Đánh giá tiềm năng của việc xã hội hóa dịch vụ công cộng ở việt nam trong tương lai - Pdf 25

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG
ĐỀ TÀI:
Đánh giá tiềm năng xã hội hoá dịch vụ công
trong tương lai
Học viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Lớp Cao học Hành chính công 16M
Huế, năm 2013
1
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU 1
II. NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ CÔNG VÀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG- CƠ
SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN 2
1. Quan điểm về dịch vụ công 2
2. Quan điểm về xã hội hóa dịch vụ công 5
3. Quan điểm của Đảng về xã hội hóa dịch vụ công 6
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG
Ở VIỆT NAM 9
1. Những kết quả đã làm được 9
2. Những tồn tại, hạn chế 10
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở
VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI 11
III. KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU TAM KHẢO
2
I. MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới cung ứng dịch
vụ công là xu hướng tất yếu của nền hành chính hiện đại. Để đạt được thành

quốc phòng, cấp phép hộ khẩu, hộ tịch ). Còn ở Italia, dịch vụ công được giới
hạn ở hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh
môi trường). Các hoạt động cấp phép hộ khẩu, hộ tịch lại do cơ quan hành chính
thực hiện.
Ở Việt Nam hiện nay đang có xu hướng tách hoạt động dịch vụ công ra
khỏi hoạt động hành chính công quyền nhằm xóa bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải
cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi tiềm tàng trong xã hội và nâng cao chất
lượng của dịch vụ công phục vụ nhân dân.
Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp
cận ở nhiều góc dộ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục nhu
cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước có
trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội.Ngay cả khi nhà nước chuyển
giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước
2
vẫn giữa vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch
vụ này và khăc phục các bất cập của thị trường.
Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể hiểu là những hoạt động
phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng , của xã
hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điêu kiện cho khu vực
tư nhân thực hiện.
1.2. Đặc điểm dịch vụ công
Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc
điểm, tính chất khác nhau, song chúng có đặc điểm chung cơ bản như sau:
Thứ nhất, dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi
ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp,
địa vị xã hội và đảm bảo công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng
rộng rãi. Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ
công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước. Từ đó có thể thấy tính
kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ
công.

trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận , đăng ký, công chứng, thị thực, hộ
tịch,…Người dân được hưởng dịch vụ này không theo
quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua hẹ thống lệ phí
hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước . Phần lệ phí này mang tính chất
hỗ trợ cho ngân sách nhà nước.
 Dịch vụ công cộng: Đây là loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng
đồng , xã hội. Trong đó dịch vụ công cộng có thể chia làm hai loại chính:
 Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi
xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục , văn hóa, khoa học, chăm sóc sức
khỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sin xã hội. Xu hướng chung hiện nay trên
thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể
làm được hoặc không muốn làm, nên nà nước đã chuyển giao một phần việc
cung ứng dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
 Dịch vụ công ích : Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch
vụ cơ bản thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý
4
rác thải, cấp nước sạch, vận tải côn cộng đô thị, phòng chống thiên tai…chủ yếu
do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở
do khu vực tư nhân đứng ra đàm nhiệm như vệ sinh môi trường , thu gom vận
chuyển rác thải ở một số đo thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông
thôn…
2. Quan điểm về xã hội hóa dịch vụ công
1.1. Khái niệm
Dịch vụ công là những dịch vụ thiết yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của tàn xã hội nên nhà nước với tư cách bộ máy công quyền có nhiệm vụ
đảm bảo duy trì trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển phải là nười chịu trách
nhiệm đảm bảo cung cấp dịch vụ công đó cho xã hội.Ở Việt Nam nâng cao chất
lượng dịch vụ công là một trong những đòi hỏi quan trọng của quá trình CNH,
HĐH hướng tới xây dựng pháp quyền XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chương trình cải cách tỏng thể hành

và hiệu quả. Gắn kết nhuần nhuyễn hai chức năng quản lý và phục vụ là khoa
học và nghệ thuật quản lý, là văn hóa và đạo đức của nhà nước. Đó là con đường
để nhà nước trở thành một nhà nước tiết kiệm, trong sạch mà kết quả chung là đi
đến "xã hội lớn, nhà nước nhỏ", xã hội ngày càng tự chủ hơn, nhà nước ngày
càng hiệu quả hơn, gần dân hơn.
Để nâng cao dần hiệu quả dịch vụ công, nhà nước phải xác định rõ từng
thời kỳ: loại dịch vụ công nào nhà nước cần trực tiếp làm, loại nào ủy quyền cho
tổ chức ngoài nhà nước và loại nào nhà nước cần phối hợp với các tổ chức ấy.
Nhìn chung, nhà nước chỉ trực tiếp cung ứng dịch vụ công nào mà khu vực
ngoài nhà nước không thể làm thay hay không muốn làm.
3. Quan điểm của Đàng về xã hội hóa dịch vụ công
Tư tưởng về xã hội hoá dịch vụ công được hình thành từ Nghị quyết Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (Khoá VII) “đa dạng hoá các
hình thức tổ chức chăm sóc sức khoẻ (nhà nước, tập thể, nhân dân) trong đó y tế
nhà nước là chủ đạo” và được chính thức đưa vào trong văn kiện Đại hội Đảng
VIII “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà
nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp,
6
các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải
quyết các vấn đề xã hội.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định: “Các chính sách xã hội được
tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp,
huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân
dân, các tổ chức xã hội”. Văn kiện Đại hội Đảng X tiếp tục cụ thể hóa: “Đẩy
mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo” và “Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn
hóa, nghệ thuật, thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về
tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã
khẳng định “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục
thể thao, đặc biệt là cho những vùng nghèo, người nghèo, bảo đảm những dịch

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG
Ở VIỆT NAM
1. Những kết quả đã làm được
Chính phủ đã nghiên cứu ban hành các chính sách và quy định làm cơ sở
cho việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các nguồn lực tham
gia vào hoạt động phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao.
Kết quả là hệ thống các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập ngày càng
phát triển, đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu của xã hội trong các lĩnh vực giáo
dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao… tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn
người. Mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập đã được
mở rộng ở các cấp học. Trình độ đào tạo; tỷ lệ học sinh, sinh viên ở các trường
ngoài công lập ngày càng tăng. Nhiều cơ sở y tế ngoài công lập được thành lập ở
các địa phương, thực hiện cấp cứu, khám chữa bệnh cho hàng triệu lượt người,
góp phần giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập. Các cơ sở cung ứng
dịch vụ văn hóa và thể dục thể thao ngoài công lập tăng nhanh, thu hút được
nhiều nguồn lực, nhiều thành phần kinh tế trong xã hội tham gia.
Thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy động được
nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho các lĩnh vực
dịch vụ công, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước tập trung đầu tư phát triển
các cơ sở công lập phục vụ những vùng nghèo, người nghèo và đảm bảo những
dịch vụ cơ bản như: giáo dục phổ cập; các chương trình mục tiêu quốc gia; y tế
dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các đối tượng chính sách,
người nghèo Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích thành lập các cơ sở ngoài
công lập, mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở này;
thúc đẩy việc hình thành cơ chế cạnh tranh giữa các loại hình tổ chức cung ứng
dịch vụ công lập và ngoài công lập nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phục
vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm và mở rộng sự tham gia của toàn dân vào sự
nghiệp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao… của đất nước.
9
Việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập đòi

ngược trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế của nước ta. Đây là tư tưởng cơ bản trong việc hoạch định
các chính sách, biện pháp thực hiện xã hội hóa trong chương trình cải cách hành
chính của Việt Nam
Thứ hai, việc thực hiện xã hội hóa trong một số lĩnh vực như giáo dục và
đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao…được chú trọng thực hiện trước tiên,
sau đó lan tỏa lan tỏa ra các dịch vụ công khác tạo nên một chương trình cải tạo
sâu rộng. Nếu theo cách phân loại dịch vụ công thành:(1) dịch vụ hành chính
công;(2) dịch vụ sự nghiệp công;(3) dịch vụ công ích , thì có thể thực hiện xã
hội hóa đối với phần lớn dịch vụ sự nghiệp công, nhiều dịch vụ công ích và một
số dịch vụ hành chính công. Lĩnh vực dịch vụ công ngày càng được mở rộng xã
hội hóa, hướng đến việc “mở của” cho sự tham gia của các cơ sở ngoài công lập
phù hợp với bối cảnh kinh tế- xã hội trong từng thời điểm. Điều này sẽ dẫn đến
có sự thay đổi về cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập như: hực
hiện chuyển đổi từ việc giao dự toán ngân sách nhà nước như hiện nay sang thực
hiện phương thức đặt hang , mua hang, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự
nghiệp công.
Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công sẽ được thực hiện trong mối quan hệ
gắn kết với các thành phần kinh tế - xã hội khác như: phát triển các thành phần
kinh tế; phát triển thị trường; hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường dân chủ; đẩy
mạnh sự tham gia của người dân hướng đến mục tiêu đẩy nhan sự phát triển
toàn diện của đát nước
Thứ tư,Tốc độ tăng trưởng nhan của Việt Nam đã khiến phát triển hạ tầng
không theo kịp và tạo ra rào cản lớn cho tiếp tục tăng cường và đầu tư vào xuất
khẩu. Từ nay đên năm 2020 ước tính cần phải đầu tư 200 tỉ USD cho xây mới
đường xá, cầu cống, cảng , nước sạch, điện và các hạ tầng khác để có thể duy trì
11
tốc độ tăng trưởng. Chính phủ Việt Nam không thể tài trợ toàn bộ khoản đầu tư
này từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc vay vốn ODA và do vậy hình thức đầu tư
PPP là một lựa chọn thay thế.Hợp tác công tư và được coi là giải pháp chủ yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status