quan niệm văn học của nguyễn trãi - Pdf 25

Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Lý do khoa học
Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà chính trị thiên tài, là nhà thơ, nhà
văn kiệt xuất, là ngôi sao sáng của lịch sử Việt Nam ở thế kỉ XV, là danh
nhân văn hóa thế giới… Cho nên, “chỉ qua ông - và bắt buộc phải qua ông -
chúng ta nhìn và đánh giá cả một thời đại, cả một dân tộc, cả một con
đường” [24, 76]. Có lẽ vỡ lớ do đó mà trong nhiều thập kỉ qua, con người
và sự nghiệp Nguyễn Trãi luôn luôn là những vấn đề thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, thuộc nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Văn học cũng không phải là một ngoại lệ.
Với Lam Sơn thực lục, Phỳ núi Chí Linh, Văn bia Vĩnh Lăng, Dư địa chí,
Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập… văn nghiệp của
Nguyễn Trãi đó trở thành nguồn cảm hứng và đề tài vô tận cho nhiều nhà
nghiên cứu văn học. Trong số đó, có nhiều vấn đề đã được giải quyết trọn
vẹn, sâu sắc; song cũng có nhiều đề tài mới chỉ được đặt ra, nghiên cứu
bước đầu. Tìm hiểu quan niệm văn học của Nguyễn Trãi chính là một trong
những đề tài như thế, hứa hẹn còn nhiều vấn đề thú vị chưa được khám phá,
và đó cũng là lí do đầu tiên khiến chúng tôi mạnh dạn lựa chọn hướng
nghiên cứu này.
Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu văn học giúp chúng tôi nhận thấy,
việc nắm vững quan niệm văn học của một tác giả sẽ giúp chúng ta hiểu sõu
sắc hơn sáng tác của tác giả đó (bởi quan niệm văn học chi phối sáng tác và
ngược lại qua sáng tác hiểu sõu thêm quan niệm văn học). Do vậy, muốn
1
khai thác thêm nhiều giá trị của văn chương Nguyễn Trãi, việc nắm vững
quan niệm văn học của ông thiết nghĩ cũng là một trong những con đường
tiếp cận khả thủ, giúp chúng ta có thêm cơ sở để vượt qua lớp bụi thời gian
trên dưới sỏu trăm năm bao phủ lên những sáng tác của ông.
Nghiên cứu quan niệm văn học của Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở

đây, xem đó là cơ sở, là tiền đề để chúng tôi triển khai đề tài nghiờn cứu
của mình. Quá trình thu thập và đọc tài liệu cho chúng tôi nhận thấy, việc
nghiên cứu quan niệm văn học Nguyễn Trãi của các tác giả được chia làm
ba hướng chính: nghiên cứu gián tiếp quan niệm văn học của Nguyễn Trãi,
nghiên cứu trực tiếp quan niệm văn học của Nguyễn Trãi và nghiên cứu
quan niệm văn học của ông trong bối cảnh nghiên cứu quan niệm văn học
trung đại Việt Nam.
2.1.1. Hướng nghiên cứu gián tiếp quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả thường tập trung tỡm hiểu tư
tưởng của Nguyễn Trãi, xem đó là cơ sở và tiền đề để hiểu quan niệm văn
học cũng như sáng tác của ông.
*Hướng nghiên cứu tập trung vào tư tưởng của Nguyễn Trãi được đề
cập đến khá sớm, từ những năm 1960 của thế kỉ XX, với công trình Nguyễn
Trãi của tác giả Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1966. Trong cuốn
sách trên, ở chương IV và chương V, tác giả đã đề cập đến nguồn gốc, nội
dung, phương pháp tư tưởng của Nguyễn Trãi. Chương V với nhan đề:
Phương pháp tư tưởng của Nguyễn Trãi đã khẳng định trong phương pháp tư
tưởng của Nguyễn Trãi vừa có nhõn tố duy vật, vừa có nhõn tố biện chứng.
Tuy nhiên sự chú ý của chúng tôi là ở chương IV: Nguồn gốc và nội dung tư
tưởng của Nguyễn Trãi. Trần Huy Liệu đã làm rừ vai trò của Nho giáo tại
3
Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV và khẳng định: Nho giáo
là nguồn gốc tư tưởng của Nguyễn Trãi. Kết luận nêu trên được tác giả rút ra
sau khi tiến hành nghiên cứu bốn vấn đề trong tư tưởng của Nguyễn Trãi,
cũng là bốn vấn đề của học thuyết Nho giáo được Nguyễn Trãi vận dụng cụ
thể vào hoàn cảnh Việt Nam: Mệnh trời, nhân dân, nhân nghĩa, tư tưởng
hoà bình. Cũng giống như ông tổ của học phái Nho gia, Nguyễn Trãi tin vào
mệnh trời: “Ai mà cói được lòng trời” (Tự thán 15), “Nhõn sinh vạn sự tổng
quan thiên” - Đời người ta muôn việc đều ở trời (Hạ nhật mạn thành). Tư
tưởng nhõn dõn ở Nguyễn Trãi tuy chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng nhõn

tưởng Nguyễn Trãi. Từ đó, tác giả đi tới kết luận, cả ba hệ tư tưởng đó đều
có những ảnh hưởng nhất định đối với tư tưởng Nguyễn Trãi. Đõy là một sự
bổ sung cần thiết cho những ý kiến của tác giả Trần Huy Liệu mà chúng tôi
đã đề cập tới ở phần trên.
Tiếp tục hướng nghiên cứu trên, tác giả Trần Đình Hượu trong cuốn
Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn húa thông tin, Hà
Nội, 1995 đã dành chương IV để bàn về vấn đề: Nguyễn Trãi và Nho giáo.
Mục đích của chương này là để trả lời cõu hỏi Nguyễn Trãi là nhà nho như
thế nào? Để trả lời cõu hỏi này, Trần Đình Hượu đã lần lượt làm rừ bốn vấn
đề: Nêu nhân nghĩa làm công lý - vận dụng Nho giáo chống quân xâm lược
nhà Minh; Vua Nghiêu Thuấn, dõn Nghiờu Thuấn, lòng ưu ái và xã hội lý
tưởng của Nguyễn Trãi; Quan điểm làm người và những day dứt quanh vấn
đề xuất xử; Dân tộc và nhân đạo - con đường tiếp thu Nho giáo của Nguyễn
Trãi. Ở vấn đề thứ nhất, tác giả nhận thấy, Nguyễn Trãi đã vận dụng Nho
giáo và vận dụng một cách sắc sảo, có hiệu quả để giành chớnh nghĩa cho sự
nghiệp chống ngoại xõm. Dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, Nho giáo thành
một sức mạnh, bao võy, công phá quõn thù. Khi đất nước hết chiến tranh,
Nguyễn Trãi muốn nhanh chóng xõy dựng lại cuộc sống thái bình, cùng
nhõn dõn yên nghỉ. “Ông đã lựa chọn mô hình theo ông nghĩ là đẹp nhất, để
khái quát, lý luận hoá tất cả những nguyện vọng của dõn tộc, của nhõn dõn.
5
Mô hình đó là xã hội Nghiêu Thuấn của Nho gia” [24, 98]. Trong vấn đề thứ
hai, Trần Đình Hượu khẳng định Nguyễn Trãi cũng tin như các nhà nho là có
thể xõy dựng một xã hội hoàn mỹ bằng giáo hoá, tu dưỡng đạo đức và đức
trị, không được làm tướng khanh thì làm nho thần. Cho nên trong quan điểm
làm người của Nguyễn Trãi, tác giả nhận thấy ông thường khuyên con người
ta không nên sợ nghèo, không nên tham lợi bởi đạo đức mới là “của chầy”.
Ông cũng nói an mệnh, an bần nhưng khuyên nên chăm chỉ làm ăn, cày lấy
ruộng, đào lấy giếng, sống no đủ. Lời khuyên tổng quát nhất là giữ “đạo
trung”. Tuy nhiên, Nguyễn Trãi cũng lại khuyên con người ta nên “vô tõm,

nghệ sĩ (hồn nhiên, cảm tớnh, trực tiếp, “nguyên trạng”) chi phối hành động
và suy tư của ông nhiều hơn hẳn tác động của tri thức sách vở ” [100, 267].
Bên cạnh đó, chúng ta cũn có thể kể đến các bài viết như Ảnh hưởng
Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi của tác giả Lã Nhõm Thìn, Về cảm quan
Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi của tác giả Nguyễn Hữu Sơn, đều được
in trong Tạp chí văn học số 6, năm 2000. Các bài viết trên đều tập trung
khẳng định ngoài Nho giáo, tư tưởng Nguyễn Trãi, thơ văn Nguyễn Trãi cũn
chịu ảnh hưởng của hai triết thuyết lớn: Phật và Đạo.
Hướng nghiên cứu tập trung vào tư tưởng của Nguyễn Trãi mà chúng
tôi đề cập tới ở trên có lẽ chưa làm nổi bật được những khớa cạnh quan trọng
của quan niệm văn học Nguyễn Trãi. Tuy nhiên khi tiến hành nghiên cứu
một số phương diện trong quan niệm văn học của Ức Trai, chúng tôi không
thể bỏ qua mảng nghiên cứu này vì một lý do quan trọng: Tư tưởng của một
tác giả luôn luôn là điểm tựa, là cơ sở, là tiền đề để nhà văn đó xõy dựng
quan niệm văn học, phương chõm sáng tác. Muốn hiểu và khám phá chớnh
xác quan niệm văn học của Nguyễn Trãi, đòi hỏi chúng ta cần nắm vững tư
tưởng của ông.
*Trong hướng nghiên cứu gián tiếp quan niệm văn học của Nguyễn
Trãi, chúng ta cần phải đề cập tới nhánh nghiên cứu của tác giả Bựi Văn
Nguyên. Ở chuyên luận Văn chương Nguyễn Trãi, Nxb ĐH&THCN, Hà
7
Nội, 1984, Bựi Văn Nguyên đã dành chương thứ V để nghiên cứu quan niệm
văn học Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi và quan niệm văn chương vì nghĩa lớn,
vì chí lớn của kẻ anh hùng vỡ dõn vỡ nước. Có thể thấy rằng tác giả đã
không đi vào tỡm hiểu tư tưởng của Nguyễn Trãi mà trực tiếp đề cập đến
quan niệm văn học của ông. Song cách đặt vấn đề ở bài viết này vẫn chỉ
dừng lại ở phương diện gián tiếp. Tác giả không đưa ra một cõu thơ hay cõu
văn nào Nguyễn Trãi thể hiện trực tiếp quan niệm văn học vì nghĩa lớn, vì
chí lớn của kẻ anh hùng vì dõn vì nước. Quan niệm văn học đó được Bựi
Văn Nguyên khái quát lên thông qua việc phõn tích một hệ thống những

học của Nguyễn Trãi, chủ yếu tập trung làm sáng tỏ quan niệm văn học
mang tớnh mẫu số chung của thời trung đại: “văn (dĩ) tải đạo”, “thi (dĩ) ngôn
chí”. Nhưng thực tế cho thấy rằng, với khối lượng tác phẩm phong phú, với
tư tưởng đa dạng, quan niệm văn chương Nguyễn Trãi không đơn thuần chịu
sự đóng khung trong quan niệm văn học của thời đại ông sống. Bên cạnh đó,
hướng tiếp cận gián tiếp của tác giả cũn cho thấy: đôi chỗ kết luận chưa thật
sát với mục đích của bài viết, đó cũng là điều khó tránh khỏi khi những dẫn
chứng đưa ra không phải là những cõu văn, cõu thơ trực tiếp thể hiện quan
niệm văn học của Nguyễn Trãi.
2.1.2. Hướng nghiên cứu trực tiếp quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
Hướng nghiên cứu này tập trung tỡm hiểu những cõu văn, cõu thơ
Nguyễn Trãi trực tiếp thể hiện quan niệm văn học của ông. Đinh Gia Khánh
là người đi đầu đã chú ý tỡm hiểu quan niệm văn học của Nguyễn Trãi theo
hướng này.
Ngay từ những năm 1964, trong giáo trình Văn học cổ Việt Nam, tác
giả đã có đề cập đến quan niệm văn nghệ của Nguyễn Trãi nhưng chỉ xoay
quanh việc bình luận lời bàn về “gốc của nhạc” của Nguyễn Trãi với Lê Thái
Tông. Tác giả nhận thấy, thông qua lời bàn về “gốc của nhạc”, Nguyễn Trãi
đã thể hiện rừ một quan niệm: văn nghệ phải gắn bó mật thiết với cuộc sống
của quảng đại quần chúng. “Kể ra, thời loạn dụng vừ, thời bình chuộng văn.
9
Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có gốc thì không đứng được,
không có văn thì không hành được. Hoà bình là gốc của nhạc, thanh õm là
văn của nhạc. […] Xin bệ hạ yêu nuôi nhõn dõn, để cho các nơi làng mạc
không có tiếng oán giận, than sầu, đó là không mất cội gốc của nhạc vậy.”
[36, 158-159]. Xõy dựng õm nhạc không phải chủ yếu trước hết quan tõm
đến văn, tức là đến hình thức, đến kĩ thuật, kĩ xảo và õm thanh. Xõy dựng
õm nhạc thì chủ yếu và trước hết là phải quan tõm đến gốc, đến hoà bình, tức
là đến sự hài hoà của tõm hồn, của cuộc sống.
Đến giáo trình xuất bản vào năm 1978 Lịch sử văn học Việt Nam (Thế

đại hoặc một vấn đề nào đó trong quan niệm văn học của thời trung đại để
tiến hành khảo sát, phõn tích, bình luận. Do đó hướng nghiên cứu này mang
tầm khái quát cao, quan niệm văn học của Nguyễn Trãi chỉ đóng vai trò là
một yếu tố trong một hệ thống lớn. Mặt khác, chúng ta cần nhận thức được
rằng, trong hệ thống lí luận văn học thời trung đại ở Việt Nam, giai đoạn thế
kỉ XVIII, XIX mới là thời kì nở rộ của các quan niệm; cũn các thế kỉ trước
đó, quan niệm văn học mới chỉ là manh nha, trình bày rải rác, đơn lẻ, tản
mạn. Nguyễn Trãi sống vào thế kỉ XV, cho nên dù trong sáng tác của ông có
xuất hiện quan niệm văn học thì chúng ta cũng phải thừa nhận, những quan
niệm văn học đó ở ông không nhiều. Do vậy, dù Nguyễn Trãi có mặt trong
những công trình nghiên cứu lớn hay nhỏ về quan niệm văn học thời trung
đại thì sự xuất hiện quan niệm văn học của ông cũng chỉ là thoáng qua,
không phải là trọng điểm. Tuy nhiên hướng nghiên cứu này có một ưu thế
nổi bật, đó là cung cấp cho chúng ta một cái nhìn lịch đại và đồng đại tương
đối đầy đủ, giúp chúng ta xác định được vị trí và vai trò của quan niệm văn
học Nguyễn Trãi trong mười thế kỉ văn học trung đại.
Trên Tạp chí văn học số 1 năm 1973, tác giả Trần Lờ Sỏng cú bài Thử
tìm hiểu quan niệm Thi ngụn chớ của nhà nho. Trong bài viết này, tác giả đã
đề cập tới ba vấn đề sau: Nguồn gốc của quan niệm thi ngụn chớ, Quan niệm
thơ núi chớ của nhà Nho Trung Quốc, Quan niệm thơ núi chớ của nhà Nho
nước ta. Ở vấn đề thứ ba - Quan niệm thơ núi chớ của nhà Nho nước ta, tác
11
giả đã đề cập tới quan niệm văn chương của Nguyễn Trãi: thơ núi chớ, thể
hiện trong bài Thu dạ dữ hoàng giang Nguyễn Nhược Thuỷ đồng phú: “hảo bả
tân thi hướng chớ luõn” - Hóy đem bài thơ mới nói đến cỏi chớ của mình. Bên
cạnh đó, Trần Lờ Sỏng cũn nhận thấy “Nguyễn Trãi làm thơ là để nói lên tình
cảm của mình […] Cỏi tỡnh mà Nguyễn Trãi quan niệm là tình cảm hết sức
rộng lớn […] Quan niệm thơ núi chớ của Nguyễn Trãi có lẽ là quan niệm thơ
thể hiện ước vọng của mình đối với cuộc sống” [65, 115]. Tuy nhiên tác giả
mới chỉ đưa ra dẫn chứng mà chưa dành nhiều tâm sức đánh giá, có lẽ một

Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở sự khái quát hoặc những
nhận xét đơn lẻ, chưa thực sự đi sõu vào vấn đề. Hướng nghiên cứu tư tưởng
trong sáng tác của ông quá rộng lớn, phức tạp, dường như chưa nêu được đặc
điểm gì đáng kể trong quan niệm văn chương Nguyễn Trãi. Hướng nghiên
cứu gián tiếp thứ hai mà tác giả Bựi Văn Nguyên theo đuổi là thông qua sáng
tác để tỡm hiểu quan niệm văn học Nguyễn Trãi thì chưa nêu được những
cõu thơ, cõu văn Nguyễn Trãi trực tiếp thể hiện quan niệm văn chương. Tác
giả cũng mới chỉ đi sõu tỡm hiểu quan niệm văn chương vì nghĩa lớn, vì chí
lớn của kẻ anh hùng vì dõn vì nước. Hướng nghiên cứu đặt quan niệm văn
học của Nguyễn Trãi trong hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam
có ưu điểm là thể hiện cái nhìn đồng đại và lịch đại đối với vấn đề, tuy nhiên
quan niệm văn học của ông mới chỉ được các tác giả điểm qua ở một vài
khớa cạnh. Hướng nghiên cứu của tác giả Đinh Gia Khánh có ưu điểm nổi
bật là đã chỉ ra được những cõu văn, cõu thơ Nguyễn Trãi trực tiếp thể hiện
quan niệm văn chương. Tuy nhiên, những nhận xét của tác giả còn mang
tớnh chất gợi mở, chưa thật sự đi sõu vào vấn đề; tác giả cũng chưa khảo sát
được đầy đủ những cõu thơ, cõu văn Nguyễn Trãi thể hiện quan niệm văn
học.
Trên cơ sở phõn tích ưu điểm và hạn chế của những hướng nghiên cứu
nêu trên, chúng tôi nhận thấy hướng nghiên cứu của tác giả Đinh Gia Khánh,
đi tỡm những sáng tác Nguyễn Trãi trực tiếp thể hiện quan niệm văn học của
13
ông, từ đó khái quát thành những đặc điểm là phù hợp nhất với đề tài chúng
tôi đang tiến hành. Những ý kiến của các học giả đi trước cũng đóng vai trò
quan trọng để chúng tôi triển khai đề tài. Quá trình khảo sát và thống kê tư
liệu đã mang lại cho chúng tôi nhiều kết luận, trong đó có những ý kiến
tương đồng với đánh giá của các nhà nghiên cứu trước đó, song cũng có
những kiến giải mới. Tất cả cũng chỉ nhằm đạt tới mong muốn khắc họa
được phần nào quan niệm văn chương của một tác gia sống cách chúng ta
sỏu thế kỉ, từ đó có thêm một công cụ, một phương tiện để hiểu đúng, hiểu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ bước đầu tìm
hiểu một số phương diện trong quan niệm văn học của Nguyễn Trãi. Dẫn
chứng được khảo sát từ các tư liệu:
-Quốc âm thi tập, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp phiên õm và chú
giải, NXB Văn Sử Địa, HN, 1956.
-Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh phiên õm và chú giải, NXB
KHXH, HN, 1976.
-Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Bùi Văn Nguyên phiên õm và chú giải,
NXB GD, HN, 1994.
-Nguyễn Trãi toàn tập tõn biờn, Trung tõm nghiên cứu Quốc học, Nxb
Văn học, HN, 2000.
Trong đó, cuốn Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB KHXH,
HN, 1976 là tài liệu nghiên cứu chính. Ba tập còn lại được dùng để tham khảo
và so sánh các bản dịch thơ, với mục đích lựa chọn được bản dịch tốt nhất.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào vấn đề: quan niệm văn học.
Do vậy, vấn đề đầu tiên cần giải quyết chớnh là khái niệm quan niệm
văn học.
Theo chúng tôi, quan niệm văn học là thái độ, suy nghĩ, chiêm nghiệm
của nhà văn về văn chương (đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: bản chất của văn
15
học là gì?, văn học có chức năng gì?); về vai trò của người cầm bút; về
phương pháp sáng tác, về tư duy nghệ thuật…. đồng thời còn là tư tưởng,
tình cảm, những xúc cảm chân thành mãnh liệt nhất của nhà văn trước cuộc
sống và con người.
Tuy nhiên, với một tác gia lớn như Nguyễn Trãi, việc tìm hiểu quan
niệm văn học của ông quả thật là vấn đề không đơn giản. Điều này có hai
nguyên nhân: một là khối lượng tác phẩm của ông (đồ sộ và đến nay vẫn còn
nhiều tác phẩm bị thất truyền), hai là tư tưởng của ông - nền tảng ý thức hệ

5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Đóng góp của luận văn chủ yếu là ở các điểm sau:
Thứ nhất, trong chừng mực nhất định, có thể coi luận văn là sự kế thừa
và hệ thống hoá sơ bộ những thành tựu nghiên cứu đã đạt được của các tác
giả trước đó về vấn đề quan niệm văn học của Nguyễn Trãi trên một số
phương diện nhất định. Qua đó, luận văn góp một phần nhỏ làm phong phú
thêm cho kho tàng lý luận của văn học trung đại Việt Nam nói riêng, nền lý
luận văn học của dõn tộc nói chung trong giai đoạn hội nhập và giao lưu văn
học, văn hoá quốc tế.
Thứ hai, luận văn là sự rà soát lại về cả hai mặt tư liệu và thẩm định
đánh giá của các học giả về quan niệm văn học của Nguyễn Trãi trong thời
gian tương đối dài. Về mặt tư liệu, luận văn không chỉ sử dụng lại những dẫn
chứng đã được các tác giả công bố trước đõy mà cũn tỡm kiếm, thống kê,
phõn loại thêm những dẫn chứng mới. Về mặt thẩm định, đánh giá, luận văn
cố gắng đưa ra những nhận định chõn xác nhất, khách quan nhất về những
giá trị của quan niệm văn học Nguyễn Trãi ở một số phương diện nhất định.
Luận văn tiếp tục phân tích và bổ sung những quan niệm văn học của
Nguyễn Trãi.
Thứ ba, thông qua việc tỡm hiểu một số phương diện trong quan niệm
văn chương Nguyễn Trãi, luận văn góp phần bổ sung và làm rừ diện mạo
lịch sử phát triển của quan niệm văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỉ
XV, đối sánh nó với các giai đoạn trước và sau ở thời trung đại, với quan
niệm văn học của Trung Hoa và quan niệm văn học thời hiện đại. Cần so
sánh đối chiếu để tỡm ra sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm văn
học của Nguyễn Trãi với quan niệm của những tác giả trước và sau ông, để
thấy được Nguyễn Trãi đã kế thừa và có những vận dụng mới mẻ gì từ kho
(
17
tàng lí luận văn học cổ điển Trung Hoa. Những quan niệm của ông về văn
chương đã được tiếp tục phát huy ở các thế kỉ sau ra sao, chúng có cũn giá trị

phái trước. Nhưng tương quan đó không phải là bất biến. Bởi Phật giáo đến
giữa thời Trần đã bắt đầu suy (giữa thế kỉ XIII). Trong khi đó Nho giáo ngày
càng củng cố vị thế trong đời sống chớnh trị xã hội và đến cuối thời Trần đã
chiếm được thế thượng phong. Đạo gia tuy không có được vị thế như vậy,
nhưng tư tưởng triết lý Đạo gia lại hoà vào trong Nho giáo, nhất là Phật giáo
để len vào đời sống tinh thần của nhiều trí thức một cách khá tinh tế và để lại
dấu ấn không nhỏ. Đến thế kỉ XV, thế “tam giáo tịnh hành” đã bị phá vỡ. Vị
thế chủ đạo của Nho giáo đã từng bước được xác lập từ cuối thời Trần, đến
thời Hồ (1400-1407) được củng cố và đến đầu đời Lê thì đạt đến sự toàn trị
và được duy trì cho đến thế kỉ XVIII, XIX. Phật giáo dần dần rút khỏi đời
19
sống chớnh trị xã hội, bị bài xích, phê phán khá nặng, về sau không thể phục
hưng lại được. Trong bản thõn Phật giáo cũng không có những đại diện ưu tú
như thời kỳ trước nên tiếng nói của nó không mấy trọng lượng. Tư tưởng
Phật giáo không thể tồn tại độc lập như trước mà nhiều khi phải dựa vào Nho
giáo, Đạo gia. Đạo gia vẫn tiếp tục phát triển, hoặc tự thõn hoặc thông qua
Nho giáo mà tác động đến đời sống văn hoá tinh thần. Nguyễn Trãi là con
người của thế kỉ XV nên tư tưởng, sự nghiệp sáng tác, cũng như quan niệm
văn học của ông chắc chắn chịu ảnh hưởng xu thế chung của ý thức hệ thời
đại. Trong các phần tiếp theo của chương một, chúng tôi sẽ cố gắng làm rừ
vai trò của từng học thuyết đối với sự hình thành quan niệm văn học của ông.
1.1. Tư tưởng Phật giáo
Phật giáo là một triết thuyết mà về mặt triết học, quan niệm rằng: bản
chất cuộc sống là do bốn nỗi khổ “sinh, lóo, bệnh, tử” tạo thành. Mục đích
của đời người là cầu mong được giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi khổ đó, để đi
tới chỗ hoàn toàn thanh tĩnh, không sống chết, không nghiệp báo luõn hồi,
đó là cảnh giới niết bàn (nirvana). Những điều mà Phật Thích-ca chứng
nghiệm dưới gốc bồ đề và mong muốn đem ra giác ngộ chúng sinh đi lên con
đường giải thoát mà đi đến cừi niết bàn, về đại thể gồm có: Tứ diệu đế, Thập
nhị nhân duyên và Bỏt chính. Trong Tứ diệu đế (bốn điều suy ngẫm rừ ràng),

vọng niệm (những ý nghĩ không phù hợp với đạo) đều bị diệt trừ, thấy rõ
được tự tính vốn có, như vậy là có thể thành Phật, đắc đạo, đốn ngộ.
Trong thế giới Phật giáo, con người nhờ yên tĩnh thiền định mà đạt tới
những giõy phút chứng nghiệm sự hoà hợp giữa chủ thể và khách thể, giữa ý
tưởng biểu đạt và cái được biểu đạt, vươn tới sự tỉnh thức (Buddha), trực
giác vụ phân biệt trí (Nirvikalpajanana), vụ ngôn như Bồ-đề-đạt-ma chỉ
hướng: “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhõn tõm, kiến tớnh
thành Phật” - Truyền lại không lệ thuộc vào giáo nghĩa, văn tự, đi thẳng vào
lòng người, thấy được bản tớnh và thành Phật.
21
Những trình bày trên đõy cho thấy, “tư duy Phật giáo gần gũi với tư
duy văn học ở tính trực giác và tính hướng nội […] chú trọng đến chữ “tõm”,
khai thác tận cùng các yếu tố thuộc về “tõm” chứ không đơn thuần chỉ là sự
tìm hiểu để khai thác mặt tõm lớ xã hội. Tư duy này gần gũi và có liên quan
đến quy luật nhận thức để sáng tạo văn học nghệ thuật” [45, 174]. Tư duy
Phật giáo đặc biệt gần gũi với việc sáng tác thơ ca, chớnh vì vậy ở Trung
Hoa, Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến các trường phái thơ ca như ở thời
Đường, Tống, Minh, Thanh.
Nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Trãi, chúng ta nhận ra có cảm
quan Phật giáo trong thơ văn ông. “Xét trên phương diện từ vựng, dễ thấy
Nguyễn Trãi sử dụng các lớp từ có ý nghĩa như những điển tích, thuật ngữ
nhà Phật, hoặc xa gần giàu ý nghĩa biểu cảm tư tưởng, tõm linh và đời sống
tu hành của nhà Phật […] Ngoài ra là số lớn các thuật từ nhà Phật trong thơ
chữ Hán như tiền duyên, tục sự, phi tớch, ngó ẩn, hương hoả, thiền sáp, Phật
bỏt, chõn thõn, nhất phái, kiếp kiếp, cơ hà diệu, thượng thừa thiền, vô thụ
phi đài, thần tích phi lai; và trong thơ chữ Nôm cũng rất nhiều từ nhà Phật
như Bụt, đất Bụt, kiếp, duyên, nghiệp, nghiệp ba thân, hương lửa ba thân,
tượng thấy ba thân, chiền (chùa), chùa chiền, tây phương, Như Lai, tâm, vô
tâm, vô sự, trai, thiền, rừng thiền, thiền định, tự tại, cơ mầu, ẩn, ẩn dật, đại
ẩn, ẩn cả lâm tuyền…” [67, 78]. Bên cạnh lớp ngôn từ hình thức, tư tưởng

hoại cái thuần phác, tự nhiên, làm loạn xã hội, làm hỏng con người. Từ triết
thuyết đến thực tế, Đạo gia chỉ chú trọng cái sinh thể, cái bản ngã, đúng hơn,
cái tự kỷ, đả phá cái luõn thường của Nho giáo.
Trong công trình Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, tác giả Li-xê-vớch
đã chỉ rừ mối quan hệ giữa Đạo và cảm hứng sáng tác thơ ca: “người ta cho
rằng, con người chỉ có một giác quan có thể liên hệ được với cái tuyệt đối, và
giác quan này là trái tim […] Sự kết hợp động và tĩnh, sự tràn đầy cảm xúc
(1)
Ở đây, chúng tôi không sử dụng thuật ngữ “Đạo giáo” mà sử dụng khái niệm “Đạo gia” là bởi hai lí do
sau:
- Đạo giáo: là một thứ tôn giáo dựa vào Lão giáo (học thuyết của Lão Tử) nhưng đã biến thành một
thứ đạo tu tiên, mưu cầu trường sinh bất tử, chứa đựng yếu tố mê tín dị đoan.
-Đạo gia: chỉ những người theo học thuyết Lão-Trang, nhấn mạnh học thuyết gốc.
23
và sự tự lắng đọng đến mức “trống rỗng”, khả năng phõn lập cái thống nhất
ra các yếu tố đối lập, chớnh tất cả những thuộc tớnh này được quy cho trái
tim ở xứ Trung Quốc cổ đại và đã làm cho tim gần gũi với đạo là cái bất
biến, nhưng sáng tạo ra cái vận động; là cái trống rỗng nhưng lại chứa đựng
cái hiện hữu; là cái duy nhất nhưng lại sinh ra nhiều vẻ” [35, 23-24]. Cũng
trong chương thứ nhất của công trình này, tác giả đưa ra nhận xét: “vào thời
Tiền Hán trái tim được xem là một điểm, là nơi nảy sinh ra ngôn từ thơ.”
[35, 25] và “văn học đích thực bao giờ cũng là hồi õm của đạo thoát ra từ
con tim” [35, 26]. Những nhận định đó cho thấy vai trò, tầm ảnh hưởng của
triết thuyết này đối với nhiều thế hệ sáng tác văn chương trong thời trung đại
ở phương Đông; cũng như sự tác động của Đạo gia đối với việc hình thành
quan niệm văn học ở nhiều tác gia trung đại Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, trong nhiều sáng tác thơ ca,
chúng ta đã thấy có dấu ấn ảnh hưởng của Đạo gia. Nhưng ảnh hưởng của
triết thuyết này trong việc hình thành quan niệm văn học thì có lẽ phải đến
thế kỉ XV mới xuất hiện rừ, tiêu biểu là các tác giả như Lê Thánh Tông,

gia để phủ nhận danh lợi, để ung dung, tự tại; đến với vô vi theo đại đạo tự
nhiên của Đạo gia để sống thuận theo quy luật tự nhiên, sống hoà hợp với
thiên nhiên. Tư tưởng Đạo gia cũn được tỡm thấy trong nghệ thuật biểu hiện
của tác giả, ở những điển cố, hình tượng nghệ thuật.
Từ đó, chúng ta có thể đi đến những kết luận sau:
Thứ nhất, “Đạo gia ảnh hưởng khá toàn diện và khá sõu trong thơ
Nguyễn Trói” [84, 74].
Thứ hai, Đạo gia theo đuổi một nhân sinh quan xuất thế, thanh tĩnh vô
vi, coi nhẹ sự sống chết, không quan tâm đến thế sự, chủ trương giữ cho
được sự thuần nhất, sự hồn nhiên, dứt bỏ sự khôn ngoan tinh khéo, cố gắng
giảm bớt dục vọng ham muốn cho tõm hồn được trong sáng, thanh thản. Vì
vậy, cái mạnh của Đạo gia cũng chớnh là sức ảnh hưởng của triết thuyết này
đối với việc hình thành quan niệm sáng tác của nhiều tác giả trung đại, trong
đó có Nguyễn Trãi là: coi trọng trực giác, trực cảm, chủ trương kiệm lời, “lời
25

Trích đoạn Đến quan niệm “thi dĩ tình đạt đạo” của Nguyễn Trã Người làm văn chươn g “Thấy cảnh lòng thơ càng vấn vớt” Người làm văn chươn g “Ngõm ụng thùy dữ thế nhân đa” Người làm văn chươn g “Đao bút phải dùng tài đã vẹn” Văn chương “chộp cõu thỏnh”, “phải đạo trung”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status