tiểu luận toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế việt nam tốt hay xấu đi - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN CÁ NHÂN:
Chủ đề 2:
TOÀN CẦU HÓA SẼ LÀM CHO
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỐT HAY XẤU ĐI?
Môn : QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
GVHD : TS.NGUYỄN HÙNG PHONG
Lớp : CH K20-ĐÊM 1
SVTH : TRƯƠNG BẢO LONG
Phân tích tài chính mã CK CSM giai đoạn 2009 - 2011
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Page 2
Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
MỤC LỤC
I/ Giới thiệu chung về toàn cầu hoá: 1
II/ Một số thành tựu khi Việt Nam tham gia toàn cầu hóa: 2
2.1 Việt Nam đang tích cực tham gia và phát huy vai trò thành viên trong các tổ chức kinh tế
quốc tế. 3
2.2. Việt Nam đang tích cực tham gia vào đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do
5
2.3. Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự do hoá thương mại và
mở cửa thị trường 6
III/ Mặt trái của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế Việt Nam: 7
3.1.Thiệt hại do quá trình chuyển đổi 7
3.2.Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng cao 8
3.3.Khó khăn về trình độ công nghệ và nguồn vốn 8
IV/ Giải pháp để khai thác tối đa cơ hội toàn cầu hóa và hạn chế những mặt tiêu cực
của nó 9
4.1. Về mặt pháp chế: 9

Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
II/ Một số thành tựu khi Việt Nam tham gia toàn cầu hóa:
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn
sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập và phát triển”. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng
thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và
khu vực.
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với
hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới
trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương
mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định
chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các
nước và các tổ chức quốc tế.
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với
các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế
giới, Ngân hàng thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy
mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại
khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Tháng 7/1995
Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức
tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Tiếp đó, năm 1996
Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt
Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này.

nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài,
cũng như làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác song
phương và đa phương khác.
* Trong khuôn khổ APEC

Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
- Đối với Việt Nam, Diễn đàn APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng. APEC là khu vực
dành viện trợ phát triển lớn nhất, chiếm tới 65% tổng số vốn đầu tư nước ngoài, 60%
giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng số khách du lịch quốc tế tới
Việt Nam. Hầu hết các đối tác chiến lược quan trọng và các đối tác kinh tế - thương
mại hàng đầu của ta là các nền kinh tế thành viên của APEC.
- Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn APEC năm 1998, Việt Nam
đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC như Báo cáo về Chương trình
Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chương trình Hành động tập thể, các kế
hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầu tư Ta cũng đảm nhận vị trí Chủ tịch
và điều hành nhiều Nhóm công tác quan trọng như Nhóm Công tác Y tế nhiệm kỳ
2009 - 2010, Nhóm công tác về Đối phó với tình trạng khẩn cấp, Nhóm công tác về
thương mại điện tử… Việt Nam đã triển khai thành công hơn 60 sáng kiến, đồng bảo
trợ hàng trăm sáng kiến trên hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế
kỹ thuật, y tế, đối phó với thiên tai, chống khủng bố Việt Nam đã được đánh giá là
một trong những thành viên năng động, đã có nhiều sự đóng góp tích cực cho Diễn
đàn APEC.
* Trong khuôn khổ ASEM
- Là diễn đàn đại diện hơn 60% dân số thế giới và đóng góp hơn 50% tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) toàn cầu, ASEM không chỉ là cầu nối cho quan hệ đối tác mới giữa
hai châu lục Á-Âu mà còn hướng tới mục tiêu đem lại những đóng góp thiết thực cho
hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới.
- Trong ba năm qua (2010-2012), Việt Nam đã tích cực đề xuất và triển khai nhiều
sáng kiến, hoạt động của ASEM, nổi bật là việc tổ chức thành công nhiều hội thảo
quan trọng như "Hội thảo về tăng cường hình ảnh ASEM thông qua các hoạt động

(AANZCERFTA), ký kết từ tháng 2/2009, thực hiện từ 1/1/2010.
+ Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn độ bước đầu hình thành và thiết lập bởi
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn độ (AICECA) ký năm
2003 và Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN - Ấn độ (AITIG) ký kết năm 2009,
thực hiện từ 01/06 năm 2010.
Ngoài việc ký kết và tham gia các Hiệp định Thương mại tự do với tư cách là
thành viên khối ASEAN thì Hiệp định Thương mại tự do đầu tiên mà Việt Nam ký
Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
kết với tư cách là một bên độc lập là Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
(2008), tiếp đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Chi Lê (11/11/2011). Hiện
Việt Nam đang nghiên cứu tiền khả thi và triển khai đàm phán FTA với một số đối
tác như EFTA (bao gồm 4 nước là Thuỵ Sỹ, Na Uy, Liechtenstein và Ai-xơ-len), Liên
minh Hải quan (bao gồm 3 nước là Nga, Belarus và Kazakhstan), EU, Đài Loan, Thổ
Nhĩ Kỳ Việt Nam cũng đã chính thức tham gia vào đàm phán Hiệp định Đối tác
kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ tháng 11/2010.

2.3. Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự do hoá
thương mại và mở cửa thị trường
Thời kỳ 2001-2010, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân
17,42%, cao hơn 2,42% so với chỉ tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển xuất khẩu 2001-
2010.
Tính riêng trong giai đoạn 2007-2010, là giai đoạn sau khi gia nhập WTO,
xuất khẩu tăng bình quân 14% năm, nhập khẩu tăng bình quân 11% năm.
Đến năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hóa xuất
khẩu đạt 96,3 tỷ USD là là mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 33,3% so với kỷ lục
đạt được trong năm 2010. Đồng thời, mức nhập siêu của năm 2011 là mức thấp nhất
trong vòng 5 năm qua.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2011 đã có sự
chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm
dần hàng xuất khẩu thô. Trong đó, tỷ trọng của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm

quốc tế, dẫn đến làm tăng chi phí "đầu vào" của các doanh nghiệp.
Trong khi đó, chúng ta chưa xây dựng được khuôn khổ pháp lý bảo đảm cho
sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng. Áp lực của hội nhập kinh tế và cạnh tranh
quốc tế ngày càng mạnh, nhưng nhiều địa phương và doanh nghiệp vẫn "đủng đỉnh"
để trông đợi vào sự đầu tư và bảo hộ của Nhà nước. Nguồn vốn ngân sách đang khan
hiếm và tín dụng ưu đãi bị sử dụng dàn trải, thậm chí vẫn bao cấp tràn lan kéo dài cho
nhiều doanh nghiệp nhà nước đang làm ăn không có hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà
nước các cấp nhìn chung vẫn can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trong khi lại bỏ qua hoặc thực hiện không tốt những chức năng đích thực của
mình. Biểu hiện cụ thể là: quy hoạch vừa kém chất lượng vừa thiếu hiệu lực, chưa
Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
xây dựng được hệ thống thể chế mang tính đồng bộ và thống nhất phù hợp với yêu
cầu khách quan của cơ chế cạnh tranh thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, quản lý
và sử dụng tài chính cũng như tài sản công còn rất lãng phí - nhất là đối với đất đai,
đầu tư công cộng và mua sắm bằng tiền ngân sách, Những thiếu sót nêu trên cùng
với sự yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật có ảnh hưởng rất tiêu cực đến khả năng
tham dự toàn cầu hóa kinh tế và cạnh tranh quốc tế của Việt Nam.
3.2. Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng cao
Tiếp theo là tình trạng chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng cao. Một số nông
dân bị mất đất đai do quá trình đô thị hóa và chưa quen với đời sống công nghiệp trở
thành tầng lớp hạ lưu, đời sống cực kỳ nghèo khổ do quanh năm chỉ quen với ruộng
đồng. Giờ đất đai không còn, chỉ biết đi làm thuê làm mướn với mức thu nhập rất
thấp. Từ đây kéo theo nhiều tệ nạn: trộm cướp, mại dâm, lừa đảo, buôn lậu… tăng
cao. Nhất là trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, tầng lớp người nghèo bị
ảnh hưởng rất nhiều, có rất nhiều doanh nghiệp giải thể kéo theo nhiều người mất
việc làm rồi sinh ra tệ nạn, tội phạm ngày càng nhiều và hành vi ngày càng táo tợn.
Điều này thể hiện rõ ở các thành phố lớn như Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội do
người nhập cư không có việc làm trong khi có rất nhiều chi phí phải trang trải hàng
ngày, còn ở các vùng nông thôn thì ít bị ảnh hưởng.
Kinh tế vùng miền cũng có sự chênh lệch do tài lực và nhân lực tập trung vào các

thể chế cần thiết, đặc biệt là bằng các quy định pháp luật minh bạch, dễ hiểu, dễ làm.
Hai là, nhanh chóng xác lập những điều kiện tiền đề cho chính sách cạnh tranh.
Theo đó cần xác định rõ chủ thể thị trường, vạch rõ ranh giới giữa thị trường và Nhà
nước; đồng thời, hình thành được hệ thống thị trường đồng bộ và hoàn thiện.
Ba là, có "công nghệ" xây dựng chính sách cạnh tranh theo chuẩn mực hiện
đại, phù hợp với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế.
Theo đó, kết hợp hợp lý và có hiệu quả các biện pháp pháp chế, với kinh tế và biện
pháp hành chính cần thiết. Về các biện pháp pháp chế, xác định rõ chủ thể thị trường
và đưa ra những quy định thật khách quan và chặt chẽ để bảo đảm các
chủ thể đó luôn được đối xử bình đẳng - đó là điều kiện quan trọng hàng đầu để duy
trì cạnh tranh một cách công bằng; đồng thời phải chú trọng tăng cường hiệu lực của
pháp luật đối với trật tự thị trường, thúc đẩy việc thực hiện Luật Phá sản, sớm xây
dựng và ban hành Luật Cạnh tranh và chống độc quyền - làm cho luật này của Việt
Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
Nam ăn khớp với các quy tắc thống nhất của khu vực và thế giới. Về các biện pháp
kinh tế, cần bảo đảm nguyên tắc không mâu thuẫn với các biện pháp pháp chế, trên
cơ sở đó xây dựng những nguyên tắc khách quan trong việc sử dụng các đòn bẩy kinh
tế như thuế, giá cả, tín dụng để thúc đẩy cạnh tranh; đồng thời, tất cả các chính sách
khác có liên quan đều phải có tác dụng bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh, như chính
sách phát triển các ngành, chính sách tài chính, chính sách đầu tư, chính sách thương
mại, chính sách việc làm và tiền lương, Về các biện pháp hành chính, cần chú ý đến
mối quan hệ giữa nó với các biện pháp pháp chế và các biện pháp kinh tế; trên cơ sở
đó, xác định rõ chức năng và quyền hạn của các cơ quan chuyên trách và các chủ thể
khác khi họ trực tiếp dùng quyền lực hành chính để can thiệp, giám sát và quản lý các
hành vi thị trường của các doanh nghiệp. Các chức năng và quyền hạn đó đều phải
được quy định rõ ràng trong luật hành chính và có những điều khoản tương ứng trong
Luật Cạnh tranh.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu và thực hiện việc quốc tế hóa chính sách cạnh
tranh. Việt Nam sớm có các tổ chức chuyên trách xây dựng luật và chính sách cạnh
tranh. Trong quá trình này, cần chú trọng tính quốc tế hóa của luật và chính sách cạnh

thể chối cãi. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập chúng ta không chuẩn bị kỹ để đối
phó với những khó khăn mà toàn cần hóa mang lại nên hiệu quả của quá trình tham
gia toàn cầu hóa chưa được cao. Chúng ta cần có lộ trình với những chuẩn bị đầy đủ
tận dụng được hóa trình toàn cầu hóa tiến tới trở thành một nước phát triển trong
tương lai gần
Chủ đề 2: Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt hay xấu đi?
Tài liệu tham khảo:
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. – TG: Nguyễn Xuân Thắng.
Những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá tới sự phát triển bền
vững ở Việt Nam. TG: Nguyễn Minh Tuấn.
Các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc
tế…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status