹ ai cũng mong muốn con cái mình có một tương lai tốt đẹp,
sáng lạn. Tâm lý chung của cha mẹ là mong muốn con mình học giỏi, ngoan
ngoãn, lễ phép…Tuy nhiên, ngày nay, một số bậc cha mẹ vì quá kỳ vọng vào khả
năng của con mình mà có những cách thức dậy con không phù hợp gây ảnh hưởng
tiêu cực đến kết quả học tập của con trẻ. Họ không hiểu được rằng con mình chỉ là
những đứa trẻ. Mà đứa trẻ cần sự uốn ắn mềm dẻo chứ không phải sự áp đặt, bắt
con phải như thế này, thế kia, phải theo những “kỳ vọng hoang tưởng” của cha mẹ.
ở đây, nên chăng các bậc cha mẹ không chỉ là người hướng dẫn mà còn là người
thấu hiểu tâm lý và định hướng cho con trẻ học tập.
Trong nghiên cứu khảo sát 150 hộ gia đình thuộc phường Kim Liên – Hà Nội
gần đây của Viện xã hội học – Viện khoa học xã hội Việt Nam đã khái quát được
một số quan niệm và kỳ vọng của cha mẹ đối với việc học hành của con cái như
sau:
Hầu hết các bậc cha mẹ mong con cái sẽ học tốt để sau này có nghề nghiệp
ổn định. Tuy nhiên, phương pháp giáo dục con của các bậc cha mẹ hướng đến các
mục tiêu đó lại khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế, học vấn và nghề
nghiệp… của mỗi gia đình. Có tới 94,3 % (tỷ lệ cao nhất) số người được hỏi có kỳ
vọng con thứ nhất học hết đại học, cao đẳng. Tiếp đó là kỳ vọng con mình học hết
trung cấp (8%), trung học phổ thông (4,9%). Như vậy, có thể thấy, quan niệm
chung là học vấn cao sẽ dẫn tới vị thế xã hội cao. Nhiều bậc cha mẹ còn cho rằng
phấn đấu bằng học vấn là con đường tốt nhất cho con em họ. Điều này thật dễ hiểu
khi số lượng học sinh đăng ký dự thi các trường cao đẳng đại học ngày một tăng.
Trong những gia đình có học vấn khác nhau thì kỳ vọng đối với cấp học của
con cũng khác nhau. Bố mẹ có học vấn cao thì kỳ vọng con cái học cao đẳng, đại
học càng cao. Tuy nhiên, tỷ lệ người mẹ mong muốn con trai học cao nhiều hơn tỷ
lệ người mẹ mong muốn con gái học cao, trong khi người bố lại không có sự phân
biệt về giới tính của con trong vấn đề này.
Như vậy, có thể thấy xu hướng của các bậc cha mẹ hiện nay là muốn con cái
mình học hết cao đẳng, đại học để có nghề nghiệp ổn định sau này. Tuy nhiên, vấn
đề này cũng cần đưa ra bàn luận thêm nhiêu nhiều hơn nữa, bởi lẽ với thực trạng
trẻ , 38
khả năng bẩn sinh
của trẻ , 33.3
sự giàu có của
gia đình, 18.2
gia đình có người
học cao , 9.5
trường lớp có uy
tín , 3.8
sự quan tâm của cha mẹ
chiếm
sự chăm chỉ của trẻ
khả năng bẩn sinh của trẻ
sự giàu có của gia đình
gia đình có người học cao
trường lớp có uy tín
Hình 7: Yếu tố ảnh hưởng đến học tập trẻ
Như vậy, rõ ràng sự quan tâm của cha mẹ cả về vật chất, tinh thần và thời gian
dành cho việc học của con có tác động mạnh nhất đối với kết quả học tập của con.
Ngoài ra, yếu tố chủ quan của đứa trẻ cũng góp phần quan trọng vào quá trình học
tập của chúng.
Trình độ học vấn của cha mẹ cũng có tác động đến việc học của con trẻ. Khi phân
tích mối tương quan giữa trình độ học vấn của người bố và khả năng học tập của
con cái thì thấy rằng không có ông bố nào có trình độ học vấn phổ thông cơ sở lại
có con học tốt cả. Tỷ lệ này chỉ có ở các ông bố có học vấn ở phổ thông trung học
và tăng lên ở những ông bố có trình độ cao đẳng, đại học trở lên (tăng từ 65,8%
đến 70,5%).
Trong các chỉ báo đưa ra để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tới việc học tập
của trẻ có hai chỉ báo được các bậc cha mẹ chú ý nhiều đó là việc bố mẹ kiểm soát
chương trình truyền hình và kiểm tra việc học hành của con cái. Gần 90 % con cái
bán và các nghề khác): 13%, 30% và 32% theo tương ứng. Một điều đáng lưu ý là,
cũng với câu hỏi này thì số phụ nữ đã giảm thời gian làm hoặc từ chối việc làm
thêm chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nam giới (40% so với 23%).
Hình 8 :
Thời gian có thể cân nhắc giữa công việc và giáo dục con cái
Lao động trí óc,
30
Lao động chân
tay, 13
Buôn bán, 30
Nghề khác, 32
Lao động trí óc
Lao động chân tay
Buôn bán
Nghề khác
Với những kết luận này, phải chăng các bậc cha mẹ nên dành nhiều thời gian hơn
để kiểm soát các chương trình ti vi cũng như kiểm tra việc học tập, dành thời gian
nhiều hơn quan tâm đến các con mình để giúp chúng có kết quả học tập tốt hơn.
3. Mối liên hệ giữa cha mẹ với nhà trường
Sự liên hệ hai chiều giữa cha mẹ học sinh với nhà trường cũng là yếu tố có ảnh
hưởng lớn đến việc học tập của con cái. Cha mẹ quan tâm đến việc học của con để
có hướng điều chỉnh mỗi khi việc học của con “có vấn đề” thì kết quả học tập của
chúng sẽ tốt hơn nếu không có sự quan tâm đó. Vì vậy, cha mẹ nên chủ động tham
gia vào các hoạt động của nhà trường ở các mức độ thích hợp, mà quan trọng là
giữ mối liên lạc hai chiều giữa cha mẹ và giáo viên thông qua họp phụ huynh, trao
đổi cá nhân, sổ liên lạc, điện thoại… Qua những hoạt động đó, cha mẹ có thể biết
được hàng ngày con mình có đi học không, làm bài có đầy đủ không, biết rõ kết
quả học tập và phấn đấu của con. Mặt khác, cha mẹ cũng thông báo cho nhà
trường, giáo viên biết về tình hình phấn đấu, tu dưỡng, những đột biến đáng quan
tâm của con cái. Đóng góp với nhà trường, giáo viên để hoàn thiện công tác giáo
nghi và bằng cả pháp luật. Cái phải bảo vệ là trật tự trên dưới, trên là cha mẹ, anh
chị và chồng, dưới là con, là em, là vợ, trên còn là đàn ông, dưới còn là đàn bà.
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là một quan hệ theo tình nghĩa và theo
kinh điển Nho giáo. Theo quan điểm Nho giáo mối quan hệ trong gia đình là do
tính trời: ai sinh ra cũng biết yêu cha mẹ, anh chị em thương yêu nhau. Tình dựa
vào tính trời được lý hóa thành nghĩa và quy định thành lễ. Nghĩa và lễ có ý nghĩa
chuẩn mực cho con người. Con người sống đúng lễ nghĩa sẽ theo đúng trật tự trên
dưới mà cũng theo đúng tình của lòng mình, giữ được hòa mực. Theo lễ nghĩa
cũng có nghĩa là theo cái chuẩn chung chứ không theo ý riêng của bản thân. Con
người sống theo ý riêng của mình là nhân tố gây nên tổn thương cho sự hòa thuận.
Vì lẽ đó, trong gia đình truyền thống người ta hạn chế cái tôi, cái cá nhân, khuyến
khích sự kính trên nhường dưới, không so đo tị nạnh để nhường nhịn tha thứ. Tuy
nhiên, cũng chính trong xã hội đó, tác động của chức năng giáo dục đối với sự
hình thành nhân cách con người luôn theo một nhóm khuôn mẫu quen thuộc lặp đi
lặp lại mà ai cũng phải thực hiện theo. Nếu bất kỳ một cá nhân nào có hành động
chống trả lại ngay lập tức sẽ bị gia đình, làng xóm, xã hội khai trừ, từ bỏ. Như hiện
tượng con gái không chồng mà chửa theo luật lệ của làng thì sẽ bị gọt đầu bôi vôi
và đuổi khỏi làng; bất hiếu với cha mẹ sẽ bị làng đánh; nam nữ thụ thụ bất thân,
Đất nước bước vào thời kỳ CNH - HĐH, hội nhập quốc tế, xã hội có những
chuyển mình và đổi sắc về mọi mặt thì các chức năng của gia đình cũng có nhiều
thay đổi, các cá nhân trong gia đình biến đổi theo sự phát triển tất yếu của xã hội,
hay rộng ra là sự thay đổi của con người Việt Nam. Gia đình từ chỗ là một đơn vị
sản xuất (chủ yếu làm nông nghiệp và một phần thủ công), chuyển sang mở rộng
các ngành nghề khác (công nghiệp, dịch vụ ), gia đình nhiều thế hệ thành gia
đình hạt nhân. Sự thay đổi đó khiến cho các mối quan hệ trong gia đình có nhiều
điểm khác trước: tính độc lập và tự chủ của người vợ và con cái tăng lên; quan hệ
hôn nhân dựa trên tính tự nguyện, Các thành viên trong gia đình dần dần tham
gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội bên ngoài khuôn khổ gia đình,
điều đó đem lại sự xáo trộn về quan hệ gia đình là không thể tránh khỏi. Các mối
quan hệ trong gia đình thay đổi dẫn đến việc thực hiện chức năng giáo dục - hình
thực tế như trên, trang bị kiến thức về giới tính, sinh lý sinh sản cho các em trước
khi bước vào tuổi dạy thì là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm giúp các em hiểu
biết về tình dục và cách đề phòng những điều bất lợi có thể xảy ra. Những thông
tin tốt được cung cấp cho thanh thiếu niên giúp cho các em có trách nhiệm trong
quan hệ tình dục, tránh tác hại do quan hệ tình dục gây nên và tránh quan hệ tình
dục sớm.
Trong xã hội chúng ta có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau về vấn đề
giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho trẻ vị thành niên. Có những người cho
rằng: đưa vấn đề giáo dục giới tính vào nhà trường là “ vẽ đường cho hươu chạy”.
Vì thế họ cho rằng không cần phải giáo dục trong nhà trường mà để trẻ tự phát
triển tự nhiên, đến lúc nào đó tự trẻ sẽ hiểu được. Cũng có những quan điểm cho
rằng nhất thiết cần phải giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho thanh niên
hiện nay, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên nhằm nâng cao năng lực, giảm thiểu
những tác hại do thiếu hiểu biết gây ra. Nhưng cho tới nay nhà nước chưa đưa
chương trình giáo dục giới tính vào nhà trường giảng dạy vì những điều kiện chủ
quan và khách quan khác nhau. Trong điều kiện đó thì giáo dục giới tính trong gia
đình là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất, nhằm nâng cao sức khoẻ sinh
sản và đảm bảo cho thanh, thiếu niên một cuộc sống tình dục an toàn và giảm
thiểu những tác hại do thiếu hiểu biết gây ra. Giáo dục giới tính ngay trong từng
gia đình đòi hỏi trước hết chính những bậc phụ huynh phải là những người nắm
vững kiến thức về giới tính tình dục một cách khoa học; biết được kỹ năng giáo
dục và hơn cả là mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình luôn luôn được
chan hoà cởi mở và chia sẻ lẫn nhau. Chỉ như vậy, quá trình giáo dục giới tính cho
con cái mới đạt hiệu quả và kết quả là chính con em mình có thể kiếm soát đuợc
hành vi tình dục, có trách nhiệm trong quan hệ tình dục, hạn chế tối đa những rủi
ro từ quan hệ tình dục gây nên.
Chúng ta đã biết, gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con người,
trong đó bố mẹ là những ngưòi có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nhân
cách của con cái. Cách cư xử giữa bố - mẹ là bài học sớm nhất đối với trẻ về cách
ứng xử giới tính giữa một người nam và một người nữ. Trẻ sẽ tiếp thu dần dần
15). Lúc này trẻ bước vào giai đoạn tiền dạy thì. Cha mẹ từ những hiểu biết của
mình dạy cho con sự chuẩn bị tâm lý để đón nhận sự thay đổi của cơ thể như có
hành kinh ở con gái, sự phát triển cơ bắp và mộng tinh của con trai… Những điều
đó giúp trẻ tránh hoang mang do sự thay đổi căn bản sinh lý của trẻ, hạn chế sự
ảnh hưởng không tốt tới quá trình hoạt động học tập và giao tiếp xã hội của
trẻ. Nếu như ở giai đoạn trước việc giáo dục giới tính cho trẻ có ý nghĩa bước đầu