MỤC LỤC
Trang
1
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang thay đổi từng giây, từng phút. Quản trị đã làm thay đổi cách thức
nhiều tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh. Sự gia tăng các tổ chức dịch vụ đã làm
thay đổi cấu trúc của nền kinh tế. để thành công trong hôm nay các nhà quản trị phải làm
gì? Phải có năng lực quản trị cần thiết nào? Để thích ứng với yêu cầu của thời đại. mặt
khác, những biến động thường xuyên của môi trường làm xuất hiện những cơ hội và đe
dọa đến công tác quản trị. Do vậy để tồn tại và phát triển, nhà quản trị phải tìm cách
hướng hoạt động của mình thích ứng với điều kiện đó. Hiểu được tầm quan trọng của
những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp nhóm chúng tôi chọn
đề tài “môi trường kinh tế”. cụ thể là “phân tích những yếu tố môi trường kinh tế ảnh
hưởng hoạt động doanh nghiệp. liên hệ thực tiễn môi trường kinh tế của doanh nghiệp
việt nam trong thời gian qua”.
A. Nội dung
I. Cơ sở lý thuyết.
1.1 Các yếu tố môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế: khía cạnh kinh tế đại diện cho tình trạng kinh tế của một quốc
gia hoặc vùng nơi mà tổ chức hoạt động. tiền lương của người lao động, lạm phát, thuế,
chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất và giá cả hàng hóa, dịch vụ bán
ra, sự cạnh tranh tự do trên thị trường, sự tiến bộ khoa học công nghệ và lực lượng lao
động… là các yếu tố tạo nên nền kinh tế của nhiều quốc gia. Ngày nay do các tổ chức
hoạt động trong môi trường toàn cầu, các yếu tố kinh tế ngày càng phức tạp và ít chắc
chắn hơn.
I.1.1. Tổng sản phẩm quốc nội(GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định,
thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản
phẩm quốc nội. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế
của một vùng lãnh thổ nào đó.
giá hiện hành, và GDP tính theo giá kỳ trước. Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá
trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP.
3
Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một
nhóm các hàng hoá thiết yếu, ở VN nhóm hàng lương thực, giá vàng, đô la có lẽ có trọng
số lớn. Chỉ số này khôngphản ánh sự biến động giá chung nhưng phản ánh biến động giá
cả ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống, tiêu dùng.
Khi nói tốc độ lạm phát, nguời ta cũng thường dùng chỉ số này Khi nền kinh tế có
lạm phát, nếu không do nguyên nhân tác động từ nước ngoài, hay một thay đổi lớn về
cung sản phẩm, thì nó thể hiện cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá. Việc duy trì cầu
hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá ở một mức độ vừa phải, do đó, lạm phát ở mức vừa phải,
là cần thiết để kích thích sản xuất, giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, và tạo lợi
nhuận cần thiết cho các dn đầu tư nâng cao công nghệ, mở rộng sản xuất. Nếu nền kinh tế
sa vào giảm phát, nghĩa là sẽ bị thừa cung, thừa ứ hàng hoá, gây ra tình trạng đình đốn,
thua lỗ ở các doanh nghiệp. Đó là tác dụng của lạm phát. Tất nhiên lạm phát quá cao thì
lại là một vấn đề cập.
I.1.3. Tỷ giá hối đoái và lãi suất.
Khái niệm:Tỷ giá hối đoái là giá chuyển đổi từ một đơn vị tiền tệ nước nay sang
thành những đơn vị tiền tệ nước khác.
Phân loại:
* Theo phương tiện chuyển hối:
- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại tệ cũng như các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ
được chuyển bằng điện.
-Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ được
chuyển bằng thư.
* Theo phương tiện thanh toán quốc tế:
- Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ.
* Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ:
- Tỷ giá mở cửa là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán bán các món ngoại tệ đầu tiên
chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.
Khi NHTW can thiệp bằng cách thay đổi dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá ở một mức
nhất định đã được công bố trước, ta có chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Muốn cố định tỷ giá
hối đoái thấp hơn mức cân bằng thị trường (điểm E
1
) thì NHTW phải dùng dự trữ ngoại tệ
để bán ra thị trường, điều này làm giảm dự trữ ngoại tệ của NHTW và tăng cung ngoại tệ
trong nền kinh tế.
I.1.4. Tiền lương và thu nhập
Khái niệm: Tiền lương là lượng tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng
lao động sau khi hoàn thành một công việc nhất định hoặc sau một thời gian lao động
nhất định.
+ Tiền lương danh nghĩa: là số tiền người lao động nhận được từ quá trình lao
động,phụ thuộc vào năng suất lao động,hiệu quả công việc,trình độ và kinh nghiệm của
người lao động
+Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa tiêu dung và các loại dịch vụ cần thiết mà
6
người lao động có thể mua từ tiền lương danh nghĩa
Như vậy,tiền lương thực tế là mục đích lao động chính của người lao động,cũng chính là
đối tượng quản lý trực tiếp trong các chính sách tiền lương,thu nhập của doanh nghiệp
- Thu nhập là tổng số tiền mà người lao động nhận được trong một thời gian nhất định,từ
các nguồn khác :tiền lương,tiền thưởng,các khoản phụ cấp,trợ cấp,từ kinh tế phụ gia
đình,từ các nguồn khác như gửi tiết kiệm,quà biếu
- Phân tích tiền lương,thu nhập của người lao động là quá trình thu thập và xử lý thông tin
nhằm phát hiện ra các nhân tố ảnh hưởng từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao tiền
lương,thu nhập cho người lao động.
- Tiền lương là nguồn thu chủ yếu của người lao động trong các doanh nghiệp,các tổ
chức.Trên phương diện quản lý,tiền lương được ví như một đòn bẩy kinh tế để kích thích
người lao động.
II. Phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh tế đối với hoạt động
tăng hay giảm sản lượng bán ra.
• Ảnh hưởng của lạm phát đến chi phí
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, lạm phát tăng
cao làm tăng hầu hết các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất,
chi phí nhân công, chi phí quản lý, bán hàng, thuê kho bãi, điều đó làm tổng chi phí sản
xuất kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến các hướng đầu tư của doanh nghiệp, buộc các
doanh nghiệp phải có những điều chỉnh nhằm tối đa hóa chi phí để có thể tồn tại và cạnh
tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, lạm phát dẫn đến tình trạng tăng giá chung của tòan nền kinh tế. Điều
đó có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của sự tăng
giá chung.Vì vậy, nếu doanh nghiệp có các biện phất tốt để tối thiểu hóa chi phí như tìm
được những nhà cung ứng với giá thấp hơn, phân phối tốt chi phí nhân công, thì việc
tăng chi phí chung trong nền kinh tế lại có thể trở thành một lợi thế của doanh nghiệp.
• Ảnh hưởng của lạm phát đến chi phí
Lạm phát khiến cho các yếu tố đầu vào tăng cao, chi phí tăng cao ảnh hưởng đến
doanh thu và chi phí của doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
8
nghiệp. Lạm phát làm cho giá trị thực của các tài sản khấu hao nhiều hơn, phải nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp cao hơn khiến lợi nhuận giản sút.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, trong thời kỳ lạm phát lợi nhuận của doanh
nghiệp vẫn có thể tăng do mức tăng giá bình quân của các yếu tố đầu vào thấp hơn mức
tăng giá của sản phẩm đầu ra trong khi sản lượng sản phẩm của doanh nghiệp bán ra
không giảm sút nhiều.
• Ảnh hưởng của lạm phát đến năng suất lao động
Lạm phát xảy ra làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống. Người
lao động sẽ mất động lực làm việc nếu doanh nghiệp không có chế độ dãi ngộ tốt đối với
nhân viên của mình. Điều đó ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong điều kiện lạm phát thì tất cả các doanh nghiệp đều chịu ảnh
hưởng.Vì vậy, doanh nghiệp đề ra cách ứng phó với lạm phát sẽ hạn chế được rủi ro, nắm
bắt tốt những cơ hội kinh doanh và duy trì ổn định việc làm cho người lao động, sẽ giữ
Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì
xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc
vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình
kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định
Lãi xuất ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư doanh nghiệp và việc tiêu dùng của người dân
Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của
quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng
phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong
một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng
tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn
chi tiêu.
10
Lợi tức là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự vận động của tín dụng và do bản chất
của tín dụng quyết định. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở
người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay. Thực chất, lãi suất được biểu hiện bằng quan
hệ tỷ lệ giữa lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một thời gian nhất định.
Trên tầm vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các
quyết định của mình như chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị
phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng.
Lãi suất tăng làm giảm vay nợ. Cá nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó
giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng cầu.
Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới
tổng cầu. Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh
nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng. Điều này làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do đó tác
động tiêu cực tới tổng cầu. Giãn thợ còn làm giảm thu nhập của người lao động. Điều này
khiến họ giảm tiêu dùng. Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực. Đối với hoạt động vay cầm
cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây hay mua nhà, do đó đầu tư xây
nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu. Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay
cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả
được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho
người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của họ dùng để bù đắp lại hao
phí lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn
đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên.Tiền lương được quy định một cách đúng đắn,
là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích người lao động và làm việc, nâng cao
trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.
Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương. Đây là
nguyên tắc tạo cơ sở cho việc giảm giá thành, tăng tích luỹ bởi vì năng suất lao động
không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của người lao động (trình độ tay nghề, các
biện pháp hợp lý sử dụng thời gian) mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan (sử
dụng hợp lý nguyên vật liệu, áp dụng công nghệ mới).
Các chính sách của doanh nghiệp: các chính sách lương, phụ cấp, giá thành…được
áp dụng triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả,
trực tiếp tăng thu nhập cho bản thân.
12
Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương.Với doanh
nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền lương cho người lao động sẽ thuận
tiện dễ dàng. Còn ngược lại nếu khả năng tài chính không vững thì tiền lương của người
lao động sẽ rất bấp bênh.
Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương.Việc
quản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát và đề ra
những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động để tăng hiệu
quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương.
Đảm bảo tiền lương thực tế tăng lên khi tăng tiền lương nghĩa là tăng sức mua của
người lao động.Vì vậy việc tăng tiền lương phải đảm bảo tăng bằng cung cấp hàng hoá,
tín dụng tiền tệ. Phải đẩy mạnh sản xuất, chú trọng công tác quản lý thị trường, tránh đâù
cơ tích trữ, nâng giá nhằm đảm bảo lời ích của người lao động. Mặt khác tiền lương còn
là một bộ phận cấu thành nên giá trị, giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và là một bộ
phận của thu nhập kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó
DNNVV phá sản, tác động tiêu cực tình hình sản xuất, chiến lược kinh doanh của gần 12
nghìn DNNVV đang hoạt động tại Ðồng Nai. Ðến ngày 15-2-2012, Ðà Nẵng có 12.703
DNNVV đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký 59.939 tỷ đồng, đóng góp gần 50%
tổng thu ngân sách xã hội cho Ðà Nẵng, giải quyết hơn 80% việc làm mới. Do tác động
của lạm phát và suy giảm kinh tế, trong năm 2011 và hai tháng đầu năm 2012, Ðà Nẵng
có 34 DN ngừng sản xuất, 330 DN giải thể và 944 DN không hoạt động, bỏ trụ sở, đóng
mã số thuế Theo Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DNNVV Ðà Nẵng Văn Hữu
Thiết, thực tế, số DN làm ăn ổn định và có tăng trưởng khoảng 10%, khoảng 70% gặp
khó khăn, phải tạm dừng mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất. Còn tại Vĩnh Phúc, năm 2012,
ước tính sẽ có từ 20 đến 25% số DN trên địa bàn phải ngừng hoạt động. Theo Chủ tịch
VINASME Cao Sĩ Kiêm, năm 2012 này, các DNNVV vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn nữa.
Nhiều DN sẽ phải đình trệ, giải thể, phá sản. Phần lớn những DN khó khăn sẽ thu hẹp sản
xuất. Ước tính chưa đầy đủ, khoảng 30% số DNNVV có khả năng giải thể, đình trệ hoặc
phá sản. VINASME chưa có kinh phí để tổ chức điều tra cụ thể thực trạng các thành viên.
14
3.2. Sự thay của những yếu tố môi trường kinh tế có ảnh hưởng tới hoạt
động doanh nghiệp VIỆT NAM trong những năm gần đây.
Nhìn chung, môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển kinh
tế của doanh nghiệp tại một quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay đã có sự cải thiện lớn về môi
trường kinh doanh trong năm 2010, tiến 10 bậc so với năm 2009( đứng thứ 78/183 nước)
và đứng thứ 4 trong số 10 nền kinh tế cải cách nhiều nhất về mức độ thuận lợi của môi
trường kinh doanh. Trong đó phải kể đến tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao 6,78%,
tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 25,5% so với năm 2009.
Tính đến hết năm 2010, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập đã đạt trên
544.000 doanh nghiệp, vượt mục tiêu đề ra của Chính phủ là 500.000 doanh nghiệp.
Trong 5 năm gần đây, sự cải thiện rõ rệt của môi trường kinh doanh tại Việt Nam
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước cũng như
nước ngoài, kích thích sự thành lập các doanh nghiệp mới và thu hút sự đầu tư của các
doanh nghiệp quốc tế. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ảnh hưởng dến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp theo 2 hướng, thuận lợi và hạn chế.
lao động, công tác quản lý, tổ chức sẽ được tăng cường, chú ý hơn.
Cũng cần phải lưu ý thêm, mức tăng trưởng GDP trong 2 quý đầu năm 2012 gần
như đạt mức thấp nhất trong hơn 10 năm trở lại đây - tăng trưởng trung bình hơn 6%/năm.
- Lạm phát.
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng
cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát hiện
nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối
đa là 9% của mỗi quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của
chính phủ: làm suy vong nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tới đời
17
sống của người dân khi giá cả leo thang.
Năm 2007 chỉ số lạm phát là 12,75% .
Năm 2008 chỉ số lạm phát là 19,87% .
Năm 2009 chỉ số lạm phát là 6,52% .
Năm 2010 chỉ số lạm phát là 11,75% .
Năm 2011 chỉ số lạm phát là 18,13%.
Lạm phát cao cũng là trở ngại cho sự phát triển của doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến tâm lý tiêu dùng của người dân, giá cả tăng, sức
18
mua sẽ giảm, kéo theo việc sản xuất của danh nghiệp bị trì trệ. Để hoạt động sản xuất có
hiệu quả, doanh nghiệp cần nắm bắt và dự đoán được mức độ lạm phát hiện thời.
Năm 2012 : (i) Nền kinh tế đang đối mặt với tình trạng lạm phát giảm, nhập siêu
giảm nhưng cho thấy những dấu hiệu lo ngại về sự trì trệ nền kinh tế; (ii) thanh khoản
toàn hệ thống ngân hàng dư thừa nhưng doanh nghiệp vẫn còn khó khăn trong việc tiếp
cận vay vốn; (iii) tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế đã đạt sự thống nhất cao, nhưng việc
thực hiện trên thực tế đến nay chưa mang lại kết quả rõ nét. Nhiều ý kiến nhận định, việc
lạm phát hạ nhanh hơn mức dự kiến, thể hiện qua chỉ số CPI tăng thấp tháng 3 (0,16%),
tháng 4 (0,05%) và tháng 5 (0,18%), giảm trong tháng 6 (-0,26%) và tháng 7 (-0,29%),
cùng với việc nhập siêu giảm mạnh liên tục và xuất siêu trong 9 tháng cho thấy thực trạng
đáng lo ngại về năng lực hấp thụ đầu vào và tổng cầu của nền kinh tế đang suy giảm
Thu nhập bình quân tháng của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp như
sau:
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước mã số ĐT Đl
2007. G/50 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội).
Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lao động trong các cơ quan, đơn vị
khu vực nhà nước ổn định, được tăng lên theo lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu của
20
Nhà nước với mức tăng bình quân 12,3%/năm. Năm 2009 mức lương tối thiểu là 640.000
đồng, năm 2010 là 730.000 đồng, năm 2011 là 830.000 đồng, đến tháng 5-2012 là
1.050.000 đồng. Các doanh nghiệp áp dụng mức lương tối thiểu theo 4 vùng từ 1,4 đến 2
triệu đồng.Vào thời điểm cuối năm 2011, lương bình quân của công nhân, lao động trong
doanh nghiệp nhà nước là 3,8 triệu đồng; doanh nghiệp tư nhân là 2,7 triệu đồng; doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3,0 triệu đồng.
Do sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của người dân có xu hướng tăng.
Nhiều doanh nghiệp mới hoạt động giải quyết đáng kể việc làm cho người lao động, tuy
nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao. Theo báo cáo của bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,
năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp là 4,66%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn là 6,1%,
thành thị là 2,3%.
Kinh tế tăng trưởng thấp hơn dự kiến, tạo việc làm mới cả năm ước đạt 1,52 triệu
người, không đạt chỉ tiêu Nghị quyết Quốc hội, tỷ lệ giảm nghèo cả năm ước chỉ đạt
1,76% đã tạo áp lực lên mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội. Bên cạnh đó cũng phát sinh một
số vấn đề trong thực hiện chính sách xã hội cần quan tâm xử lý. Mặc dù theo số liệu công
bố, số người thất nghiệp có xu hướng giảm, nhưng số đăng ký thất nghiệp lại tăng cho
thấy một bộ phận người lao động nhảy việc, lợi dụng chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Hiệu quả của chính sách xuất khẩu lao động cho các huyện nghèo chưa cao: tỷ lệ lao động
bỏ về trong thời gian đào tạo khá cao, trung bình 30% -35% số lao động, cá biệt có địa
phương con số này lên tới 60% -70%.
Tiền lương trả cho người lao động có xu hướng tăng kéo theo giá thành thuê nhân
công cũng tăng lên. Tuy nhiên cùng với áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng
suất, giá cả hàng hóa tăng nên việc tăng lên của giá thuê lao động cũng không ảnh hưởng
22
Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới 6 tháng đầu giảm 12,5% và số lượng doanh
nghiệp giải thể, ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 5,4% trong đó số lượng doanh
nghiệp đã giải thể tăng 35,4% đã phản ánh về thực trạng khó khăn của doanh nghiệp và
được minh họa qua kết quả điều tra mẫu 9331 doanh nghiệp về thực trạng và khó khăn do
Tổng cục Thống kê tiến hành vào thời điểm 01/4/2012:
Tính từ thời điểm 01/01/2011 đến 01/4/2012 có 8,4% số doanh nghiệp tạm ngừng
SXKD, doanh nghiệp phá sản, giải thể. Tỷ lệ này khá cao trong thời điểm hiện nay, tuy
nhiên đây cũng là tình trạng chung của hầu hết các nước trên thế giới và khu vực trong
thời kỳ kinh tế khủng hoảng. Trong tổng số doanh nghiệp được hỏi có 69,6% số doanh
nghiệp phản ánh nguyên nhân chính làm cho các doanh nghiệp phá sản, giải thể là do sản
xuất kinh doanh thua lỗ; 28,2 % phản ánh do nguyên nhân thiếu vốn; 14,7% phản ánh
nguyên nhân không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa điểm
suất kinh doanh và 4,6% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh nghiệp
mới/chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh; 4,6% doanh nghiệp đóng cửa để sáp
nhập với doanh nghiệp khác.
Năm 2011 trong số các doanh nghiệp theo quy định phải nộp thuế giá trị gia
tăng/thuế tiêu thụ đặc biệt, có tới 8% số doanh nghiệp không nộp thuế do không có khả
năng nộp. Tỷ lệ doanh nghiệp không có khả năng nộp thuế cao ở các ngành khai thác, xây
dựng, vận tải, kho bãi, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ở vùng Tây Nguyên.
3.2. Liên hệ thực tiễn với công ty vinaco.
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển du lịch Vinaconex (Vinaconex – ITC)là Công
tythành viên của Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam
(VINACONEX) hoạt động theo luật doanh nghiệp với các lĩnh vực kinh doanh là đầu tư,
kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ bất động sản, kinh doanh dịch vụ du lịch,
xây dựng, quản lý dự án. Từ khi thành lập tới nay, Vinaconex - ITC tập trung vào việc
đầu tư, phát triển Dự án Khu đô thị du lịch Cái Giá – Cát Bà (Cát Bà Amatina) tại huyện
Cát Hải – Hải Phòng và phát triển mảng kinh doanh dịch vụ bất động sản. Đặc thù ngành
23
nghề và phạm vi hoạt động dẫn đến kết quả kinh doanh của VINACONEX - ITC chịu ảnh
Rủi ro lạm phát là rủi ro khi tỷ lệ lạm phát thay đổi tác động đến chi phí đầu vào của
doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí vốn từ đó ảnh hưởng
đến kết quả kinh doanh của VINACONEX - ITC.
Theo Cục Thống kê, so với năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 tăng
8,22%. Năm 2010 được nhận định chỉ số giá tiêu dùng nhiều khả năng sẽ tăng do
hàng loạt những mặt hàng thiết yếu tăng giá trong những tháng đầu năm như: điện, xăng,
nước,….
Để giảm thiểu rủi ro từ lạm phát, VINACONEX – ITC đã thực hiện các biện pháp
tiết kiệm chi phí, đồng thời thực hiện đấu thầu xây dựng các hạng mục công trình của dự
án nhằm tận dụng tối đa năng lực thi công, kinh nghiệm của các nhà thầu, đôn đốc thực
hiện dự án theo tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình, nâng cao hiệu quả đầu tư của dự
án.
Tuy nhiên không phải lạm phát luôn mang lại những ảnh hưởng tiêu cực. Khi lạm
phát tăng cao mà tỷ lệ lãi suất ngân hàng không đủ đảm bảo bù được tỷ lệ lạm phát thì
tâm lý người dân sẽ rút tiền tiết kiệm và chuyển sang mua sắm mặt hàng thiết yếu tránh
tăng giá, đầu tư trong những lĩnh vực đảm bảo mức lợi nhuận lớn hơn mức lạm phát. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy một sốngành hàng phát triển và thúc đẩy
đầu tư đặc biệt là đầu tư vào bất động sản – loại hình đầu tư ổn định nếu đầu tư trong lâu
dài .
Rủi ro tỷ giá ngoại tệ
Rủi ro tỷ giá là rủi ro khi tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
giá của các nguyên nhiên vật liệu sản xuất nhập khẩu như sắt thép, máymóc, thiết bị,
hoặc chi phí vốn nếu nguồn vốn thực hiện dự án từ các nguồn vốn vay.
3.3. Sự can thiệp của chính phủ.
Nhằm hạn chế những ảnh hưởng của yếu tố môi trường kinh tế, chính phủ đã sử
dụng các chính sách kinh tế vĩ mô trong việc điều tiết nền kinh tế. Chính phủ có thể sử
dụng các chính sách như tài khóa và tiền tệ để tác động đến sản lượng, việc làm và lạm
phát nhằm giảm bớt những dao động của chu kì kinh doanh. Đặc biệt gần đây, chính phủ
Việt Nam đã có một loạt các giải pháp điều chỉnh khá mạnh cả về liều lượng và độ kiên
25