1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
BỒI DƢỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN
VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
******** (Tài liệu lƣu hành nội bộ) Quyển 2
Hà Nội, tháng 6/2011
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trước thực tế chất lượng giáo dục nhân cách HS và giáo viên chủ nhiệm gặp nhiều
khó khăn trong việc quản lí và giáo dục HS, Vụ TrH, Bộ GD-ĐT đã tổ chức Hội thảo
về nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học tại TP Đà Lạt, tháng
01/2011 nhằm thăm dò nhu cầu về nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GVCN
ngay trong dịp hè năm 2011. Theo đó có13 kĩ năng được chọn ở mức độ ưu tiên hơn
(đa số ý kiến cho là rất cần) đó là:
Nhóm kĩ năng giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi công tác chủ nhiệm
- Vai trò, chức năng của GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS
- Kĩ năng tổ chức giáo dục KNS cho HS
- Kĩ năng ngăn ngừa và giải quyết những xung đột trong tập thể lớp
- Kĩ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp
- Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp ( kế hoạch năm, học kì,
1. Vì sao phải làm việc này? Nội dung trả lời cho câu hỏi này đề cập đến những
luận cứ lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao nhận thức cho giáo viên chủ nhiệm lớp
2. Làm cái gì? (Nội dung phải làm)
3. Làm như thế nào? ( Cách thức thực hiện)
Nội dung trả lời cho 2 câu hỏi sau nhằm nâng cao năng lực cho GVCN
Đăc biệt là nội dung tài liệu đãcập nhật những cách tiếp cận phù hợp với đổi mới tư
duy “hướng vào người học” trong giáo dục hiện nay
Chắc chắn cuốn tài liệu này còn những điều chưa đáp ứng nhu cầu của GVCN.
Rất mong được sự chia sẻ, góp ý của những người đọc và sử dụng.
Thay mặt nhóm tác giả
Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình 6
Một số từ viết tắt
1
Ban giám hiệu
BGH
2
Cha mẹ học sinh
CMHS
3
Kĩ năng hợp tác
GDH
15
Giáo dục và thời đại
GD & TĐ
16
Lực lượng giáo dục
LLGD
17
Thanh niên cộng sản
TNCS
18
Trung học phổ thông
THPT
19
Trung học cơ sở
THCS
7
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG
1A. MỤC TIÊU
quản lý, lãnh đạo nhà trường đưa ra các định hướng, giải pháp quản lý, giáo dục
học sinh hiệu quả.
1
Nguyễn Thanh Bình-Viện Nghiên cứu sư phạm – Trường ĐHSP Hà Nội
8
2.2. Đối với HS và tập thể lớp, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi
nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối
quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ
lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi HS trong lớp.
Giáo viên chủ nhiệm lớp còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng
học sinh của lớp phản ánh với hiệu trưởng, với các tổ chức trong nhà trường và với các
giáo viên bộ môn.Giáo viên chủ nhiệm với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách
nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi mọi mặt học sinh của lớp.
Ví dụ: những oan ức, sự hiểu lầm của thầy, cô giáo vì một lẽ nào đó. Ai là người giúp
các em giải tỏa những băn khoăn vướng mắc trong những quan hệ như vậy, không ai
tốt hơn là giáo viên chủ nhiệm.
Như vậy, GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng (Ban giám hiệu), giữa các tổ chức
trong nhà trường, giữa các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh. Nói một cách khác,
giáo viên chủ nhiệm là người đại diện hai phía, một mặt đại điện cho Hội đồng sư
phạm, mặt khác lại đại diện cho tập thể học sinh trong quá trình thực hiện công tác chủ
nhiệm lớp.
2.3. GVCN là người cố vấn cho công tác đội và công tác Đoàn ở lớp chủ nhiệm
GVCN giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chỉ huy chi đội của lớp chủ nhiệm ở
trường THCS, và là người cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn ở trường THPT.
GVCN có thể tư vấn cho đội ngũ này về việc lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động
theo tôn chỉ, mục đich của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với các hoạt động giáo dục
trong kế hoạch của lớp sẽ đem lại hiệu quả cao.
2.4. Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, GVCN
Nhìn tổng thể, theo tác giả, chức năng của người GV chủ nhiệm lớp là lãnh
đạo, tổ chức, quản lí, giáo dục tập thể lớp trên cơ sở tổ chức các hoạt động GD, các
mối quan hệ GD của HS theo mục tiêu giáo dục nhân cách HS toàn diện trong tập thể
phát triển và môi trường học tập thân thiện.
Quan niệm trên đã phản ánh sự thống nhất giữa:
- Chức năng quản lí và chức năng giáo dục,
- Tổ chức các hoạt động GD và các quan hệ của HS theo định hướng phát triển toàn
diện nhân cách
- Giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân,
- Tập thể phát triển với môi trường học tập thân thiện [2].
4. Nhiệm vụ của GVCN
4.1.Nhiệm vụ của GV CN lớp được quy định trong các văn bản pháp lí [5].
a.Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo
dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của mọi học sinh.
b. Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ
môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí
Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh
của lớp.
c.Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen
thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm
tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh
việc ghi vào sổ điểm và học bạ.
d.Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
Trong 3 năm học gần đây khi thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa THPT,
thì GV chủ nhiệm còn có thêm nhiệm vụ: “Theo dõi tình hình tổ chức dạy và học tự
10
chọn của lớp mình phụ trách; Theo dõi kết quả học tập tự chọn của học sinh, tổng kết,
xếp loại và ghi kết quả học tập của HS theo quy định” [4].
Như vậy nhiệm vụ của GV chủ nhiệm lớp được quy định trong các văn bản pháp
đặc điểm HS về các mặt học lực, đạo đức, sức khỏe …dự báo và diễn biến trong quá
trình học tập, rèn luyện của học sinh), trong đó đặc biệt quan tâm đến học sinh là con
thương binh, học sinh nghèo vượt khó
Trên thực tế việc tìm hiểu HS và lớp chủ nhiệm cũng hết sức đa dạng. Nhìn chung
GVCN sử dụng phương pháp trò chuyện hoặc phiếu khai những thông tin cơ bản về gia
đình HS. Làm thế nào để hiểu đầy đủ, chính xác về HS và các yếu tố ảnh hưởng đến học
11
tập và phát triển nhân cách HS cũng còn đang là vấn để cần được nâng cao năng lực cho
GVCN.
- Tổ chức đội ngũ cán bộ tự quản và xây dựng tập thể học sinh lớp chủ
nhiệm.
Đội ngũ cán bộ lớp là những người trợ giúp đắc lực giúp GVCN thực hiện chức
năng của mình, nhưng họ không phải là công cụ, hay cánh tay nối dài của GVCN. Trong
thực tế đã có những GVCN sử dụng đội ngũ cán bộ lớp chưa thực sự đúng mục đích, nên
đã gây mâu thuẫn giữa đội ngũ tự quản với các HS khác trong lớp, đặt họ vào những tình
thế khó xử. Đội ngũ cán bộ lớp là những người được GVCN bồi dưỡng năng lực tổ chức
và quản lý tập thể lớp để đảm bảo sự thống nhất giữa quản lý của GVCN và tự quản của
HS.
Xây dựng tập thể HS phát triển và thân thiện vừa là mục đích vừa là phương tiện
để giáo dục nhân cách từng HS, đồng thời đưa tập thể đến trạng thái phát triển cao
hơn là nhiệm vụ của GVCN. Nguyên tắc giáo dục trong tập thể bằng tập thể cần được
quán triệt trong công tác chủ nhiệm lớp.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung, hoạt động giáo dục toàn diện
(hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chương trình, hoạt động sinh hoạt dưới
cờ, giờ sinh hoạt lớp, hoạt động tư vấn trong công tác hướng nghiệp, dạy nghề…)
- Liên kết với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để đảm bảo sự thống
nhất trong giáo dục học sinh và tăng cường sức mạnh đồng bộ nhằm đem lại hiệu quả.
- Đánh giá kết quả giáo dục và học tập của HS lớp chủ nhiệm trong suốt quá trình
cũng như khi sơ kết, tổng kết năm học.
có chất lượng chương trình giáo dục.
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ
trường phổ thông.
Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo…
Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn, đổi mới phương pháp giáo dục …
Điều này cũng tương đương với Điều 31 về Nhiệm vụ của GV trung học
Điều 70 (về những tiêu chuẩn nhà giáo phải có), Điều 72 (về nhiệm vụ của nhà giáo),
Đặc biệt Điều 75 (về các hành vi nhà giáo không được làm) đã quy định:
Nhà giáo không được có các hành vi sau đây:
Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm hại thân thể người học.
Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyện
của người học.
Xuyên tạc nội dung giáo dục.
Ép buộc HS học thêm để thu tiền.
Năm 2008 Bộ GD ĐT còn ban hành Quy định đạo đức nhà giáo[8], trong đó:
Điều 3. Phẩm chất chính trị
1. Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng
học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng
dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
2. Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ
chức, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.
3. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động
chính trị, xã hội.
Điều 4. Đạo đức nghề nghiệp
13
1. Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo, có
tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công
chế, quy định, không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.
2. Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.
3. Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến
người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học
tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp.
14
4. Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học,
đồng nghiệp, người khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng
nghiệp và người khác.
5. Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định.
6. Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi
không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động
giáo dục của nhà trường.
7. Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong
khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.
8. Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và
trong sinh hoạt tại cộng đồng.
9. Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung
trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc, không đi
muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế
chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.
11. Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như: cờ
bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan, không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá
phẩm đồi trụy, độc hại.
5.2. GVCN cần quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục của Đảng,
Nhà nước, đồng thời phải nắm vững quy chế, điều lệ nhà trường phổ thông, mục tiêu giáo
dục của bậc học, của khối lớp về kế hoạch, chương trình hoạt động của nhà trường trong
giáo dục ngắn hạn khác để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, các chủ
trương, nhiệm vụ nhà trường giao cho. Đây là nhiệm vụ trung tâm của GV chủ nhiệm lớp
nhằm tổ chức có hiệu quả các hoạt động GD học sinh lớp chủ nhiệm. Lâu nay việc lập kế
hoạch còn mang tính hình thức, bây giờ GVCN cần có kĩ năng lập kế hoạch khoa học hơn,
trong đó các thành tố mục tiêu, nội dung, nguồn lực, biện pháp, thời gian thực hiện, kết
quả dự kiến được xác định tường minh, cụ thể, đảm bảo tính khả thi. Sau đó là chỉ
đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch và giám sát, đánh giá việc thực hiện những kế hoạch
này. Chuẩn nghề nghiệp GVTrH yêu cầu “Kế hoạch các hoạt động giáo dục được xây
dựng thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù
hợp với đặc điểm học sinh, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế, thể hiện khả
năng hợp tác, cộng tác với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường ” ( Tiêu
chí 16). Chính vì vậy GVCN phải có năng lực tìm hiểu môi trường giáo dục để tính
đến vừa như là điều kiện, nội dung tổ chức giáo dục ngay từ khi lập kế hoạch chủ
nhiệm ” Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà
trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các
thông tin thu được vào dạy học, giáo dục” (Tiêu chí 7. Chuẩn nghề nghiệp GVTrH).
Tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GVCN cho thấy: Phần lớn GV
chưa nhận thức được ý nghĩa của việc lập kế hoạch, nên đã làm một cách hình thức,
thậm chí chép lại của nhau những kế hoạch chung (năm,học kì), kể cả kế hoạch tháng
[2].
5.5. Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Đây là chức năng đặc trưng và cũng là
yêu cầu đối với GVCN mà các giáo viên bộ môn không thể thay thế. Để giáo dục và
phát triển toàn diện từng HS, GVCN tất yếu phải xây dựng và phát triển tập thể lớp.
Nhiệm vụ của người GVCN đưa tập thể lớp từ trạng thái này đến trạng thái phát triển
cao hơn.Tập thể phát triển là tập thể ở giai đoạn có tính tự quản cao, có dư luận tập thể
lành mạnh, các mối quan hệ trong tập thể gắn bó và mang tính nhân văn. Tập thể phát
triển cũng đồng thời là môi trường học tập thân thiện, chứa đựng văn hóa của mình.
16
Trong chiều sâu văn hóa của tập thể là những giá trị, hệ thống các chuẩn mực và niềm
những giá trị sống và kĩ năng sống (KNS) cho HS để các em có thể tránh được những
rủi ro, vượt qua những thách thức trong cuộc sống. Cần phối hợp tổ chức các chủ đề
giáo dục những KNS phù hợp với từng lứa tuổi, vùng miền và giáo dục KNS theo tiếp
cận Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI “ Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng
định mình, Học để chung sống với mọi người”
Trên thực tế, đa số GV chủ nhiệm không thực hiện đầy đủ và thực hiện một cách hình
thức các chủ đề hoạt động ngoài giờ lên lớp.
5.7. Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp
17
Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan hệ
giữa các thành viên của tập thể. Thực tiễn bạo lực học sinh trong nhà trường hiện nay
đang làm mọi người đều bức xúc và để lại hậu quả nặng nề về tâm lí, tinh thần học sinh.
Do đó GVCN cần lưu tâm ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn có thể
trong tập thể lớp chủ nhiệm. Một tập thể phát triển có văn hóa tổ chức, là môi trường
học tập thân thiện thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết trên nền của sự thiện chí, tôn trọng,
thừa nhận lẫn nhau .
5.8. Đánh giá kết quả tu dưỡng, học tập và sự tiến bộ của HS về các mặt giáo dục.
Quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định số
40/2006/ QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) quy
định một số việc phải làm cụ thể của GVCN về đánh giá kết quả học tập và đạo đức
của HS để xếp loại mang tính quản lí hành chính. Theo quan điểm đánh giá để phát
triển HS, người GVCN hiện nay cần thường xuyên thu thập và xử lí thông tin để khích
lệ HS vươn lên, hoặc điều chỉnh kịp thời những hành vi không mong đợi của các em.
Ngoài yêu cầu đánh giá khách quan, công bằng, đánh giá HS còn cần hướng đến làm
tăng lòng tự tin, muốn tự hoàn thiện của các em. GVCN cần nhìn HS theo quan điểm
động và phát triển. Quan trọng nhất là GVCN cần phân biệt giữa đánh giá hành vi và
đánh giá nhân cách HS, tránh từ hành vi không mong đợi đơn lẻ của HS quy kết thành
đặc điểm nhân cách. Chuẩn nghề nghiệp GVTrH đã yêu cầu “Đánh giá kết quả rèn
luyện đạo đức của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng và có tác
5.10. Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinhbằng công nghệ
thông tin. Bộ GD-ĐT cũng quy định về hồ sơ học sinh, sinh viên và ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ học sinh, sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết
định số 58/2007/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo). Việc tổ chức ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin trong công
tác quản lí học sinh, sinh viên ở các trường là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua
năm học đối với các cơ sở giáo dục.
Một mặt, việc cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh
không chỉ là thực hiện yêu cầu từ góc độ quản lí hành chính, mặt khác cập nhật hồ sơ
học sinhđể theo dõi sự phát triển của các em và khi cần thiết có thể kịp thời can thiệp
điều chỉnh. Trong xã hội hiện đại HS gặp nhiều thách thức về tâm lí, tinh thần, trong
khi trong nhà trường nhìn chung chưa có đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng tâm lí
học đường, nên GVCN cần phải thực hiện chức năng tư vấn/ thậm chí là tham vấn để
HS tự giải quyết vấn đề bằng chính nội lực của mình.
6. Chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong trƣờng phổ thông ở một số nƣớc[9].
6.1. Chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong hệ thống giáo dục của Nhật và Trung quốc
có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam và khá nặng.Chức năng, nhiệm vụ của GVCN
đều có liên quan đến tổ chức, quản lý lớp học và chịu trách nhiệm về quá trình giáo
dục toàn diện HS. Một số chức năng, nhiệm vụ chính của GVCN là:
- Lãnh đạo, tổ chức, quản lý lớp chủ nhiệm theo các quy định của nhà nước và nhà
trường.
- Hướng dẫn, trợ giúp HS về mọi mặt trong học tập và đời sống tinh thần, các mối
quan hệ xã hội
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỉ luật cho HS.
- Thực hiện các chức năng tư vấn tâm lí, tình cảm nghề nghiệp cho HS.
- Trợ giúp BGH nhà trường trong việc thực hiện kế hoach giảng dạy và các chính
sách, biện pháp giáo dục.
- Cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục HS với cha mẹ HS.
19
25