PHẦN MỞ ĐẦU
Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước can thiệp vào
việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ công
là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức năng vốn có của
Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, tòa
án…cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Dịch vụ
công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của
các tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm
mục tiêu hiệu quả, công bằng.
Các loại hình dịch vụ công bao gồm:
Dịch vụ công do các cơ quan hành chính cung ứng: giấy phép, công
chứng
Dịch vụ sự nghiệp công: y tế, giáo dục, văn hoá, khoa học, công nghệ
do các tổ chức sự nghiệp cung ứng.
Dịch vụ kinh tế công ích: vệ sinh môi trường, nước sạch, giao thông
công cộng do các DN hoạt động công ích cung ứng.
Dịch vụ công phục vụ kinh tế: khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm
Trước giai đoạn đổi mới (năm 1986), Chính phủ kiểm soát hầu như tất
cả các hoạt động dịch vụ, từ thương mại, tài chính, du lịch và vận tải tới giáo
dục, y tế, dịch vụ quản lý, an ninh và quốc phòng. Hầu như tất cả các dịch vụ
đều có thể được coi là “dịch vụ công” vì đều do chính phủ và các doanh
nghiệp Nhà nước cung cấp, không vì mục tiêu lợi nhuận. Khu vực tư nhân
chỉ được phép tham gia cung cấp một số dịch vụ phục vụ tiêu dùng cuối
cùng với quy mô nhỏ và hầu như không có tác động tới toàn bộ nền kinh tế.
Kể từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Tư tưởng về xã hội hoá dịch vụ công
được hình thành từ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ tư (Khoá VII) “đa dạng hoá các hình thức tổ chức chăm sóc sức khoẻ
(nhà nước, tập thể, nhân dân) trong đó y tế nhà nước là chủ đạo” và được
chính thức đưa vào trong văn kiện Đại hội Đảng VIII, tiếp đến Nghị quyết
Đại hội Đảng IX, X khẳng định: “Các chính sách xã hội được tiến hành theo
tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động
cấp nhờ sự hợp tác giữa nhà nước và người dân như cung cấp các dịch
vụ cơ bản như giáo dục, y tế, nước, vệ sinh cho cộng đồng với sự phối
hợp các nỗ lực giữa các cơ quan Chính phủ, Tổ chức phi Chính phủ và tổ
chức cộng đồng.
1.2. Khái niệm xã hội hóa.
Trong những năm qua ở nước ta, có một thực tế là thuật ngữ “xã
hội hoá” được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng và Nhà
nước cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng cho đến
nay chưa có một khái niệm (định nghĩa) thống nhất về “xã hội hoá”,
hoặc chí ít là chưa có sự giải nghĩa tương đối đầy đủ về nội hàm của
thuật ngữ này. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy nhũng sự giải nghĩa
thuật ngũ' “xã hội hoá” khi nó được ghép với các thuật ngũ’ khác như:
“xã hội hoá sản xuất”; “xã hội hoá cá nhân”; “xã hội hoá hình thức”; “xã
hội hoá thực tế”; “xã hội hoá thặng dư” Qua nghiên cứu các thuật ngữ
trên có thế suy ra một cách khái quát rằng: “Xã hội hoá” một hoạt động
nào đó chính là sự gia tăng tính chất “xã hội” của hoạt động ấy thông
qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những
điều kiện và trong khuôn khổ cơ chế nhất định. Điều kiện và cơ chế cụ
thể như thế nào là phụ thuộc vào bối cảnh của xã hội hoá.
3
1.3. Xã hội hóa dịch vụ công.
Xã hội hóa dịch vụ công là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi
của nhân dân trong toàn xã hội vào hoạt động cung cấp dịch vụ công nhằm
từng bước nâng cao mức hưởng thụ về dịch vụ của nhân dân.
Là việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân
đối với việc tạo lập và cải thiện việc cung cấp dịch vụ công; đa dạng hóa các
hình thức cung cấp dịch vụ, mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân
tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Đó là hoạt động nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác trong việc cung
ứng các dịch vụ công đáp ứng các đòi hỏi của xã hội.
giữa khu vực công và khu vực tư.
Và các lí do riêng từ chính bản thân từ phía nhà nước như :
- Tiết kiệm ngân sách
- Năng lực bộ máy cung cấp dịch vụ
- Yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và chuyên nghiệp của khu vực
công
- Đảm bảo tính công khai và minh bạch
2. TIỀM NĂNG CỦA VIỆC XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG
TRONG TƯƠNG LAI.
2.1. Tiềm năng của việc xã hội hóa.
Nếu dịch vụ hành chính công là những hoạt động của nhà nước để
định hướng, điều tiết các hành vi của công dân và tổ chức trong xã hội theo
một trật tự do nhà nước quy định thì dịch vụ công cộng là nhóm dịch vụ bảo
đảm các điều kiện thiết yếu phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng và xã
hội. Cùng với sự phát triển dịch vụ sự nghiệp công như : giáo dục, đào tạo, y
tế, văn hóa, nghiên cứu khoa học thì dịch vụ kinh tế-kỹ thuật công với dịch
vụ cấp điện, cấp nước sạch, thủy lợi, vệ sinh môi trường cũng không ngừng
phát triển với các định hướng tốt với các tiến trình xã hội hóa dịch vụ công
được thể hiện trong Chương trình CCHHNN giai đoạn 2011-2020 với các
mục tiêu cụ thể như : cải cách thể chế, xây dựng nâng cao chất lượng đội
ngũ CBCCVC, nâng cao chất lượng dịch vụ công. Trong tương lai xã hội
hóa dịch vụ công cộng sẽ được.
- Hệ thống các văn pháp lý của nhà nước vễ xã hội hóa dịch vụ công
ngày càng được đầy đủ và hoàn thiện.
5
- Trong xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội ngày càng mạnh mẽ, cải
cách dịch vụ công đang trở thành một nội dung quan trọng trong cải cách
hoạt động của Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực hoạt động của
Nhà nước, làm cho Nhà nước đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công
dân.
nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công trong tương lai
Bên cạnh những ưu điểm đã đề cập ở phần trên thì hoạt động xã hội
hóa dịch vụ công cộng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như:
- Qúa trình triển khai xã hội hóa dịch vụ công cộng diễn ra trong một
thời gian dài nhưng vẫn chậm phần lớn các dịch vụ công vẫn được các cơ
quan nhà nước quản lí, việc tham gia cung cấp dịch vụ công của khu vực
ngoài nhà nước vẫn còn khá hạn chế và phát sinh nhiều vấn đề phải giải
quyết.
- Mức độ xã hội hóa dịch vụ công cộng diễn ra không đồng đều ở các
ngành, lĩnh vực khác nhau và giữa các vùng khác nhau.Nguyên nhân chính
là nhà nước vẫn còn thiếu những chính sách khuyến khích rõ ràng và cụ thể,
chưa có quy hoạch chung để định hướng và lên kế hoạch triển khai xã hội
hóa cho các ngành, lĩnh vực khác nhau và giữa các vùng khác nhau.
- Việc kiểm soát chất lượng dịch vụ và sử lý vi phạm của các đơn vị
cung cấp dịch vụ ngoài nhà nước chưa được thục hiện chặc chẽ và nghiêm
túc.Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do thiếu các quy định cần thiết
và ý thức trách nhiệm của đội ngũ CBCC làm nhiệm vụ kiểm soát chưa tốt.
Các nhà đầu tư thường chú trọng nhiều đến lợi nhuận, luôn có xu hướng đẩy
giá dịch vụ lên cao để tận thu, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh giá tùy tiện,
chất lượng dịch vụ yếu, cơ chế tài chính không minh bạch.Ví dụ nhiều
trường mầm non tư thục không đủ tiêu chuẩn về diện tích, sử dụng thực
phẩm không an toàn, các điều kiện chăm sóc không đảm bảo; các cơ sở
khám chữa bệnh không đáp ứng đủ các yêu cầu về chuyên môn, trang thiết
bị; một số bệnh viện đầu tư kinh phí và nhân lực vào phát triển các khu dịch
vụ điều trị theo yêu cầu để có thể thu thêm tiền mà bỏ ngỏ một số khoa
phòng cần phải đầu tư cho đạt đủ yêu cầu, lạm dụng xét nghiệm kỹ thuật cao
được mua máy móc nguồn vốn xã hội hóa
Từ những thách thức đó để phát huy hết tiềm năng của việc xã hội hóa
dịch vụ công cộng thì vai trò quản lý và cung cấp dịch vụ của nhà nước cần có
sự thay đổi bên cạnh những việc giảm bớt tối đa việc trực tiếp cung cấp dịch vụ
trường học tốt hơn để phục vụ bệnh nhân tốt hơn và đào tạo học sinh tốt
hơn.
9