TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống và công nghệ trồng cây dầu mè Jatropha
curcas L. để sản xuất diesel sinh học góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường thành
phố” đã được thực hiện do Ban quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao thành phố
Hồ Chí Minh chủ trì.
Khảo sát về giống nhập nội, với 6-7 giống thì giống Thái Lan 2 là giống có
triển vọng nhất có thể trồng trên các vùng Tây nguyên, Nam Trung bộ và Đông nam
bộ. Sau các năm nghiên cứu, thì mật độ cây Jatropha curcas L. với 3333 cây/ha (2,0m
x 1,5m) là thích hợp nhất ở tất cả các địa phương thí nghiệm. Lượng phân bón 50N +
35 P
2
O
5
+ 35 K
2
O phù hợp cho cây Jatropha tại nền đất đỏ Bazan tại Đăk Lăk và Kon Tum.
Lượng phân 100N + 70 P
2
O
5
+ 70 K
2
O phù hợp cho cây Jatropha tại nền đất xám, đất cát pha
bạc màu tại các điểm thí nghiệm ở Bình Dương, Nhinh Thuận, Bình Thuận.
Sử dụng nồng độ Javel từ 25-50% trong thời gian 10-20 phút thích hợp cho khử
trùng mẫu nuôi cấy in vitro đối với mầm chồi ngủ của các chồi non 6 tháng tuổi cây
Jatropha curcas L. Môi trường MS có bổ sung Kinetin 1,0 mg/l thích hợp cho tạo cụm
chồi trong việc dòng hóa nuôi cấy in vitro các mầm chồi ngủ của các chồi non 6 tháng
tuổi cây Jatropha curcas L. M (0,5-1,0
mg/l) thích hợp cho sự hình thành và phát triển rễ bất định từ chồi tái sinh. Nồng độ
2
O
5
+ 70 K
2
O is suitable for Jatropha growth on
poor soil of Binh Duong, Ninh Thuan and Binh Thuan provinces.
The dose of Javel with 25-50% treated 10-20 min. is suitable for sterilzing
specimens of Jatropha curcas unsprout buds of 6-month stems for in vitro. The media
of MS added Kinetin 1,0 mg
-lit
are suitable for the formation of PLB when culturing
tissue of Jatropha curcas unsprout buds of 6-month stems. The media of MS added
IBA at low doses (0,5-1,0 mg
-lit
) are suitable for the formation of unidentified root
from regenerated buds. The TDZ dose of 0,5 mg
-lit
is the best for the formation of PLB
from Thin Cell Layer of Jatropha leaf. The BA at low dose of 1,0 mg
-lit
is very
important to stimulate the inducing formation of good scar-tissue from the leaf
specimen of Jatropha. The IBA dose of 0,1% is suitable for formation roots on
Jatropha cutting. The media of coconut coir is the best for Jatropha nursery both in
vitro and cutting.
CHƢƠNG II. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
34
I. Điều tra, sưu tập và khảo nghiệm giống
30
1. Điều tra, nhập nội các giống có triển vọng.
30
2. Khảo nghiệm một số giống Jatropha
30
II. Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Jatropha trên các loại đất khác nhau của 3
vùng sinh thái
37
1. Nghiên cứu mật độ trồng
37
2. Nghiên cứu về liều lượng phân bón
39
III. Trồng thử nghiệm mô hình đối với giống giống nhập nội có triển vọng
40
IV. Nghiên cứu một số kỹ thuật nhân giống in vitro, ex vitro
41
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
47
I. Điều tra, nhập nội và khảo nghiệm các giống có triển vọng
47
1. Điều tra, nhập nội các giống có triển vọng
47
2. Khảo nghiệm giống thu thập tại các địa phương và các giống nhập nội.
65
2.1. Kết quả khảo nghiệm tại Đăk Lăk
65
2.2. Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Jatropha tại tỉnh KonTum
103
2.3 Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Jatropha tại tỉnh Ninh Thuận
107
2.4. Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Jatropha tại tỉnh Bình Thuận
112
2.5. Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Jatropha tại tỉnh Bình Dương
116
III. Trồng thử nghiệm mô hình 02 ha tại các địa phương
121
IV. Nghiên cứu một số kỹ thuật nhân giống in vitro, ex vitro
122
1. Nhân giống bằng phương pháp cắt đốt tạo chồi bên
122
2. Khả năng tạo chồi từ tế bào lớp mỏng (TCL)
131
3. Khả năng tạo mô sẹo, sinh phôi, tái sinh của cây.
135
4. Khả năng ươm cây con cấy mô ở vườn ươm, thử nghiệm một số loại giá thể
144
5. Nhân giống bằng phương pháp giâm cành trong vườn ươm
146
CHƢƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
152
I. Kết luận
152
II. Đề nghị
153
TÀI LIỆU THAM KHẢO
154
: Giberelin
IAA : Indol-3-acetic acid
IBA : Indol-3-butyric acid
JCL : Jatropha curcas L.
MS : Murashige & Skoog (1962)
NLSH : Nhiên liệu sinh học
TCL : Thin Cell Layer – phương pháp nuôi cấy lớp mỏng tế bào thực
vật
TDZ : Thidiazuron
W : Mc Cown
2,4-D : 2,4-Dichlorophenoxyacetic acid
6
DANH SÁCH BẢNG
SỐ
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG
1
70
10
Khối lượng 100 hạt và hàm lượng dầu trong hạt của các giống
71
11
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống sau 7 tháng trồng tại
Bình dương
72
12
Một số chỉ tiêu năng suất của các giống thí nghiệm tại Bình
Dương
72
13
Khối lượng 100 hạt và hàm lượng dầu trong hạt của các giốngthí
nghiệm tại Bình Dương
73
14
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống thí nghiệm tại Ninh
thuận
74
15
Một số chỉ tiêu năng suất của các giống tại Ninh thuận
74
16
Khối lượng 100 hạt và hàm lượng dầu trong hạt của các giống tại
Ninh thuận
75
17
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống thí nghiệm tại Bình
thuận
25
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ, hoa,quả,
quả chín và giao tán tại KonTum
83
26
Năng suất của các mật độ
84
27
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây dầu mè trong
năm thứ hai tại KonTum
85
28
Một số chỉ tiêu sinh trưởng sau 6 tháng trồng
86
29
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ hoa, quả,
quả chín và giao tán tại Phước Mỹ, Ninh Thuận vụ đầu tiên
87
30
88
31
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất cuẩ cây dầu mè trong
năm thứ hai tại Ninh Thuận
89
32
Một số chỉ tiêu sinh trưởng sau 6 tháng trồng
91
33
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ hoa, quả,
99
42
Số quả/cây ở các công thức thí nghiệm
100
43
Năng suất hạt ở các công thức
100
44
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây dầu mè trong
năm thứ hai tại ĐắkLắk
101
45
Trọng lượng hạt và hàm lượng dầu trong hạt
102
46
Một số chỉ tiêu sinh trưởng sau 7 tháng trồng tại KonTum
103
47
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ hoa, quả,
quả chín và giao tán tại KonTum
104
48
Số quả/cây của các công thức
105
49
Năng suất hạt ở các công thức thí nghiệm năm thứ nhất
105
50
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây dầu mè trong
năm thứ hai tại KonTum
58
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ, hoa, quả,
quả chín và giao tán (ngày)
113
59
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây dầu mè ở
các liều lượng phân bón tại Bình Thuận, vụ đầu tiên
114
60
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây dầu mè trong năm thứ
hai
115
61
Trọng lượng hạt và hàm lượng dầu trong hạt
116
62
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các công thức sau 7 tháng trồng
tại Trung tâm Nghiên cứu Mía đường Bình Dương
117
63
Thời gian sinh trưởng từ tạo tán định hình đến ra nụ hoa,quả, quả
chín và giao tán (ngày)
118
64
Một số chỉ tiêu năng suất của cây dầu mè
119
65
Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất cây dầu mè trong năm thứ
hai
120
mô sẹo
137
75
139
9
76
Ảnh hưởng của KIN kết hợp với IBA hoặc 2,4-D lên sự
hình thành mô sẹo từ mẫu lá ex vitro
140
77
Ảnh hưởng của 2,4-D và KIN lên sự hình thành phôi soma
từ mô sẹo
142
78
Ảnh hưởng của giá thể lên cây Jatropha curcas L. in vitro
khi ra vườn ươm.
144
79
Ảnh hưởng của nồng độ IBA lên khả năng ra rễ của cành giâm
cây dầu mè (Jatropha curcas L.) trên giá thể đất sạch sau 14
ngày giâm cành
146
80
Ảnh hưởng của nồng độ NAA lên khả năng ra rễ của cành giâm
cây dầu mè (Jatropha curcas L.) sau 14 ngày giâm cành
147
10
DANH SÁCH HÌNH
SỐ
TÊN HÌNH ẢNH
TRANG
1
Những vùng phân bố chính của Jatropha curcas trên thế
giới.
14
2
Một số hình ảnh thật của cây Jatropha curcas L.
16
3
Hình thái của cây Jatropha curcas L.
17
4
Các sản phẩm từ cây Jatropha curcas L.
22
5
Mẫu khử trùng chồi non cây Dầu mè ở nghiệm thức
Javel 25%, 10 phút nẩy chồi khi nuôi cấy trong điều kiện
in vitro
91
6
14
Sự tăng trưởng của chồi cây dầu mè
139
15
Sự hình thành mô sẹo có khả năng sinh phôi từ mẫu lá
147
16
Sự hình thành phôi soma từ mô sẹo có khả năng sinh
phôi
150
17
Ảnh hưởng của giá thể lên khả năng ra rễ của cây in
vitro Jatropha Curcas L. khi ra vườn ươm
150
18
Ảnh hưởng của giá thể lên khả năng ra rễ của cành giâm
cây Jatropha Curcas L.
151
19
Ảnh hưởng của nồng độ IBA lên khả năng ra rễ của
cành giâm cây Dầu mè (Jatropha curcas L.)
153
11
12
- Liều lượng phân bón
3. Trồng thử nghiệm mô hình đối với giống nhập nội có năng suất hạt và hàm lượng
dầu cao. Diện tích trồng 2 ha.
Theo dõi các chỉ tiêu: Năng suất hạt; Hàm lượng dầu.
4. Nghiên cứu một số kỹ thuật nhân giống in vitro, ex vitro (giâm cành, gieo hạt) để
nhân nhanh những cây đầu dòng của những giống đã tuyển chọn được, gồm các thí
nghiệm:
- Nhân giống bằng phương pháp cắt đốt tạo chồi bên.
- Khả năng tạo chồi từ tế bào lớp mỏng (TCL).
- Khả năng tạo mô sẹo, sinh phôi, tái sinh của cây: mẫu cấy, môi trường.
- Khả năng ươm cây con cấy mô ở vườn ươm, thử nghiệm một số loại giá thể.
- Nhân giống bằng phương pháp giâm cành trong vườn ươm.
Sản phẩm của Đề tài:
- Báo cáo kết quả nghiên cứu giống và kỹ thuật trồng cây Jatropha curcas L.
- Báo cáo kết quả quy trình nhân giống In-vitro cây Jatropha curcas L.
Các loài trong chi Jatropha bao gồm (Lele, Satish 2006):
Jatropha cuneata: Thân thường được người Seri ở Sonora, Mexico dùng làm
các đồ đựng như rổ, giỏ.
Jatropha curcas L.: Dầu mè… được dùng làm biodiesel, xà phòng, sản xuất
nến, phân hữu cơ… Trong nhiều tài liệu khoa học quốc tế Jatropha curcas L được viết
tắt là JCL.
14
Jatropha gossypifolia: Dầu mè tía, dầu lai vải. Quả và lá chứa chất độc. Nó
là một trong các loài cỏ dại chính tại Australia.
Jatropha integerrima Jacq: Dầu lai lá đơn (nhất chi mai, hồng mai). Một loại
cây cảnh trong khu vực nhiệt đới, ra hoa màu đỏ tươi gần như quanh năm.
Jatropha multifida L.: Bạch phụ tử. Hoa màu đỏ tươi với các lá xẻ thùy đặc
trưng.
Jatropha podagrica: Ngô đồng cảnh, được dùng để thuộc da và sản xuất
thuốc nhuộm màu đỏ tại Mexico và tây nam Hoa Kỳ.
3. Phân bố
Theo vùng khí hậu, Jatropha curcas thấy ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,
nóng, nó còn có thể sống tốt ở vùng nhiệt độ thấp và có thể chịu lạnh nhẹ. Nhu cầu
nước của nó rất thấp và có thể chịu hạn trong một thời gian dài bằng cách rụng lá để
giảm lượng thoát hơi nước ( , 2006; , 2008).
16 Hình 3: Hình thái của cây Jatropha curcas L.
a-Nhánh hoa, b-vỏ cây, c- gân lá, d- nhuỵ, e-nhị, f-mặt cắt ngang của trái chưa
trưởng thành, g- trái, h-mặt cắt dọc của trái
4.2. Sinh thái, sinh trƣởng và phát triển
Trên thế giới, hầu hết dầu mè xuất hiện ở những vùng khô hạn của savan hay
rừng lá kim. Về những yêu cầu ánh sáng, cây đòi hỏi nhiều nắng. Tuy nhiên cũng có
nhiều tài liệu cho thấy nó sinh trưởng tốt hơn ở những vùng có bóng râm. Sự sinh
trưởng và năng suất thay đổi theo lượng mưa và nhiệt độ. Sinh trưởng trên đất thoát
nước và thoáng khí, thích nghi với vùng đất khó canh tác do nghèo dinh dưỡng. Trên
đất nặng, sự hình thành rễ giảm. Dầu mè sinh trưởng ở hầu khắp các nơi, thậm chí trên
cả đất sỏi, đất cát và đất mặn ( , 2006; , 2008).
♦ Lƣợng mƣa.
Dầu mè là loại cây chịu hạn tốt, đã có ghi nhận nó sống được nhiều năm ở vùng
không có mưa ở Cape Verde. Cây đòi hỏi lượng mưa tối thiểu khoảng 250mm (có thể 17
được cung cấp dưới dạng sương như trong trường hợp Cape Verde). Chúng phát triển
tốt với lượng mưa trên 500mm. Nhưng lượng mưa tối ưu cho chúng là 1200mm.
xăng, dầu khoáng, tiến tới xây dựng ngành “xăng dầu sạch” ở quốc gia mình. Hiện có
khoảng 50 nước trên thế giới khai thác và sử dụng ở các mức độ
khác nhau. Nhìn chung, các nước trên thế giới đi theo hai hướng phát triển
: ethanol nhiên liệu, được sản xuất chủ yếu từ ngô (Mỹ), mía đường (Brazil),
18
sắn (Thái Lan), còn biodiesel sản xuất từ cải dầu, hướng dương (châu Âu), cọ dầu
(Đông Nam Á), dầu mỡ phế thải, dầu mè, tảo. Năm 2003 toàn thế giới đã sản xuất
khoảng 38 tỷ lít ethanol thì đến năm 2005 đã sản xuất được 50 tỷ lít ethanol (trong đ
) và đến 2012 là khoảng 80 tỷ lít ethanol. Biodiesel
nguồn gốc động thực vật được sản xuất năm 2005 đạt 4 triệu tấn và đến năm 2010 tăng
lên đến 20 triệu tấn. Tại châu Âu , nhiều công ty đã nghiên cứu sản xuất biodiesel từ
dầu đậu nành, dầu hạt cải, dầu hướng dương. Các nước như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban
Nha, Áo, Đan Mạch đ .
Giáo sư Klause Becker ở Đại học Stuttgart đã nhận đơn đặt hàng của Tập đoàn ôtô
Daimler Chrysler của Đức nghiên cứu về cây JCL. Giáo sư cho biết, cách đây 15 năm,
ông là một trong những người đầu tiên ở châu Âu cùng với một hãng tư vấn của Áo đã
tiến hành nghiên cứu cây JCL ở Nicaragua. Loài cây này đã có cách đây 70 triệu năm
nhưng chẳng được ai quan tâm. Sau khi có dự án của Daimler Chrysler, đã dấy lên cơn
sốt JCL trên toàn thế giới. Biodiesel từ JCL đã được sử dụng vào các loại xe thông
thường. Dự báo đến năm 2030, xe ôtô trên toàn thế giới từ 500 triệu chiếc hiện nay
trên 900 triệu chiếc, trong đó Trung Quốc có hơn 190 triệu chiếc. Biodiesel từ JCL là
loại dầu cháy một cách sạch sẽ và sạch hơn bất kỳ một loại chất đốt diesel nào khác.
Cây JCL trồng được trên đất bị thoái hóa, sau 10 – 15 năm, có thể tái sử dụng diện tích
này để trồng các loại cây khác vì cây JCL đã chặn đứng được tình trạng rửa trôi. GS.
Klause Becker còn cho rằng: “Ai có thể nói lên được những cái xấu, cái bất lợi của cây
JCL, tôi xin thưởng tiền cho người đó. Các vị có thể vặn vẹo đủ thứ, lật ngược, lật
xuôi, nhưng quả thật các vị không thể bới móc được điều gì xấu liên quan đến loại cây
này”. Về hiệu quả giảm ô nhiễm môi trường, theo ông Boon Thoong Ungtrakul, phụ
cây Cọ dầu, còn cây JCL sẽ trồng trên các loại đất khô cằn nhưng mức đầu tư chỉ bằng
10% so với cây Cọ dầu. Nhà khoa học Robert Manurung, Giám đốc Trung tâm nghiên
cứu Công nghệ sinh học thuộc Viện Công nghệ Bandung cho biết, một số công ty
nước ngoài đang xúc tiến dự án bao tiêu 1 triệu ha JCL với nông dân của 3 tỉnh Papua,
Kalimantan và Nusa Tenggara. Mới đây, một công ty Hà Lan đã đặt mua 1 triệu tấn
dầu JCL nguyên chất. Manurung và nhiều nhà nghiên cứu khác ở Indonesia dự báo
rằng, JCL sẽ sớm soán ngôi cây Cọ dầu, trở thành nguồn năng lượng có khả năng thay
thế một phần quan trọn nhiên liệu hóa thạch và dầu cọ, đồng thời có thể giúp nông dân
nghèo ở các tỉnh miền đông quanh năm khô hạn có cơ hội làm giàu. Theo Ủy ban quốc
gia về nghiên cứu phát triển NLSH từ cây JCL của I
( , 2006; ,
2008).
20
Ấn Độ đã xác định JCL là cây cho hạt có dầu thích hợp nhất để sản xuất
biodiesel. Từ năm 2001, nhiều bang ở Ấn Độ đã có chương trình khuyến khích trồng
JCL trên quy mô lớn ở các vùng đất hoang hóa, được nhà nước hỗ trợ giống và các
nguồn vật tư đầu vào nhằm tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững xã
hội nông thôn Ấn Độ. Trong tương lai, Ấn Độ tiếp tục mở rộng trồng JCL trên phạm
vi cả nước, đưa diện tích trồng trên 33 triệu ha, trong số hơn 133 triệu ha đất đang bị
bỏ hoang ( , 2006).
Myanma là nước phát triển trồng JCL với tốc độ nhanh. Đến 2006, diện tích
trồng JCL ở Myanma đã đạt 800.000 ha. Trung Quốc là nước quan tâm phát triển
mạnh JCL trong vài năm gần đây, chủ yếu là 7 tỉnh gồm Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân
Nam, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông và đảo Hải Nam; trong đó, ở khu tự trị
Quảng Tây, đến cuối năm 2007 đã trồng được 15 nghìn ha, dự định đưa lên khoảng 10
vạn ha trong vài năm tới. Các tỉnh khác có điều kiện đã có kế hoạch trồng JCL trên
quy mô lớn trong mấy năm tới. Theo ước tính của Giáo sư Klause Becker, cho đến
nay, cả thế giới đã trồng được khoảng 5 triệu ha JCL. Hiện nay, có khoảng 1000 nhóm
tiếp tục phải nhập khẩu các sản phẩm dầu mỏ, trong khi giá dầu luôn có áp lực rất lớn
đến phát triển kinh tế (Đặng Tùng, 2007; Thái Xuân Du, 2007; Nguyễn Công Tạn,
2008).
Để giải quyết vấn đề này, nhiều công trình nghiên cứu về s
đã được tiến hành: sản xuất biodiesel từ đậu tương, vừng, dầu phế thải; sản
xuất ethanol từ mía, ngô, lúa, sắn, Việc nghiên cứu và sản xuất nhiên liệu sạch sử
dụng cho giao thông vận tải đã được giao cho một số cơ quan như Petrolimex, Petro
Việt Nam, Đại học kỹ thuật Đà Nẵng, và đã có kết quả ứng dụng bước đầu đáng
khích lệ (Thái Xuân Du, 2007; Nguyễn Công Tạn, 2008). Thức ăn gia súc Dầu từ Ấn Độ Nến thắp
Hình 4: Các sản phẩm từ cây Jatropha curcas L. 22
Các vùng đã tiến hành khảo sát đánh giá là Đồng Nai, ĐăkLăk, Ninh Thuận,
Bình Thuận và Phú Thọ. Các định hướng cho tiêu chuẩn lập địa, chọn đất gây trồng
trước hết tập trung cho các vùng đất cằn cỗi, suy thoái, các vùng hoang hóa, đất cát
khô hạn và thậm chí cả các vùng bãi thải ô nhiễm. Điều này sẽ đảm bảo là không cạnh
tranh lấy mất đất canh tác nông nghiệp của dân, không ảnh hưởng tới vấn đề an toàn
lương thực tại các vùng triển khai dự án. Ngược lại sẽ có tác động cải tạo môi trường
đất đai, và mang lại nguồn thu nhập ổn định cho cộng đồng người nông dân thông qua
việc gây trồng JCL. Các cây trội tuyển chọn rất có tiềm năng về năng suất hạt (2,8-5,0
kg/cây/năm) và hàm lượng dầu béo. Đã có các thỏa thuận hợp tác với Công ty Green
Energy Vietnam (GEV) nhằm khảo nghiệm và thử nghiệm cây trội và ứng dụng ngay
các giống mới triển vọng nhất vào các dự án đầu tư sản xuất vùng nguyên liệu hàng
nghìn ha tại Ninh Thuận, Bình Định, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị
(Thái Xuân Du, 2007; Nguyễn Công Tạn, 2008).
trung bình 10 – 12 cành phát triển ngang nhau, năm 2 sẽ tạo nên cây Jatropha với tán
tròn có 17-20 cành tán mang quả. Về các mật độ có thể trồng là 2.500 cây/ha, 2000
cây/ha và 1.600 cây/ha. Trong đó mật độ 2.000 và 1.600 cây/ha bước đầu được đánh
giá có triển vọng phù hợp cho sinh trưởng, tạo tán và nhiều cành mang hoa quả để có
năng suất về sau. Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về hàm lượng dầu của quả Jatropha
thu hoạch ở các quả khi thu hái mới chín vàng, còn tươi có tỷ lệ dầu thấp nhất. Hàm
lượng dầu trong hạt khô của quả chín khô, màu nâu đen khi thu hái có hàm lượng dầu
cao nhất.
Phân Viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên tại Tp. HCM đã thử nghiệm tỷ lệ
nẩy mầm của hạt, thí nghiệm trồng bằng hạt, bằng hom. Kết quả ban đầu cho thấy cây
ươm bằng hom mọc không đều, hom ngọn mọc nhanh hơn hom gốc, hom dài hơn 50
cm cho sức sống cao, sau 6 tháng cho hạt. Cây Jatropha có khả năng thích nghi cao
trên các loại đất cát, đất đỏ bazan, đất thịt. Từ độ cao 0-900m trên mực nước biển, cây
mọc ở mọi miền khí hậu nước ta cả nơi khô nhất. Qua trồng thử nghiệm một số giống
nước ngoài và giống trong nước trồng tại vùng khô hạn Bình Thuận, Hà Nội bước đầu
nhận thấy giống Brazin PT01 và PT02 có triển vọng cho năng suất cao. Phân Viện
cũng đang hợp tác với Pháp triển khai đề tài nghiên cứu về Jatropha ở Bình Thuận và
1 số tỉnh khác (Lê Võ Định Tường, 2007 – 2008).
Cây Jatropha thường sinh trưởng và phát triển ở nơi có độ cao 0-500m trên mặt
biển. Ninh Thuận là một trong những vùng đất cát khô hạn nhất ở Việt Nam có lượng
mưa trung bình 600 mm/năm, nơi đây ngay trong mùa khô cây vẫn xanh tốt, cho hoa,
quả. Giống có nguồn gốc Ấn Độ trồng thử nghiệm ở Bình Phước, Bình Dương cho
thấy chỉ sau 6 tháng, cây Jatropha đã cho quả.
Trường Đại học Thành Tây đang triển khai đề tài nghiên cứu về cây Jatropha,
tác giả Nguyễn Công Tạn cho biết Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm của Trường đã
24
xây dựng được 1 ha vườn sưu tập giống năm 2007 bao gồm 16 xuất xứ của Việt Nam,
5 giống được tuyển chọn của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Malaysia và
Đạt tỉnh Quý Châu - Trung Quốc đã ký hợp đồng với công ty TNHH Núi đầu tỉnh
25
Lạng Sơn - Việt Nam mua hạt Jatropha trong 10 năm liền và 3 năm đầu đảm bảo với
giá 1,65 tệ/kg (khoảng 3.500đ/kg) giao tại cửa khẩu, yêu cầu công ty phía Việt Nam
phải trồng được 70.000 ha trong vòng 3 năm kể từ 2008. Công ty Jatro của Đức có kế
hoạch thu mua tại Việt Nam với giá 200USD/tấn hạt (khoảng 3.200đ/kg).
Về quỹ đất phát triển cây Jatropha: 4 vùng cạnh tranh để trồng Jatropha là Tây
Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung bộ với diện tích đất gần 4
triệu ha. Tuy nhiên phát triển cây Jatropha cũng có những rủi ro: Tất cả các kết quả tạo
giống mới cây Jatropha đều mới ở quy mô thí nghiệm, chưa có hiện trường ở mức độ
sản xuất lớn với cây nhiều năm tuổi, các số liệu năng suất 10 tấn hạt/ha/năm đều được
mô tả trong các tài liệu của nước ngoài, duy nhất có giống G188 của Malaysia ở quy
mô sản xuất đạt 3 tấn hạt/ha/năm với hàm lượng dầu hạt đạt 40% (Phạm Đức Tuấn,
2008).
Về kế hoạch phát triển cây Jatropha ở Việt Nam đến năm 2025: Giai đoạn 1
từ năm 2008 – 2010: Tập trung nghiên cứu toàn diện về cây Jatropha về chọn tạo
giống, kỹ thuật gây trồng đến chế biến và sử dụng các sản phẩm cây Jatropha. Hoàn
thành các quy trình kỹ thuật gây trồng và chế biến cây Jatropha. Trồng khảo nghiệm
trên diện rộng các vùng sinh thái trên cả nước, sản xuất thử ở quy mô nhỏ dự kiến
trồng trong giao đoạn này là 30.000 ha. Định hướng cho nghiên cứu: thu thập các xuất
xứ các giống nội địa và nhập khẩu các giống ngoại tốt nhất. Nghiên cứu lai tạo giống
có hàm lượng dầu trong hạt > 40% và năng suất đạt hơn 10 tấn/ha/năm, cùng với kỹ
thuật nhân giống hoàn thiện. Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học tác động đến quá
trình hình thành hoa cái và tỷ lệ đậu quả. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm
canh. Giai đoạn 2 từ 2011 – 2025: trên cơ sở những kết quả nghiên cứu được khẳng
định sẽ tiến hành quy hoạch chi tiết các vùng trồng tập trung khoảng 300.000ha. Từ
năm 2015 trở đi: trồng đại trà để đạt diện tích khoảng 500.000ha. Phương thức trồng
cây Jatropha nên theo 2 hướng. Thứ nhất là trồng thâm canh, lấy mục tiêu kinh tế là