I
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH ĐOÀN
TP. HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH CHƢƠNG TRÌNH VƢỜN ƢƠM
SÁNG TẠO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẺ
*
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã được chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu ngày 17/10/2013)
, PHƢỜNG, THỊ TRẤN
–
:
- , , thị trấn.
- màcấp
.
cấp .
:
TT 1
Sƣu tầm và tổng hợp tài liệu
2
Xây dựng đề cƣơng và khảo sát thực
địa, điền dã 3
Xây dựng bảng câu hỏi
4
Tiến hành điều tra, khảo sát
5
Xứ lý số liệu III
.
.
.
.
V
. Anh Nguyễn Hữu Ngọc, Phó Bí Thƣ Quận đoàn Quận 8 đã đọc và đƣa ra
rất nhiều ý kiến đóng góp quý báu. Cảm ơn chị Nguyễn Na Na chuyên viên
phụ trách cải cách hành chính của UBND Quận 1 đã không những góp ý rất
nhiều, rất nhiệt tình cho chúng tôi mà còn giúp chúng tôi chuyển phiếu khảo
sát tới các phƣờng ở Quận 1. Cảm ơn anh
, , , Trung
.
. S
.
về .
VI
, , thị trấn
một số kết nhất định
cấp .
cấp g
, .
.
,
.
Summary
Local Government plays a focal role in administrative system in Ho
Chi Minh City. This level has contributed partly to the increasing
1
15
17
1.4. Mục tiêu nghiên cứu 18
1.5 Phƣơng pháp nghiên cứu 18
23
23
1.1 Chính quyền địa phƣơng và chính quyền cấp xã 23
1.1.1 Khái niệm chính quyền địa phƣơng 23
1.1.2 Vị trí pháp lý của chính quyền địa phƣơng 25
1.1.3 Chính quyền cấp xã 25
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc 26
26
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nƣớc 27
1.3 Quản lý nhà nƣớc ở cấp xã 30
1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc ở cấp xã 30
1.3.2. Đặc điểm quản lý nhà nƣớc ở cấp xã 30
1.3.3. Vai trò quản lý nhà nƣớc ở cấp xã 30
1.3.4. Nội dung quản lý nhà nƣớc ở cấp xã 31
1.4. cấp xã 33
1.5. Kinh nghiệm tổ chức chính quyền địa phƣơng của một số nƣớc trên
thế giới 34
1.5.1. Chính quyền cơ sở úc 34
1.5.2. Chính quyền địa phƣơng của Nhật 48
cấp
Minh 56
chính quyền cấp 56
2.2 Thực trạng cấp 58
2.2.1 Nhóm thứ nhất gồm công việc liên quan đến chức năng quản lý
nhà nƣớc 58
173
X SỐ
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG
1.1.
nhà nƣớc cấp xã
21
1.2
Bộ máy chính quyền cùa Öc
35
1.3
Phân loại District ở Öc
38
1.4
Phân loại chính quyền địa phƣơng của Öc
39
1.5
Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phƣơng
40
1.6
Quy trình thành lập Ban địa phƣơng ở Öc
42
1.7
Tổ chức hành chính tiêu biểu cấp vùng ở Nhật
50
1.8
2.4.
44
3.1
Tổ chức chính quyền hai cấp
101
3.2
Số lƣợng nhân sự cần bổ sung
107
3.3
Kiến nghị về việc chuẩn bị nguồn lực
112
3.4
Những hoạt động cần chuyển giao cho khu vực tƣ
nhân
116 XII
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT OECD
Nhóm các nƣớc phát triển
UNDP
Cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc
TP
Thành phố
UBND
Uỷ ban Nhân dân
thuận của UBNDTP khi dùng tiền
NSKH), n/c thiết kế mẫu điều tra,
điều tra khảo sát, thù lao thuê
khoán, khác )
42,000,000 15/10/2009
1,400,000
HĐTK
15/10/2009
1,000,000
HĐTK
30/12/2009
1,000,000
HĐTK
15/01/2009
1,000,000
HĐTK
15/12/2009
Xây dựng đề cƣơng khảo sát
500,000 07/07/2010
7,500,000
HĐTK
1/10/2010
7,400,000
HĐTK
15/12/2009
Xây
700,000
HĐTK
04/01/2010
0,05)
15,000,000 15/03/2010
2,000,000
HĐTK
3
Tổng cộng
66,340,000
Ngày 15 tháng 11
năm 2009
XV
Ghi chú chữ viết tắt:
HĐTK: hợp đồng thuê khoán
HĐTC: hóa đơn tài chánh
HĐBL: hóa đơn bán lẻ
0032883 (và các số tƣơng tự): mã số hóa đơn tài
chánh
1
1.1. tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Nghiên cứu về chính quyền địa phƣơng, phần lớn tập trung vào từng
quốc gia, từng địa phƣơng cụ thể; bởi chính quyền địa phƣơng mang đặc thù
vùng miền rõ nét. Nói cách khác, ít có nghiên cứu nào đi sâu vào chính
quyền địa phƣơng nói chung. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu tìm hiểu chính
quyền địa phƣơng và quản lý nhà nƣớc của chính quyền địa phƣơng trên một
số phƣơng diện cơ bản nhƣ: đặc điểm của chính quyền địa phƣơng; phân cấp
và quản lý nhà nƣớc ở chính quyền địa phƣơng; chức năng, tổ chức của
chính quyền địa phƣơng; và năng lực thực thi của chính quyền địa phƣơng.
Đặc điểm của chính quyền địa phƣơng
phân cấp tới chính quyền địa phƣơng đƣợc thành công.
Xác định chính quyền địa phƣơng và hoạt động quản lý của chính
quyền địa phƣơng là nơi gặp gỡ trực tiếp ngƣời dân của nhà nƣớc, EC (2007,
tr.x) tập trung vào việc nghiên cứu và hỗ trợ năng lực quản lý của chính
quyền địa phƣơng. Trong đó EC nhấn mạnh đến vấn đề phân cấp với logic:
phân cấp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chính quyền địa phƣơng
dân chủ với quyền lực và khả năng thật sự để chủ động trong việc hoạch
định chính sách cũng nhƣ những công việc quản lý ở địa phƣơng (EC 2007,
tr.x). Đây cũng là lý do EC xây dựng mô hình hệ thống mở (open-systems
model) giúp đẩy mạnh quá trình phân cấp. Mô hình hệ thống mở xem xét
quá trình phân cấp từ cấp quốc gia đến cấp địa phƣơng trong bối cảnh toàn
cầu hoá và khu vực hoá (EC 2007, tr. xi). Quá trình phân cấp gắn với ba loại
phân cấp cơ bản: phân cấp chính trị, phân cấp hành chính và phân cấp tài
chính (EC 2007, tr.15-19). Quá trình phân cấp này đòi hỏi sự tham gia mang
3
tính định hƣớng, tạo lập nền tảng từ cấp quốc gia và sự tham gia của chính
quyền địa phƣơng cũng nhƣ của ngƣời dân.
Về phía chính quyền địa phƣơng, để thành công trong quá trình phân
cấp cần phải đảm bảo một số vấn đề cơ bản. Thứ nhất, chính quyền địa
phƣơng phải đƣợc sự thừa nhận về mặt pháp lý, phải xem chính quyền địa
phƣơng là một bộ phận quan trọng để quản lý và phát triển địa phƣơng chứ
không phải là một cánh tay nối dài của một cấp chính quyền khác (EC 2007,
tr. 20). Thứ hai, chính quyền địa phƣơng phải có năng lực quản lý. Thứ ba,
sự phân cấp nhất thiết phải đi đôi với quá trình phân cấp tài chính (EC 2007,
tr.20). Thứ tƣ, tính tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng cũng
cần phải đƣợc đề cao (EC 2007, tr.20-21).
Tài liệu này của EC (2007) đƣợc biên soạn nhƣ một cẩm nang giúp các
nƣớc đang phát triển thực hiện tốt hơn quá trình phân cấp. Đây là tài liệu có
ích trong nghiên cứu về cách thức tổ chức phân cấp cho chính quyền địa
địa phƣơng, cần nhấn mạnh đến sự tham gia của ngƣời dân (OECD 2004, tr.
43). Để làm đƣợc nhƣ vậy, chính quyền nên tạo ra những điều kiện và cơ sở
cho các hoạt động: vận động hành lang; giám sát và đánh giá trên cơ sở lấy
ngƣời dân làm gốc; nâng cao vai trò của kiểm toán lấy ngƣời dân làm cơ sở
(citizen-based auditing); nâng cao sự phối hợp của chính quyền địa phƣơng
và xã hội dân sự; tạo ra khuôn khổ và kế hoạch cho ngƣời dân tham gia vào
quá trình quản lý của chính quyền địa phƣơng; khuyến khích ngƣời dân
tham gia vào các vấn đề về ngân sách, kế toán. Tài liệu này còn nhấn mạnh
đến sự tham gia của ngƣời nghèo và các nhóm yếu thế (PECD 2004, tr.44).
Ngoài ra, sự cam kết của chính quyền trung ƣơng là điều kiện cần thiết của
quá trình phân cấp hiệu quả (OECD 2004, tr.51).
5
Cùng bàn về vấn đề phân cấp và chính quyền địa phƣơng nhƣng
International Development Partner Harmonization for Enhanced Aid
Effectiveness (2007) trong một báo cáo của mình lại nhấn mạnh đến tính
thống nhất của quá trình phân cấp đối với các chiến lƣợc quốc gia và các
cuộc cải cách của khu vực công. Sử dụng phƣơng pháp tình huống nghiên
cứu ở bốn nƣớc Benin, Nepal, Nicaraqua, và Tanzania, báo cáo đƣa ra một
số kết luận và kiến nghị quan trọng giúp quá trình phân cấp đƣợc thành
công. Đó là, quá trình phân cấp phải đƣợc quản lý; phải có cơ chế điều phối
giữa các bên tham gia trong quá trình phân cấp; quá trình phân cấp phải phù
hợp với chiến lƣợc quốc gia; phải xây dựng đƣợc các mô hình để quá trình
tham gia của các nhóm hỗ trợ đạt hiệu quả (IDPHEAE 2007, tr.40). Những
kiến nghị này là cơ sở cho việc xây dựng một lộ trình từng bƣớc đủ toàn
diện và chi tiết giúp các nhóm hỗ trợ, chính quyền các cấp thực hiện thành
công quá trình phân cấp; vì khi đó, quá trình phân cấp là một bộ phận cốt lõi
của cải cách hành chính (IDPHEAE 2007, tr.47). Báo cáo đã đƣa ra khung
hoạt động mang tính thực tiễn cao
Trong một tài liệu tập huấn của UNDP về “Tăng cƣờng phân cấp và
ƣơng (UNDP 2003, tr.7).
Cách phân loại trong tài liệu này của UNDP có thể đƣợc xem nhƣ một
cách tiếp cận mới đối với khái niệm phân cấp. Cách tiếp cận này có ƣu điểm
là gắn với từng nhiệm vụ, công việc cụ thể trong quá trình phân cấp. Tuy
nhiên, vì mức độ khác biệt giữa một số loại không quá lớn, nên dễ nhầm lẫn
với nhau chẳng hạn nhƣ phân nhiệm (delegation) và phân cấp (devolution).
Điều này dễ xảy ra hơn khi dịch sang tiếng Việt. Hơn nữa, cách phân loại
này không làm nổi bậc đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ vị trí của từng loại
phân cấp trong quá trình phân cấp. Từ đó khó có thể đƣa ra những chiến
lƣợc phân cấp cho từng loại. Thêm vào đó, cách phân loại này UNDP dựa
7
vào thực tiễn của Albani, cho nên một số loại phân cấp có thể không tìm
thấy ở Việt Nam, chẳng hạn nhƣ Mandatory service.
Cùng bàn về vấn đề phân cấp, Võ Kim Sơn (2004) đi sâu vào phân tích
những mặt mang tính lý luận của vấn đề phân cấp. Bên cạnh việc đƣa ra khái
niệm của phân cấp, phân loại phân cấp, tác giả đƣa ra một số nguyên tắc
phân cấp. Nhìn chung, vấn đề tác giả bàn luận không có gì khác biệt so với
một số nghiên cứu nƣớc ngoài về vấn đề phân cấp.
Trong bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và địa vị
pháp lý của chính quyền địa phƣơng ở nƣớc ta hiện nay”, Trần Thị Diệu
Oanh (2010) tập trung vào phân cấp hành chính. Tác giả xem xét phân cấp
hành chính trên ba nhóm chức năng của bộ máy hành chính: nhóm chức
năng thuộc trung ƣơng, nhóm chức năng thuộc về vấn đề tự quản, tự chủ của
địa phƣơng, và nhóm chức năng đòi hỏi sự kết hợp giữa trung ƣơng và địa
phƣơng. Sự phân chia ba nhóm chức năng này là nội dung chính quyết định
hình thức phân cấp, phạm vi phân cấp và quá trình phân cấp.
Chức năng, tổ chức hoạt động và năng lực thực thi của chính
quyền cấp xã
Về chức năng và tổ chức hoạt động
cách phân chia cần lƣu tâm khi nghiên cứu về chính quyền cấp xã. Tuy
nhiên, trên thực tế, cách phân chia của tác giả cũng tạo ra sự khó khăn khi áp
dụng cách thức phân chia này vào nghiên cứu thực tế hoạt động quản lý nhà
nƣớc ở cấp xã. Chẳng hạn nhƣ đối với lĩnh vực tƣ pháp, hộ tịch. Ở lĩnh vực
này, việc đăng ký hộ tịch, tƣ pháp đƣợc xếp vào nhóm thứ ba. Cũng ở lĩnh
vực này, hoạt động quản lý về hộ tịch, tƣ pháp lại đƣợc xếp vào nhóm thứ
hai. Nói cách khác, cùng một lĩnh vực là hộ tịch, tƣ pháp, nhƣng lại thuộc
vào hai nhóm khác nhau. Về bản chất hai nhóm công việc này của lĩnh vực
9
hộ tịch, tƣ pháp có mối quan hệ với nhau, rất khó tách riêng thành hai nhóm
nhƣ vậy.
Hà Quang Thanh (2012) tập trung vào vấn đề “Hoàn thiện cơ chế pháp
lý về tổ chức và hoạt động đối với chính quyền địa phƣơng ở cơ sở”. Theo
tác giả, chính quyền địa phƣơng ở cơ sở chính là cấp xã. Trong nghiên cứu
của mình, tác giả, trên cơ sở các quy định của pháp luật, cụ thể và quan
trọng nhất là Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003
và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ về chức danh, số lƣợng,
một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn
và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, chỉ ra một số bất
cập: quy định thẩm quyền trách nhiệm của các cấp ở chính quyền địa
phƣơng là khá tƣơng đồng, áp dụng và vận hành chung cho hoạt động chính
quyền ở đô thị cũng nhƣ chính quyền ở nông thôn; quy định về thẩm quyền
trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch uỷ ban nhân dân đối với ba
cấp của chính quyền địa phƣơng chƣa cụ thể; các quy định pháp luật cho sự
vận hành nội bộ hệ thống chính quyền chƣa rõ ràng và thống nhất; chế độ
chính sách theo pháp luật đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa
phƣơng, đặc biệt đối với chính quyền cấp xã có thể khẳng định với nhiều bất
cập; chiến lƣợc đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức cho chính quyền cơ sở
chƣa hiệu quả và đều khắp, kết quả đào tạo chƣa bù đắp đƣợc sự hụt hẫng về
phƣơng tự chủ. Tác giả điểm qua mô hình tổ chức chính quyền địa phƣơng ở
Việt Nam, đồng thời đƣa ra những kiến nghị đối với việc xây dựng mô hình
chính quyền địa phƣơng ở Việt Nam. Theo tác giả chính quyền địa phƣơng
đƣợc hiểu là chính quyền cấp tỉnh, huyện và xã. Trên cơ sở phân tích các
văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1945 đến này, tác giả nhận định rằng,
chính quyền địa phƣơng ở Việt Nam đang đƣợc tổ chức theo mô hình tập