Tư tưởng triết học trong các tác phẩm của hải thượng lãn ông lê hữu trác - Pdf 25

Tư tưởng triết học trong các tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông Lê
Hữu Trác
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác(1720-1791) là một nhân cách sáng
chói trong lịch sử tư tưởng và y học Việt Nam. Xuất thân trong một gia đình
khoa bảng nhưng ông không chọn cho mình con đường công danh khoa cử mà
lại đi theo con đường y thuật chữa bệnh cứu người. Hơn 30 năm làm nghề thuốc,
ông đã đúc kết kinh nghiệm, khảo cứu sách vở viết ra bộ" Y tông tâm lĩnh" gồm
28 tập, 66 quyển để lại cho đời sau.
"Hải Thượng Y tông tâm lĩnh" là một tác phẩm y học đồ sộ. Tác phẩm
còn chứa đựng một hệ thống những tư tưởng triết học hết sức sâu sắc. Do những
tư tưởng triết học trong bộ sách này là rất rộng và rất sâu nên trong bài viết này
người viết chỉ tập trung làm rõ những tư tưởng triết học trong" Phụ đạo xán
nhiên"- một tập trong"Hải Thượng Y tông tâm lĩnh". "Phụ đạo xán nhiên" gồm 2
quyển nhỏ bàn về cách chữa các chứng bệnh của phụ nữ.
Trong thời đại ngày nay, khi những vấn đề về bình đẳng giới và sức khoẻ
của người phụ nữ vẫn đang nhận được sự quan tâm của xã hội, việc tìm hiểu
những tư tưởng trong"Phụ đạo xán nhiên"- tác phẩm đầu tiên trong lịch sử Việt
Nam lấy đối tượng trung tâm là người phụ nữ sẽ cung cấp cho chúng ta những
bài học để giải quyết những vấn đề của ngày hôm nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Hơn hai thế kỉ nay người ta không ngớt lưu truyền tên tuổi của Lê Hữu
Trác. Nhiều thế kỉ nay chúng ta đã không ngừng khám phá tư tưởng triết học và
đạo đức của ông. Những tư tưởng đó đã khẳng định vị trí của ông trong hàng
ngũ những nhà tư tưởng trưởng thành từ nghiệp y cũng như trong lịch sử tư
tưởng dân tộc.
Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX đã xuất hiện những công trình nghiên
cứu về tư tưởng và sự nghiệp của Lê Hữu Trác. Đó là các bài viết của Nguyễn
1
Trọng Thuật đăng trên báo" Nam Phong" năm 1923, và tác phẩm"Tân thuyên

Đối tượng nghiên cứu: nội dung tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác
trong"Phụ đạo xán nhiên".
Phạm vi nghiên cứu: xoay quanh những vấn đề có liên quan đến những tư
tưởng triết học trong"Phụ đạo xán nhiên".
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận.
Cơ sở lý luận: lịch sử triết học Trung Quốc, lịch sử Việt Nam và lịch sử tư
tưởng và tư tưởng triết học Việt Nam.
Phương pháp luận: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh , niên luận sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu như phương pháp lôgic- lịch sử, phương pháp tổng hợp và phương
pháp nghiên cứu tài liệu.
6. Ý nghĩa nghiên cứu
Niên luận bước đầu đi vào tìm hiểu tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác
thể hiện trong một tác phẩm cụ thể, để từ đó có thể mở rộng việc tìm hiểu tư
tưởng trong các tác phẩm khác.
7. Kết cấu của niên luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, niên luận
gồm 2 chương, 4 tiết.
3
CHƯƠNG 1. HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỉ XVIII
Từ thập kỉ đầu của thế kỉ XVI nhà nước tập quyền phong kiến Lê sơ bước
vào thời kì suy thoái trầm trọng, đến các đời vua Uy Mục(1505-1509), và Tương
Dực(1509-1516) thì chính quyền Lê sơ đã mục nát lắm rồi. Năm1727, Mạc
Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc. Một cuộc xung đột giữa các phe
phái phong kiến xảy ra và đất nước lại lâm vào cảnh chiến tranh. Lúc đầu là giữa
chính quyền nhà Mạc và chính quyền họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê kéo dài
trong gần 50 năm(1546-1592), ngay sau đó là sự phân chia đất nước thành Đàng
Ngoài và Đàng Trong cùng chiến tranh Trịnh - Nguyễn.

khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương(1740-1751) và của Nguyễn Hữu Cầu còn
gọi là Quận He(1741-1751). Đến năm 1770, các cuộc khởi nghĩa nông dân hầu
như đã bị dập tắt, nhưng hơn 30 năm phát triển rầm rộ của các phong trào đã
làm rung chuyển cả Đàng Ngoài. Cơ đồ thống trị của tập đoàn phong kiến Lê-
Trịnh lung lay đến tận gốc. Những điều chỉnh nhất thời trong chính sách cai trị
của chính quyền phong kiến cũng đã không thể cứu vãn nổi tình hình.
Ở Đàng Trong, sau một thời gian phát triển mạnh mẽ, từ thế kỉ XVIII
cũng lâm vào khủng hoảng sâu sắc và trầm trọng. Hai nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của Đàng Trong là kinh tế hàng hoá và nông nghiệp
hàng hoá và ngoại thương thời kì này có chiều hướng sa sút nghiêm trọng. Lúc
này tàu buôn phương Tây hầu như không đến nữa, tàu buôn nước ngoài tham gia
vào hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong chủ yếu chỉ còn các thương nhân
Hoa kiều. Trong nông nghiệp, ruộng đất bỏ hoang ngày càng nhiều. Các ngành
thủ công nghiệp, khai thác lâm sản cũng sa sút nghiêm trọng. Kinh tế suy thoái
đã kéo theo sự suy đồi về chính trị , những mâu thuẫn trong xã hội trở nên gay
gắt. Phong trào nông dân nổ ra và phát triển nhanh chóng mà tiêu biểu là phong
trào Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.
Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Đây là hệ
quả tất yếu của những biến đổi trên lĩnh vực kinh tế và chính trị. Đó là mâu
thuẫn giữa những người nông dân và chính quyền phong kiến, đây là mâu thuẫn
chủ yếu nhất trong xã hội nước ta thời kì này. Bên cạnh đó còn là mâu thuẫn
5
trong nội bộ của giai cấp phong kiến giữa vua Lê-chúa Trịnh, giữa tập đoàn
phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và tập đoàn họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Trải qua nhiều biến động, Nho giáo vẫn là công cụ chính của các tập
đoàn phong kiến sử dụng để xây dựng chính quyền và củng cố trật tự xã hội.
Giáo dục vẫn lấy nội dung trong Tứ thư, Ngũ kinh. Các tập đoàn phong kiến đều
ra sức tổ chức các kỳ thi, tăng cường số lượng tầng lớp sĩ phu. Tính đến khoa thi
cuối cùng năm 1787, triều Lê trung hưng đã tổ chức được 68 kỳ thi Đình, chọn
được 717 tiến sĩ. Ngoài ra triều Lê còn tổ chức bổ sung các khoa chế khoa, thịnh

của đạo nho nghĩa là chỉ trung với một con người, một dòng họ như" Trần
Danh Án thì nguyện trung với vua như"hoa quỳ khô vẫn hướng về mặt trời", "dù
chết vẫn giữ cương thường" (Liễu An tản ông thi tập) và Nguyễn Hành"ăn lộc
chết vì vua nguyện đến tuổi già vẫn giữ gìn khí tiết " (Minh Quyên thi tập)"
4
.
Trong khi đó thì có những người có quan điểm thức thời tiến bộ, hiểu về trung
nghĩa với lý tưởng cứu dân cứu nước. Trung là trung với đấng minh quân, họ
không do dự hợp tácvới nhà Tây Sơn, phò tá Nguyễn Huệ vì nghĩa lớn tiêu biểu
là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan Trong khuynh hướng thứ
hai, các nhà nho tuy về ở ẩn song thực chất con đường đi của họ cũng không
giống nhau. Một bộ phận tìm đến sự dung thông giữa triết lý Nho giáo với các tư
tưởng triết học, tôn giáo khác như Nho-Lão Trang trong tư tưởng của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nho-Đạo giáo trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ Một hướng
khác là tuy lánh đời nhưng vẫn tích cực xuất thế làm việc giúp đời như bốc
thuốc, dạy học mà tiêu biểu cho khuynh hướng này là Lê Hữu Trác.
1.2.Cuộc đời và sự nghiệp
Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý(tức ngày 11 tháng
12 năm 1720). Nguyên quán ở thôn Văn Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng
Hồng, tỉnh Hải Dương(nay là xã Liêu Xá, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên). Quê
mẹ ở xứ Bầu Thượng, xã Tình Diệm(nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh).
Hiệu"Hải Thượng" của ông ghép từ chữ"Hải" của tên tỉnh Hải Dương
và chữ "Thượng" của tên phủ Thượng Hồng, bạn của xứ Bàu Thượng. Tên"Lãn
Ông" có nghĩa là ông già lười, người không ham danh lợi.
Hải Thượng Lãn Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ônh
nội là Lê Hữu Mưu đậu Nhị giáp Tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư dưới
triều Lê Dụ Tông, được tặng phong tước Bá. Bác là Lê Hữu Hỷ, làm giám sát
4
Theo Hoàng Thu Hương, Sđd, tr.9

không hiểu được cụ Trần giảng giải cho. Khi khỏi bệnh ông về nhà tiếp tục tìm
5
Theo Lê Hữu Trác(2000), Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, tập. 2, NXB Y học, Hà Nội, tr.21
8
sách đọc thêm và trao đổi với một lương y khác cũng họ Trần ở làng Đậu Xá ở
bên cạnh. Ông học hỏi thêm vài năm nữa và bắt đầu hành nghề y. Mùa thu năm
1754, ông ra kinh đô mua thêm sách thuốc mang về. Nhờ thông minh, chăm
chỉ , có quyết tâm theo hướng mà mình đã chọn, nghề thuốc của ông có nhiều
tiến bộ, ông trở nên nổi tiếng khắp vùng châu Hoan(nay là Nghệ Tĩnh).
Năm 1760, ông viết sách và dạy nghề thuốc cho nhiều môn đệ. Ngày
12 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 43(năm 1782), chúa Trịnh triệu ông ra kinh
đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh. Các bài thuốc ông kê ra đều
có phần hiệu nghiệm tuy nhiên vốn không ham cảnh nhộn nhịp của kinh đô, ông
tìm mọi cách cáo về. Quả nhiên chỉ ít lâu sau đã xảy ra nạn kiêu binh, quan
Chánh đường tức Hoàng Đình Bảo, người đã giúp đỡ ông khi còn ở Thăng Long
bị giết vì liên quan đến phe của Đặng Thị Huệ.
Về quê, ông tiếp tục bổ sung bộ "Y tông tâm lĩnh" và viết thêm
tập"Thượng kinh ký sự". Tập này cung cấp thêm tư liệu văn học giá trị, phản
ánh người và việc trong thời đại phong kiến lúc bấy giờ.
Kết luận chương 1
Lê Hữu Trác sinh ra trong một thời đại lịch sử có nhiều biến động trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đất nước bị phân cắt ra thành Đàng
Ngoài và Đàng Trong, Đàng Ngoài có vua Lê-chúa Trịnh, Đàng Trong từ đèo
Ngang trở vào do các chúa Nguyễn cai quản. Chiến tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài
liên miên. Phong trào nông dân nổ ra ở nhiều nơi mà tiêu biểu nhất là phong trào
Tây Sơn. Kinh tế sa sút, nạn trộm cướp cường hào hỗn loạn . Xã hội lâm vào
một cuộc khủng hoảng sâu sắc và trầm trọng.
Trước tình hình trên, tư tưởng sĩ phu nhiều người hoang mang. Một
số thì tiếp tục lý tưởng trung quân truyền thống trong Nho giáo, cũng có những
người thức thời, hiểu khái niệm "trung quân" theo nghĩa tiến bộ như Ngô Thì

Dịch đã rồi mới có thể nói đến học thuốc". Nhưng nói học Kinh Dịch không
phải nói học những hào, những quẻ, những từ của Kinh Dịch mà chỉ cần học biết
cái thể biến hoá của âm dương, cái dụng sinh khắc của Ngũ hành "
8
. Bấy nhiêu
điều đó đủ khẳng vị trí quan trọng của các khái niệm âm dương ngũ hành trong
hệ thống triết học của ông. Âm dương ngũ hành có thể được coi là diểm xuất
phát cho mọi quan niệm của Lê Hữu Trác trong " Hải Thượng Y tông tâm lĩnh"
nói chung và trong" Phụ đạo xán nhiên" nói riêng. Bên cạnh đó Lê Hữu Trác
còn chịu ảnh hưởng về quan niệm về hình và khí trong triết học Tống Nho của
Chu Đôn Di , Trình Di, Trình Hạo , tinh và khí trong học thuyết của Đạo gia.
Sự tiếp thu các tinh hoa của nền triết học cổ đại Trung Quốc này không phải là
7
Trích theo Nguyễn Đức Sự(1977),"Cơ sở triết học của bộ "Lãn Ông tâm lĩnh và hiện thực lịch sử ở nước ta hồi
thế kỷ18", Tạp chí Triết học(4), tr.90
8
Trích theo Nguyễn Đức Sự, Sđd, tr.91
11
một hiện tượng riêng lẻ ở thế kỉ XVIII vì ta có thể nhận thấy sự xuất hiện của nó
trong một số trước tác của các học giả cùng thời như Lê Quí Đôn với "Vân Đài
loại ngữ", "Bùi Gia huấn hài" và "Nghệ An ký" của Bùi Dương Lịch.
Lê Hữu Trác đã vận dụng và phát triển các nguyên lý trên trong việc
giải thích các bệnh lý trong"Phụ đạo xán nhiên" đặc biệt trong các chương viết
về Cầu tự , Tổng luận về sự thụ thai. Ông khẳng định âm dương, hình- khí là
nguồn gốc phổ biến của sự sản sinh ra muôn vật và con người:" Đức lớn của trời
đất gọi là"sinh", sự sinh sôi nảy nở tràn ngập khắp nơi, sao đến ta lại riêng
ngừng đứt? Người con thảo cháu hiền chẳng nên cầu nguyện trời đất, mạnh dạn
tự trách mà nỡ để cho tuyệt tự hay sao? Vì trời là hình lớn nhất, âm dương là khí
lớn nhất, hình và khí cùng nhờ nhau mà lập nên, cùng cảm nhau mà sản sinh,
chưa từng riêng lẻ được bên nào. "Trai gái cầu tinh, muôn vật hoá sinh". Âm,

nuôi lớn và sống lâu. Con gái chưa đến tuổi cập kê(15 tuổi) mà giao cấu, âm khí
tiết ra sớm thì chưa đầy đủ mà tổn thương, chưa đông đặc mà bị lay động, cho
nên dẫu giao cấu mà không có thai, dẫu có thai mà không nuôi được, dẫu nuôi
được mà không sống lâu."
12
.
Âm dương hoà hợp là gốc sinh ra mọi vật trong đó có con người
nhưng sự đấu tranh của chúng lại là nguồn gốc quyết định việc sinh con trai hay
con gái. Lý thuyết âm dương đã được Lê hữu Trác vận dụng triệt để khi lí giải
sự thụ thai ở người phụ nữ. Theo ông, việc sinh con trai hay con gái không phụ
thuộc vào mệnh trời mà phụ thuộc vào sự phối hợp âm dương giữa người cha và
người mẹ. Ông viết:"Người ta đã bẩm thụ ở thiên nhiên, thì không ngoài được lý
lẽ âm dương cho nên dương vượng nhiều thì sinh nhiều tri, âm thịnh thì sinh
nhiều gái, tức nghĩa càn đạo thì trai, khôn đạo thành gái trong kinh Dịch "
13
và"Thường thấy đàn ông 6 mạch hồng đại. Mạch xích có lực, thì sinh nhiều trai
ít gái; 6 mạch trầm, tế, mạch xích trầm, vi thì sinh trai ít gái nhiều hoặc sinh trai
cũng chết non "
14
.
Từ nhận thức về âm dương và từ sự vận dụng vào quan sát người
bệnh, Lê Hữu Trác đi tới một nhận thức khác cho rằng sự vật phải giữ ở thế cân
bằng thì mới có sự phát triển bình thường:" Chữa chứng băng huyết thì phải
phân ra âm, dương, khí huyết tức âm dương trong mình người ta. Dương khí
thăng lên âm chủ giáng xuống. Âm gốc ở dương, dương gốc ở âm, một bên
thăng, một bên giáng xuống, theo kinh mà đi, thì huyết không có băng lậu."
15
.
Nếu không sẽ sinh ra bệnh, ông viết như sau cũng khi bàn về chứng rong huyết
của người phụ nữ:" Nội kinh lại nói:"mạch âm xằng mà mạch dương kích động

phải tỏ ra linh hoạt mềm dẻo. Cùng một bệnh nhưng chứng biểu hiện ra khác
nhau, cơ chế gây bệnh cũng khác nhau nên không thể chữa theo cùng một cách,
chứng cụ thể như thế nào thì cách chữa tương ứng với chứng ấy. Ví dụ cùng
chứng"Huyết trắng" ông viết:"Chứng xích đái có hoả. Cách chữa đều lấy bổ
thận làm chủ. Chứng bạch đái nhiều xích đái ít thì; nếu tỳ hư dùng Lục quân tử
thang(Khôn1/2), gia thêm Thăng ma; nếu khí hư dùng Bổ trung ích khí thang,
nếu can hư dùng Bát vị tiêu dao tán kèm theo Lục-vị- hoàn "
18
.
Kế thừa truyền thống trong tư tưởng phương Đông, đứng trên lập
trường duy vật , Lê Hữu Trác quan niệm con người là một bộ phận không thể
tách rời của giới tự nhiên. Những vận động sản sinh của cơ thể con người là sự
phản ánh sự vận động, sản sinh của trời đất, của vũ trụ. Ông viết:" Đại khái, cha
mẹ sinh con như tạo hoá sinh vật. Kinh Dịch nói"đạo khôn-(thuộc âm) thuận
theo trời(thuộc dương) mà bốn mùa vận chuyển". Xem nghĩa câu này thì biết rõ
là đất trời sinh muôn vật , chẳng qua thuận theo ở trời, thì mẹ sinh con chẳng
qua thuận theo ở cha "
19
.
17
Theo Lê Hữu Trác, Sđd,tr.253.
18
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.258.
19
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.272.
14
Những tư tưởng trên của Lê Hữu Trác thuộc loại biện chứng chất phác
và duy vật thô sơ, là tư tưởng tích cực đương thời. Quan niệm này khiến cho
thầy thuốc hạn chế được tư tưởng mệnh trời và mặt khác phát huy được cao độ
năng lực của sức người trong việc chữa trị cho người bệnh. Ngoài tư tưởng này

Tuy nhiên với trình độ phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất và
của khoa học tự nhiên nước ta thời bấy giờ, quan điểm biện chứng về tự nhiên
của Lê Hữu Trác cũng có những hạn chế. Bởi khi các bộ phận riêng rẽ của giới
tự nhiên chưa được chứng minh một cách chi tiết thì sự xem xét tổng quát những
mối liên hệ biện chứng của tự nhiên thường mang tính chất tự phát. Sống trong
khuôn khổ của xã hội phong kiến đương thời, Lê Hữu Trác cũng không khắc
phục được tính tự phát ấy.
Do thiếu hẳn sự có mặt của các ngành khoa học chuyên môn đã được
phân chia nên Lê Hữu Trác không nhận thức được sự khác nhau về chất của
những hình thức vận động đặc thù của từng lĩnh vực riêng rẽ trong giới tự nhiên.
Đối với Lê Hữu Trác thì mọi sự vận động trong cơ thể con người đều giống như
sự vận động vẫn thường thấy trong tự nhiên, cả hai đều tuân theo phép tắc của
âm dương ngũ hành và sự vận chuyển của thời tiết bốn mùa:"Có mùa đông rét
lạnh tất có mùa xuân ấm áp, thế mới biết lẽ thiên nhiên không thu liễm, không
thu liễm thì không thể phát sinh , đó là lẽ tự nhiên. Người không biết lẽ thu tàng,
dâm dục kiệt tinh làm háo chân khí, đến lúc không con, lại nói là huyết lạnh, là
tinh hàn, uống nhiều tễ táo nhiệt, làm chân âm càng bị hao tổn, thì làm sao mà
có con được "
21
. Hơn nữa ông mới chỉ thấy con người là một bộ phận của giới
tự nhiên chứ ông chưa hiểu rằng con người còn là sản phẩm lịch sử trong quá
trình phát triển đi lên của giới tự nhiên.
Trong quan niệm của ông, mọi sự vận động trong trời đất và trong cơ
thể con người đều qui tụ vào những hình thức vận động thô sơ như thăng giáng,
thịnh suy, sinh trưởng hoá Ngay quan niệm về mâu thuẫn của âm dương của
ông cũng hãy còn đơn giản. Vả lại sự vận động và liên hệ phong phú muôn vẻ
trong giới tự nhiên và trong cơ thể con người theo cách xem xét của ông lại bị
dập theo khuôn mẫu của qui tắc âm dương, ngũ hành thì cũng khó mà tránh khỏi
được tính gượng ép và máy móc. Tư tưởng của ông còn mang nhiều yếu tố sai
lạc của kinh nghiệm dân gian, còn mang nhiều tính chất phỏng đoán của kiến

về các chứng bệnh của phụ nữ. Đây là một điều mà ngay trong thời điểm hiện
nay, vấn đề này vẫn còn chưa được quan tâm đến một cách đúng mức, thì đặt
trong bối cảnh xã hội đương thời của Lê Hữu Trác, khi mà nhân sinh quan Nho
giáo thống trị , chi phối những chuẩn mực đạo đức xã hội- có thể nói đây là một
việc làm không phải là hiếm có mà là chưa từng có. Chính Lê Hữu Trác đã từng
22
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.280.
17
bày tỏ trong lời Tiểu dẫn của "Phụ đạo xán nhiên":" Do đó mới có thuyết, "
chữa bệnh 10 người đàn ông không khó bằng cứu chữa 1 người đàn bà", cho nên
người chữa bệnh , cho nên người chữa bệnh không dám coi thường mà cũng
chữa như những bệnh khác, người soạn sách cũng không ngại phiền lời mà viết
thành một khoa chuyên môn "
23
.
"Phụ đạo xán nhiên" như đã nói ở trên trước hết là một tác phẩm y học
nhưng ẩn sau những nguyên lý y học chúng ta có thể nhận thấy những tư tưởng
nhân sinh. Trong thời đại phong kiến, việc không sinh được con thường bị quy
trách nhiệm cho người phụ nữ. Vì không sinh được con, họ bị gia đình chồng
ghẻ lạnh thậm chí ruồng bỏ. Với việc giải thích một cách biện chứng khoa học
cơ chế của bệnh này, Lê Hữu Trác đã góp phần "minh oan" cho người phụ nữ
khi ông chỉ ra rằng trong nhiều trường hợp thì:"Cho nên nguyên nhân không có
con, không riêng ở đàn bà, mà phần nhiều cũng do đàn ông phòng lao quá độ,
tiết tinh ra quá nhiều, tinh loãng như nước hoặc lạnh như băng, và lo nghĩ nhiều
quá đều khó có con"
24
và "Lại xem kinh dịch nói: khôn đạo thuận theo ở trời mà
4 mùa vần chuyển, thì rõ là đất sinh muôn vật, thuận theo ở trời, mẹ sinh con
cũng thuận theo ở cha, người cầu tự nên lấy đàn ông làm chủ, không nên chỉ
chuyên trách ở đàn bà"

của ông thể hiện tư tưởng nhân đạo cao cả, người bệnh đối với ông ai cũng bình
đẳng như ai bởi theo ông:" Đạo làm thuốc là một học thuật cao quý cũng là đầu
mối lớn lao về đạo đức chân chính Có thể nói:"không có nghề nào nhân đạo
bằng nghề y cứu sống người", cũng có thể nói:"không có nghề nào vô nhân đạo
bằng nghề y thiếu đạo đức"
28
.
Kết luận chương 2
"Phụ đạo xán nhiên" chứa đựng nhiều tư tưởng triết học sâu sắc. Đó là
những quan niệm duy vật thô sơ và biện chứng chất phác nhưng có tác dụng tích
cực đương thời lúc bấy giờ. Bên cạnh đó còn là phương pháp luận sáng tạo của
Lê Hữu Trác. Tất cả làm thành một thế giới quan độc đáo và riêng biệt. Tuy vẫn
còn những hạn chế do bối cảnh lịch sử quy định nhưng giá trị những tư tưởng
của Lê Hữu Trác là không thể phủ nhận trong nền y thuật và tư tưởng Việt Nam.
"Phụ đạo xán nhiên" còn là tác phẩm chuyên khảo đầu tiên viết về đối
tượng chính là người phụ nữ. Tuy là một tác phẩm y học nhưng trong cuốn sách
cũng chứa đựng những tư tưởng nhân sinh sâu sắc của Hải Thượng Lãn Ông.
Tất cả những điều đó làm nên một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam.
26
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.238.
27
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.9.
28
Theo Lê Hữu Trác, Sđd, tr.7.
19
KẾT LUẬN
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác(1720-1791) là một nhà y học kiệt
xuất, một nhà tư tưởng lớn trong lịch sử Việt Nam. Ông sống trong một thời đại
đầy những biến động của lịch sử Việt Nam. Trên nền biến động ấy lại là sự phát

là một hướng đề tài nghiên cứu rất bổ ích trong tương lai.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Thu Hương(2000), Tìm hiểu triết lí nhân sinh của Hải Thượng
Lãn Ông trong sự nghiệp Đông y Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân, Khoa
Triết học, Trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội.
2. Nguyễn Quang Ngọc chủ biên(2004), Tiến trình lịch sử Việt Nam,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Đức Sự(1977), "Cơ sở triết học của bộ "Lãn Ông Tâm lĩnh" và
hiện thực lịch sử nước ta hồi thế kỉ 18", Tạp chí Triết học(4), 89-108.
4. Nguyễn Tài Thư chủ biên(1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập1,
NXBKHXH, Hà Nội.
5. Lê Hữu Trác(1993), Hải Thượng Y tông tâm lĩnh tập2, NXB Y học, Hà
Nội.
22
MỤC LỤC
T t ng tri t h c trong các tác ph m c a H i Th ng Lãn Ông Lê H u Trácư ưở ế ọ ẩ ủ ả ượ ữ 1
M UỞĐẦ 1
1. Lý do ch n t iọ đề à 1
2. Tình hình nghiên c uứ 1
3. M c ích v nhi m v nghiên c uụ đ à ệ ụ ứ 2
4. i t ng v ph m vi nghiên c uĐố ượ à ạ ứ 3
5. C s lý lu n v ph ng pháp lu n.ơ ở ậ à ươ ậ 3
6. Ý ngh a nghiên c uĩ ứ 3
7. K t c u c a niên lu nế ấ ủ ậ 3
CH NG 1. H I TH NG LÃN ÔNG LÊ H U TRÁCƯƠ Ả ƯỢ Ữ 4
CU C I VÀ S NGHI PỘ ĐỜ Ự Ệ 4
1.1. B i c nh l ch s Vi t Nam th k XVIIIố ả ị ử ệ ế ỉ 4
1.2.Cu c i v s nghi pộ đờ à ự ệ 7
K t lu n ch ng 1ế ậ ươ 9

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status