ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
GIÁO DỤC THỂ CHẤT 2
(HỌC PHẦN TỰ CHỌN)
NGÀNH ĐÀO TẠO: …………………………
CHUYÊN NGÀNH: ………………………….
1. Tên học phần: Giáo dục thể chất 2 (Bóng chuyền)
Mã số: BAS103
2. Số tín chỉ:
3. Trình độ: Cho sinh viên năm thứ 1
4. Phân bổ thời gian:
- Lý thuyết: 2 (tiết/tuần) x 1 (tuần) = 2 tiết.
- Thực hành: 2 (tiết/tuần) x 14 (tuần) = 28 tiết.
- Tổng số tiết thực dạy: 2 tiết + 28 tiết = 30 tiết
- Tổng số tiết chuẩn: 2 tiết + 28 tiết = 30 tiết chuẩn.
5. Các học phần học trước: Giáo dục thể chất 1 (Thể dục + Điền
kinh)
6. Học phần thay thế, tương đương: Không
7. Mục tiêu của học phần:
Sau khi học xong học phần, sinh viên phải nắm được các kiến
thức, kỹ thuật động tác cơ bản của môn Bóng chuyền. Qua đó vận
dụng vào trong tập luyện và thi đấu để nâng cao sức khỏe và phát
triển các tố chất thể lực.
8. Mô tả vắn tắt nội dung học phần:
Học phần Giáo dục thể chất 2 (Bóng chuyền) là học phần tự chọn,
nội dung kiến thức của học phần bao gồm 2 phần:
PHẦN I – LÝ THUYẾT
1. Sơ lược lịch sử phát triển môn bóng chuyền.
2. Đặc điểm và tác dụng môn bóng chuyền.
3. Nguyên lý kỹ thuật của môn bóng chuyền.
4. Luật và phương pháp tổ chức thi đấu.
PHẦN II – THỰC HÀNH
- Biên soạn: ĐAN THÀNH VINH
TT NỘI DUNG
T/L học
tập, tham
khảo
Hình
thức
học
1
LÝ THUYẾT
1. Sơ lược lịch sử và sự phát triển của
môn Bóng chuyền.
2. Đặc điểm và tác dụng của môn Bóng
chuyền.
3. Nguyên lý kỹ thuật của môn Bóng
chuyền.
4. Tập thể lực chung.
1-3
Nghe
giảng
2
THỰC HÀNH
1. Tư thế chuẩn bị và di chuyển
- Tư thế:
+ Tư thế chuẩn bị.
+ Tư thế đánh bóng.
- Di chuyển:
+ Chạy.
1-4
Thực
- Động tác đánh bóng.
- Kết thúc động tác.
3. Trò chơi vận động.
1-4
Thực
hành
6
1. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay
bằng hai tay.
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng thấp tay
bằng hai tay.
3. Tập thể lực chung.
1-3
Thực
hành
7
1. Luật thi đấu trong môn Bóng chuyền
1-3
Giảng
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay
bằng hai tay.
3. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng thấp tay
bằng hai tay.
4. Tập thể lực chuyên môn.
+ thực
hành
8
1. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay
bằng hai tay.
12
1. Ôn tập kỹ thuật phát bóng.
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay.
3. Thi đấu.
1-3
Thực
hành
13
1. Ôn tập kỹ thuật phát bóng.
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng thấp tay.
3. Thi đấu.
1-3
Thực
hành
14
1. Ôn tập kỹ thuật phát bóng.
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay.
3. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng thấp tay.
4. Thi đấu.
1-3
Thực
hành
15
1. Ôn tập kỹ thuật phát bóng.
2. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng cao tay.
3. Ôn tập kỹ thuật chuyền bóng thấp tay.
4. Thi đấu.
1-3
Thực
hành
chuyền có số lượng người tham gia tập luyện thường xuyên khoảng
trên 200 triệu người. Do đó Bóng chuyền cần phải có một tổ chức
lãnh đạo thống nhất và được thi đấu trong các cuộc thi đấu thể thao.
2. Quá trình phát triển môn Bóng chuyền
2.1. Quá trình phát triển kỹ chiến thuật môn Bóng chuyền
Bóng chuyền là môn thể thao được phát triển rất nhanh và rộng
khắp trên các châu lục, bên cạnh sự phát triển về số lượng các nước
tham gia tập luyện và thi đấu Bóng chuyền, thì kỹ thuật và chiến
thuật trong môn Bóng chuyền cũng được phát triển theo, điều này đã
làm cho Bóng chuyền ngày càng trở lên hấp dẫn hơn. Năm 1922, ở
Mỹ lần đầu tiên Bóng chuyền chính thức được tổ chức giải vô địch và
cùng năm đó Bóng chuyền cũng được đề nghị đưa vào chương trình
Thế vận hội Olympic lần thứ 8 tại Pháp năm 1924. Cùng với mốc lịch
sử đó, trong chương trình các Thế vận hội Olympic những năm tiếp
theo và trong các lần Đại hội TDTT sinh viên thế giới, bóng chuyền
luôn là môn thể thao thi đấu chính thức.
Do Bóng chuyền ngày càng được thi đấu trong các Đại hội TDTT
khu vực, châu lục và thế giới; trong chương chình Thế vận hội và cả
trong đại hội TDTT của sinh viên, chính vì vậy đòi hỏi phải có một tổ
chức để quản lý và lãnh đạo phong trào Bóng chuyền. Năm 1947,
mốc lịch sử quan trọng nhất của bóng chuyền thế giới và việc thành
lập Liên đoàn bóng chuyền Quốc tế tại Pari (Pháp) viết tắt là FIVB.
Trong đó có các thành viên tham gia như: Liên Xỗ (cũ), Tiệp Khắc,
Ba Lan, Nam Tư, Ý, Rumani, Hà Lan, Bỉ, Brazil, Hy Lạp, Chi Lê, Ai
Cập và Nam Phi. Sự kiện thành lập Liên doaanf bóng chuyền Quốc tế
chứng tỏ sự thừa nhận bóng chuyền là môn thể thao mang ý nghĩa
quốc tế rộng khắp.
Từ khi có Liên đoàn bóng chuyền Quốc tế thì các giải vô địch
bóng chuyền thế giới và các châu lục được tổ chức liên tục vào các
năm. Sự phát triển lớn mạnh của bóng chuyền thế giới và tính chất,
bóng chuyền 3 châu lục được tổ chức tại Pari (Pháp), lúc này trình độ
bóng chuyền vẫn là thế mạnh của các đội bóng châu Âu. Sau các đội
châu Âu như: Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc, Bungari, Ba Lan, Pháp, Thổ
Nhĩ Kỳ có Trung Quốc và Brazil.
Bên cạnh sự phát triển của bóng chuyền ở các châu lục khác nhau
thì trong từng khu vực người ta cũng đánh giá sự phát triển của bóng
chuyền ở châu Âu và cũng tổ chức được các giải vô địch bóng
chuyền Đông và Tây Âu. Ở châu Mỹ tổ chức được giải bóng chuyền
vô địch Bắc Mỹ, Nam Mỹ và vùng biển Caribe. Ở châu Á bóng
chuyền cũng được tổ chức ở khu vực Đông Nam Á.
Ngoài ra các giải bóng chuyền khác cũng thường xuyên được tổ
chức như: Giải bóng chuyền thanh niên thế giới, giải bóng chuyền vô
địch trẻ thế giới, … Các hình thức, tính chất, quy mô tổ chức các giải
đấu này ngày càng được nâng cao và phát triển mạnh. Số lượng các
nước là thành viên của Liên đoàn bóng chuyền Quốc tế tham gia tập
luyện và thi đấu bóng chuyền ngày càng lớn. Chính vì vậy vào năm
1963, Liên đoàn bóng chuyền Quốc tế đã tổ chức rất nhiều giải đấu
quốc tế để chuẩn bị cho Thế vận hội Olympic năm 1964 tại Tokyo
(Nhật Bản). Tại Thế vận hội này đã có một số nước đưa ra thử
nghiệm loại hình chiến thuật phát bóng và sắp xếp đội hình thi đấu
theo nguyên tắc 5-1. Điều này lại một lần nữa khẳng định vị trí của
bóng chuyền trên phạm vi quốc tế.
Trong thời điểm này trình độ thể lực, kỹ chiến thuật bóng chuyền
cũng đã được quan tâm và phát triển khá mạnh trên thế giới. Song
một điều bất ngờ tại Thế vận hội 1964 tại Tokyo (Nhật Bản) là đội nữ
Nhật Bản đã đưa ra thể nghiệm kỹ thuật phát bóng “bay” và trở thành
đội vô địch Thế vận hội. Phát bóng “bay” xuất hiện đã đánh dấu một
bước phát triển mới của kỹ thuật bóng chuyền hiện đại.
Do kỹ thuật, chiến thuật ở giai đoạn này có sự phát triển mạnh
theo các trường phái khác nhau, đã làm cho công tác huấn luyện môn
- Số cầu thủ không hạn chế,…
Đến năm 1900, một số điều của Luật này đã thay đổi, như điểm
kết thúc của mỗi hiệp là 21; chiều cao của lưới là 2,13m, vạch biên là
phần của sân.
Năm 1912, một số điều luật tiếp tục được cải tiến và thay đổi.
Ví dụ: Diện tích sân thi đấu là 10,6m x 18,2m, chiều cao của
lưới là 2,28m, sau khi mất quyền phát bóng thì các đối thủ phải đổi
chỗ,….
Trình độ ngày càng cao đòi hỏi Luật cũng phải thay đổ cho phù
hợp với thực tế thi đấu.
- Năm 1917, chiều cao lưới là 2,43m, hiệp đấu kết thúc là 15
điểm.
- Năm 1918, đội hình thi đấu trên sân giới hạn là 6 người.
- Năm 1921, có them đường giữa sân.
- Năm 1922, quy định mỗi cầu thủ chỉ được chạm bóng 1 lần và
cả đội được chạm bóng 3 lần.
- Năm 1923, diện tích sân là 9,1m x 18,2m. Khi tỷ số hiệp đấu là
14-14, đội nào hơn 2 điểm trước là đội đó thắng cuộc.
Các điều luật thay đổi và bổ sung có tác dụng trực tiếp để thay đổi
kỹ chiến thuật và thể lực phát triển.
Đến năm 1934 tại hội nghị đại biểu các Liên đoàn bóng chuyền
các quốc gia ở Stockhom (Thủy Điển) đã quyết định thành lập Ủy
ban kỹ thuật. Đề nghị này được thong qua tại Becslin (Đức) năm
1936 và do ông Ravich Maclopski người Ba Lan làm chủ tịch. Ủy
ban có 13 nước châu Âu, 5 nước châu Mỹ và 4 nước châu Á tham gia
và đi đến một quyết định lấy các điều luật cơ bản của Mỹ làm cơ sở
và thay đổi một số điều luật cho phù hợp như:
- Lấy đơn vị mét (m) làm đơn vị đo lường.
- Phần thân thể chạm bóng hợp lệ được tính từ thắt lưng trở lên.
- Cầu thủ chắn bóng không được chạm bóng 2 lần.
Năm 1990, cầu thủ hàng trên không được chắn bóng từ quả phát
bóng đầu tiên, điểm của mỗi hiệp là 17, riêng hiệp quyết thắng thứ 5
đánh theo luật luân lưu (thắng trong một pha bóng thì được điểm và
được quyền phát bóng và ngược lại). Ở tỷ số 16 đều, đội nào hơn 1
điểm thì đội đó thắng cuộc.
Năm 1992, cuộc cách mạng về luật đã làm cho bóng chuyền càng
phát triển mạnh. Một số điều luật đặc trưng như:
- Phần thân thể chạm bóng hợp lệ được tính từ khớp gối trở lên.
- Ở quả chuyền thứ nhất trong đỡ đập và đỡ phát bóng, đấu thủ
được chạm 2, 3 lần liên tiếp trong cùng một động tác mà thời gian
bóng nằm không lâu trên cơ thể
- Các cầu thủ tấn công không được nâng, cầm, đẩy, vít bóng.
- Trong động tác đập bóng, cầu thủ đã hoàn thành động tác mà
bóng bay ra ngoài khu vực phòng thủ, sau đó cầu thủ này chạm lưới
thì cầu thủ này không phạm luật.
- Điểm kết thúc từ hiệp 1 đến hiệp 4 là 17, riêng hiệp quyết thắng
(hiệp 2) vẫn đánh theo luật luân lưu, song phải hơn 2 điểm mới thắng.
Từ năm 1999 trở lại đây, do xu thế phát triển mạnh của bóng
chuyền hiện đại lên luật bóng chuyền trong nhà cũng đã có những
thay đổi tương ứng:
- Điểm thi đấu của 1 hiệp được tăng lên là 25 điểm, thi đấu theo
thể lức luân lưu (thắng điểm trực tiếp). Đội thắng 1 hiệp là đội được
25 điểm trước và hơn đội kia ít nhất 2 điểm. Nếu 2 đội có số hiệp
thắng là 2 đều thì hiệp quyết thắng (hiệp 5) thi đấu tới 15 điểm và đội
thắng là đội được 15 điểm trước và hơn đội kia ít nhất 2 điểm.
- Cầu thủ được đánh bóng bằng bất cứ bộ phận nào của cơ thể
(Không được phạm lỗi dính bóng và chạm bóng 2 lần trừ chắn bóng).
- Cho phép sử dụng cầu thủ Libero (Cầu thủ chuyên phòng thủ) để
làm cho thi đấu bóng chuyền thêm hấp dẫn và quyết liệt.
3. Quá trình phát triển môn bóng chuyền ở Việt Nam.
chuyền Việt Nam là một tổ chức trực tiếp đứng ra tổ chức lãnh đạo
và quản lý phong trào bóng chuyền nước ta. Cũng năm đó chúng ta
đã mời chuyên gia nước ngoài giúp trong việc đào tạo cán bộ bóng
chuyền. Chúng ta đã tổ chức được một số giải thi đấu như: Giải hòa
bình, Thống nhất mùa xuân, … và tháng 10/1957 đội tuyển nam nước
ta được thành lập để tham dự giải 4 nước, trong đó có: Trung Quốc ,
Triều Tiên, Mông Cổ và Việt Nam. Tuy còn non trẻ nhưng các VĐV
nước ta lần đầu tiên đã được tiếp xúc với những kỹ thuật mới của
bóng chuyền quốc tế. Đó cũng là thời kỳ đánh dấu những bước khởi
đầu của bóng chuyền nước ta. Phong trào ngày càng phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu. Chúng ta tiếp tục mời các đội bóng quốc tế
vào Việt Nam thi đấu.
Năm 1959, Hội bóng chuyền Việt Nam mời các đội tuyển bóng
chuyền nam, nữ Bungari và Mông Cổ sang thi đấu hữu nghị. Được cọ
xát quốc tế, vào thời gian này trình độ bóng chuyền nước ta đã có
bước phát triển nhanh về kỹ thuật, chiến thuật và thể lực. Trong nước
chúng ta bắt đầu tổ chức giải bóng chuyền hạng A miền Bắc gồm 8
đội nam và 8 đội nữ tham gia. Ngoài ra chúng ta còn tổ chức được
các giải nông thôn dành cho khu vực nông nghiệp.
Năm 1962, Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam gia nhập Liên đoàn
Bóng chuyền Quốc tế.
Năm 1963, chúng tat ham gia đại hội thể thao Ganêpho lần thứ
nhất tại Inđônêxia.
Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tại miền Bắc, cùng với cả
nước, thể thao nới chung và bóng chuyền nói riêng đã chuyển sang
thời kỳ mới, tuy vậy chúng ta vẫn tổ chức được một số giải lớn như:
Giải hạng A, giải dành cho miền núi, ….
Năm 1966, đội tuyển bóng chuyền của nước ta tham gia Đại hội
Ganêpho châu Á lần 2 tại Cambuchia. Trong thời kỳ chiến tranh
chống Mỹ, mặc dù điều kiện tập luyện bị hạn chế, nhưng bóng
đã không ngừng tạo mọi điều kiện cho phong trào bóng chuyền nước
ta luôn luôn phát triển. Chúng ta đã xây dựng được kế hoạch thi đấu
định kỳ cho từng năm, nhiều năm và phương hướng phát triển cho
bóng chuyền những năm tiếp theo.
Những năm gần đây bóng chuyền Việt Nam đã có những thành
viên tham gia vào hội đồng trọng tài quốc tế, tạo điều kiện cho bóng
chuyền nước ta phát triển và hội nhập.
Bóng chuyền hiện đại có xu thế ngày càng phát triển đạt tới đỉnh
cao của nghệ thuật thi đấu thể thao. Bên cạnh chiều cao của các VĐV
bóng chuyền ngày càng phát triển, thì các mặt khác như trình độ kỹ
thuật điêu luyện, chiến thuật đa dạng, biến hóa nhanh, trình độ thể lực
tốt và tâm lý vững vàng đã làm cho bóng chuyền ngày càng trở lên
hấp dẫn trên toàn thế giới. Chính sự phát triển về trình độ bóng
chuyền cao như vậy, do đó trong công tác huấn luyện đã nổi lên một
số đặc trưng lớn của bóng chuyền hiện đại đó là:
- Xu hướng chuyên môn hóa cao trong từng vị trí của VĐV bóng
chuyền.
- Xu hướng tấn công nhanh và mạnh gây yếu tố bất ngờ.
- Xu hướng tăng cường tấn công hàng sau
- Bật nhảy phát bóng mạnh.
Thực tế trong thi đấu cho thấy, trong những năm gần đây, nhiều
trận thi đấu bóng chuyền bị kéo dài do trình độ cao và tương đương
giữa hai đội. Chính vì thế một số điều Luật thi đấu đã được Liên
đoàn Bóng chuyền Quốc tế thay đổi và bổ sung cho phù hợp với thời
gian thi đấu của một trận, nhằm mục đích tăng tốc độ thi đấu và tính
hấp dẫn của bóng chuyền hiện đại.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
Sự hình thành và phát triển môn bóng chuyền trên Thế giới.
- Ngày nay đa số các nhà sử học đều cho rằng, môn bóng chuyền
được xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1895, do một giáo viên thể
yểm hộ người chắn bóng và người đập bóng. Năm 1934 tại cuộc họp
ở Stốckhôm (Thụy Điển), hội nghị đã đề nghị thành lập Uỷ ban kỹ
thuật bóng chuyền. Chủ tịch là Ông Ravích Máclốpsky (Chủ tịch Hội
bóng chuyền Ba Lan), thành phần tiểu ban gồm 13 nước Châu Âu, 5
nước châu Mỹ và 4 nước châu Á. Tiểu ban đã quyết định lấy Luật
Bóng chuyền của Mỹ làm cơ sở cho luật thi đấu bóng chuyền và có
thay đổi một số điều như :
- Lấy đơn vị mét làm đơn vị đo lường chính thức.
- Phần thân thể chạm bóng chỉ tính từ thắt lưng trở lên.
- Đấu thủ chắn bóng không được chạm bóng lần thứ hai, khi chưa
có người khác chạm bóng.
- Chiều cao của lưới nữ là 2,24 m. Vị trí phát bóng được thu hẹp
lại.
Ngoài ra tiểu ban còn quyết định đưa môn bóng chuyền vào
chương trình thi đấu Thế vận hội năm 1940. Năm 1948, lần đầu tiên
Hiệp hội Bóng chuyền Quốc tế tổ chức giải vô địch bóng chuyền
Nam châu Âu ở Rôm (Italia), có 6 đội tham gia, đội Tiệp Khắc đoạt
chức vô địch.
Tháng 9/1949, tại Praha (Tiệp Khắc) tổ chức Giải Vô địch Bóng
chuyền thế giới lần thứ nhất cho các đội nam và vô địch Châu Âu
cho các đội nữ. Hai đội bóng chuyền nam nữ của Liên Xô đều giành
chức vô địch. Thời kỳ 1948/1968 bóng chuyền phát triển rất mạnh
trên toàn Thể giới. Các giải vô địch Thế giới, vô địch Châu Âu, cúp
Châu Âu được tiến hành thường xuyên và ngày càng thu hút nhiều
đội đại biểu các nước tham gia. Năm 1964, bóng chuyền chính thức
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
được đưa vào chương trình Thế vận hội ở Tôkyô (Nhật Bản), đội
bóng chuyền nam Liên Xô và đội bóng chuyền nữ Nhật Bản giành
chức vô địch. Luật Bóng chuyền vẫn không ngừng hoàn thiện. Trong
thời gian này kỹ, chiến thuật bóng chuyền cũng được phát triển cao.
1.2. Sự hình thành và phát triển môn bóng chuyền ở Việt Nam qua các
thời kỳ:
Môn bóng chuyền xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta vào năm
1922. Tuy gặp rất nhiều khó khăn và trải qua nhiều bước thăng trầm
của lịch sử đất nước, môn bóng chuyền vẫn không ngừng được duy
trì, củng cố và phát triển. Bóng chuyền Việt Nam đã tồn tại và phát
triển qua các thời kỳ:
- Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám.
- Từ Cách mạng tháng Tám đến 1954.
- Từ 1954 đến 1964.
- Từ 1964 đến 1975.
- Từ 1975 đến nay.
1.2.1. Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám.
Bóng chuyền xuất hiện vào nước ta có màu sắc riêng không
giống như một số nước quanh ta lúc bấy giờ. Kích thước sân bãi gần
giống như bóng chuyền hiện tại.
Chiều dài sân : 18m - rộng: 9m. Khu phát bóng: 1,2 m. Lưới
bóng chuyền của nam cao 2,4 m, của nữ là 2,2 m. Số điểm thi đấu
của mỗi hiệp là 21. Các cầu thủ trong đội được đánh 4 chuyền. Nếu
phát bóng rơi vào khu phát bóng của đối phương thì được 2 điểm.
Trận thi đấu bóng chuyền đầu tiên được tổ chức giữa người Hoa ở Hà
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
Nội và Hải Phòng năm 1927. Dưới ách thống trị của thực dân phong
kiến, phong trào bóng chuyền nước ta không phát triển được.
1.2.2. Từ Cách mạng tháng Tám đến 1954.
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân ra đời.
Bác Hồ kính yêu ra “ lời kêu gọi tập Thể dục” và được toàn dân
nhiệt liệt hưởng ứng. Một số môn thể thao được hình thành, bóng
chuyền đã được phát triển ở các vùng nông thôn và nhân dân đã tập
luyện đông đảo. Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
châu Á tại Campuchia và đứng thứ 3 (nam và nữ ). Năm 1969 giải
bóng chuyền đại biểu các nghành lần thứ nhất được tổ chức tại Hà
Nội, đồng thời các giải hạng A và B vẫn được duy trì nhằm củng cố
và khôi phục phong trào.
- Năm 1970 - 1972, giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại
miền Bắc với quy mô ác liệt và mạnh mẽ hơn, nhưng chúng đã thất
bại. Chỉ sau 8 tháng, sau Hiệp định Pari, giải hạng A năm 1973 lại tổ
chức với sự tham gia 24 đội nam, nữ.
- Năm 1974, giải hạng B được tổ chức từ cơ sở, thu hút đông đảo
quần chúng tham gia. Giải hạng A được tổ chức theo định kỳ đã chọn
được 12 đội A
1
(nam, nữ) và 12 đội A
2
(nam, nữ).
1.2.5. Từ 1975 đến nay.
Đất nước hoà bình thống nhất phong trào bóng chuyền nói riêng
và phong trào TDTT nói chung được phát triển mạnh mẽ, hầu hết các
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
tỉnh, thành, nghành đều có các đội bóng chuyền. Các giải truyền
thống hàng năm được tổ chức, số đội ngày càng tăng và trình độ
chuyên môn của VĐV không ngừng được nâng cao.
Tháng 8/1991, tại Đại hội Hiệp hội Bóng chuyền Việt Nam
(VFV- Volleyball Federation of Vietnam) lần thứ hai đã quyết định
đổi tên thành Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam, là thành viên của
Liên đoàn Bóng chuyền Thế giới (VIVB) và Liên đoàn Bóng chuyền
châu Á (AVC). Hàng năm tổ chức giải vô địch các đội mạnh toàn
quốc. Giải Bóng chuyền A
1
, A
thời. Khi tập luyện thực hiện các động tác yêu cầu phải tập trung chú
ý cao, lặp lại nhiều lần qua đó giúp cho người tập từng bước tăng
cường sức mạnh tay, chân và toàn thân, hình thành khả năng xử lý
nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo, tạo điều kiện thích ứng với những
hoạt động phức tạp trong lao động sản xuất, chiến đấu cũng như
trong cuộc sống hàng ngày.
Tập luyện và thi đấu bóng chuyền còn là một quá trình rèn luyện,
bồi dưỡng con người phát triển toàn diện về phẩm chất ý chí, tâm lý,
ý thức và tinh thần tập thể, tính kiên trì và dũng cảm.
Tác động thẩm mỹ của bóng chuyền rất lớn đối với con người,
tác động này không chỉ giới hạn trong quá trình tập luyện bóng
chuyền con người sẽ đạt được sự phát triển hài hòa về cơ thể, vẻ đẹp
và sức truyền cảm của các động tác mà còn thông qua sự hiệp đồng
hành động khi thực hiện phối hợp các chiến thuật, bản thân cuộc đua
tranh trong thi đấu và niềm vui chiến thắng sẽ mang lại niềm vui sâu
sắc. Điều đó giải thích tại sao bóng chuyền lại có sức hấp dẫn lớn lao
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
với quần chúng các lứa tuổi và nghành nghề khác nhau và tại sao đội
ngũ người tập bóng chuyền ngày càng phát triển lớn mạnh.
3. Kỹ thuật cơ bản.
3.1. Khái niệm.
- Kỹ thuật là biện pháp thực hiện một động tác nào đó, mà biện
pháp ấy được thể hiện trong những hoạt động cụ thể có chủ định của
vận động viên.
Bản chất kỹ thuật thể hiện ở sự vận dụng hợp lý khéo léo của con
người với khả năng hoạt động của họ để hoàn thành nhiệm vụ với
chất lượng cao nhất. Những nhiệm vụ ấy trong bóng chuyền thể hiện
ở di động đỡ bóng kịp thời, nhanh nhẹn, phát bóng cao có tốc độ
nhanh, mạnh, chuẩn xác, thay đổi hướng bóng
- Kỹ thuật là cơ sở phát triển đồng thời là biện pháp cơ bản thực
bóng sẽ bay. Bóng bay đi trong không khí ở dạng tịnh tiến và không
xoáy vì sức cản của môi trường tác động lên bề mặt phía ngoài của
bóng xem như giống nhau.
Bóng bay thường chuyển động theo hướng thẳng. Nhưng cũng có
nhiều yếu tác động tới quỹ đạo bay của bóng. Cự ly bay của bóng phụ
thuộc vào lực tác động, trọng lượng bóng và góc độ bay. Tốc độ bay
của bóng càng lớn thì lực cản không khí càng tăng cự ly bay giảm và
góc độ lớn tốc độ rơi tương đối nhanh. Nếu tốc độ bay của bóng theo
phương nằm ngang giảm dần thì chuyển động của bóng gần như
chuyển sang dạng rơi tự do.
3.2.3. Bóng xoáy.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
- Khi tác động một lực không qua tâm bóng, thì bóng bay đi ở
dạng xoáy. Bóng xoáy có thể xoay quanh nó với nhiều trục khác
nhau, các dạng xoáy phụ thuộc vào vị trí tác động trên bề mặt của
bóng và hướng của lực.
- Nếu điểm tiếp xúc và hướng lực tác động trên trục dọc của tâm
bóng thì xoáy theo trục ngang. Nếu hướng lực tác động qua trục dọc
phía trên tâm bóng thì bóng bay theo hướng thẳng và xoáy xuống.
- Nếu lực tác động qua phía dưới tâm bóng thì bóng sẽ xoáy lên.
Nếu điểm tiếp xúc và hướng của lực lệch sang phải hoặc trên trục
ngang thì bóng sẽ xoáy quanh nó theo trục dọc từ phải sang trái và
đường bay của bóng cũng theo hướng đó. Tiếp xúc ngược lại thì bóng
sẽ xoay từ trái sang phải và đường đi cũng theo hướng đó. Tốc độ
xoay của bóng phụ thuộc vào lực tác động và độ dài cánh tay đòn của
trục xoay. Cánh tay đòn được tính từ tâm bóng tới điểm gần nhất trên
véc-tơ lực khi tác động.
3.2.4. Bật nhảy.
Trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền các đấu thủ thường bật
nhảy cao tại chỗ và có đà. Độ cao của bật nhảy phụ thuộc vào nhiều
Theo điều 2.5: Cột lưới được đặt ở vị trí cách đường biên dọc về
phía ngoài 1m.
*) Đội trưởng trên sân.
Theo điều 5.1: Vận động viên Libero không được làm đội trưởng
và đội trưởng trên sân.
*) Được 1 điểm, thắng một hiệp và thắng toàn trận.
Khi đội đỡ phát bóng thắng một pha bóng đội đó ghi được 1 điểm
đồng thời giành được quyền phát bóng và các cầu thủ đội đó xoay
vòng một vị trí theo chiều kim đồng hồ.
4.1.2. Bắt lỗi.
Trong một pha bóng đội phạm lỗi bị thua pha bóng đó khi.
- Nếu đội đối phương phát bóng thì đội đó được thêm một điểm
và được tiếp tục phát bóng.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
- Nếu đội đối phương đỡ phát bóng thì đội đó được thêm một
điểm và giành quyền phát bóng. Nếu đội phạm lỗi sai vị trí bị phạt
như sau: Đội phạm lỗi bị sử thua pha bóng đó (đối phương được 1
điểm và được quyền phát bóng).
- Phạm lỗi khi phát bóng không dùng trật tự xoay vòng đội bị
phạt thua pha bóng đó, đối phương ghi thêm 1 điểm và giành quyền
phát bóng.
Cụ thể theo điều 6 Luật Bóng chuyền thì:
* Được một điểm.
- Đội đang phát bóng, nếu đội đối phương phạm lỗi thì được một
điểm và tiếp tục phát bóng.
- Đội đang phát bóng, nếu phạm lỗi thì mất quyền phát bóng và
đội đối phương được quyền phát bóng (đổi bóng) đồng thời được 1
điểm.
* Thắng một hiệp.
Đội thắng 1 hiệp (trừ hiệp 5) là đội được 25 điểm trước và hơn
* Luật VĐV tự do (Libero).
Trang phục Libero phải mặc áo có màu khác hẳn với các VĐV
khác trong đội. Trong thi đấu, Libero được phép thay thế bất kỳ VĐV
hàng sau nào và chỉ giữ vai trò như VĐV hàng sau không được đập
bóng tấn công từ bất kỳ vị trí nào (kể cả trong sân đấu và khu vực tự
do), nếu vào thời điểm chạm bóng, bóng hoàn toàn ở cao hơn mép
trên của lưới. Libero không được phát bóng, chắn bóng hoặc giả chắn
bóng.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
Nếu một Libero chuyền bóng cao tay ở khu hàng trước hoặc phần
kéo dài của khu này thì VĐV đập bóng không được đập quả bóng
cao hơn mép trên của lưới. Libero chuyền bóng cao tay ở sau khu
hàng trước thì VĐV được tự do đập bóng.
Thay Libero không tính là thay người thông thường số lần thay
không hạn chế, nhưng giữa hai lần thay người phải có một pha giao
bóng. Libero chỉ được thay bằng VĐV mà anh chị (Libero) đã vào
thay. Libero vì trấn thương đã phải thay ra không được vào sân thi
đấu tiếp phần còn lại của trận đó.
4.2. Phương pháp tổ chức thi đấu.
- Thi đấu là một biện pháp rất quan trọng trong công tác huấn
luyện bóng chuyền, thông qua thi đấu nâng cao trình độ kỹ thuật -
chiến thuật cũng như thể lực cho cầu thủ, giúp họ rèn luyện lòng
dũng cảm, ý chí ngoan cường và tinh thần tập thể.
- Thi đấu còn là cách giải trí lành mạnh góp phần nâng cao đời
sống văn hóa tinh thần cho mọi tầng lớp quần chúng, thi đấu còn
mang một ý nghĩa chính trị là tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa
các đơn vị, địa phương thậm trí giữa các quốc gia với nhau.
4.2.1. Các bước tiến hành một giải thi đấu bóng chuyền. Bao gồm 3
giai đọan sau: Trước, trong và sau khi thi đấu.
* Giai đoạn trước khi thi đấu.
là do số trận ít nên không đánh giá được chính xác trình độ của các
đội. Trong hình thức này có 2 cách vạch biểu đồ thi đấu như sau.
- Nếu số đội tham gia = 2
n
, thì cho bốc thăm thi đấu với nhau.
Ví dụ: Có 8 đội (=2
3
) theo biểu đồ sau.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
- Nếu số đội tham gia không bằng 2
n
, thì ta vận dụng công thức
X = ( a - 2
n
).2 để tính số đội thi đấu trước, trong đó.
+ X: là số đội thi đấu trước.
+ Tổng số đội tham gia.
+ n là số tự nhiên, sao cho 2
n
nhỏ hơn và gần bằng tổng số đội
tham gia.
Ví dụ: Có 11 đội tham gia. Theo công thức ta có: X = (11- 2
3
).2 =
1 1 2
2 1 3 3 3
4
3 1 3
4 4
Chung kết
5 5 3 7
6 5 5
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
8 Vô địch
9
6
6
5
6
1
1
1
2
3
3
4
7 7 8
7 7 6
8 Bảng chính Bảng phụ
* Thi đấu vòng tròn.
Thi đấu vòng tròn tính điểm gồm hai thể thức: gặp nhau 1 lượt và
gặp nhau 2 lượt. + Ưu điểm của hình thức này: là xác định được
chính xác về trình độ các đội tham gia, xếp hạng được tất cả các đội
tham gia. Đội thắng là đội có tổng số điểm cao nhất.
+ Nhược điểm của hình thức này: là hạn chế số đội tham gia, thời
gian thi đấu kéo dài và tốn kém, do vậy thường chỉ áp dụng với giải
có ít đội tham gia.
Khi tiến hành tổ chức thi đấu theo hình thức này phải xác định
được tổng số trận đấu và số ngày cần cho thi đấu. Thi đấu theo thể
thức gặp nhau 2 lượt phải tăng gấp đôi số trận và số ngày thi đấu.a)
Tính số trận theo công thức (vòng tròn một lượt):
( )
2
1
−
=
AA
X
- X là tổng số trận đấu.
- A là tổng số đội tham gia.
Ví dụ : Có 7 đội tham gia, thì số trận đấu là.
( )
21
2
177
Trận 3 - 6 2 - 5 0 - 4 7 - 3 6 - 2 5 - 0 4 - 7
Trận 4 - 5 3 - 4 2 - 3 0 - 2 7 - 0 6 - 7 5 - 6
Chú ý: Đội nào gặp số 0 thì nghỉ trận đó.
Bảng 2. Lịch thi đấu vòng tròn tính điểm (6 đội)
Vòng đấu Vòng1 Vòng2 Vòng3 Vòng4 Vòng5
Trận 1 - 6 1 - 5 1 - 4 1 - 3 1 - 2
Trận 2 - 5 6 - 4 5 - 3 4 - 2 3 - 6
Trận 3 - 4 2 - 3 6 - 2 5 - 6 4 - 5
Để đảm bảo công bằng, thứ tự của các đội được thực hiện bằng
cách rút thăm. Tuy nhiên khi xếp lịch cũng cần tính tới thời gian nghỉ
giữa 2 trận đấu của mỗi đội và phải đảm bảo sao cho số lần thi đấu
buổi sáng, buổi chiều và buổi tối của mỗi đội là tương đương nhau.
Để theo dõi kết quả thi đấu của các đội và làm căn cứ xếp hạng
cho các đội tham gia, ta lập bảng thống kê kết quả thi đấu toàn giải.
Lưu ý : Trong thực tế thi đấu, kết quả toàn giải có thể có 2,3
đội bằng điểm nhau, vì vậy căn cứ vào biên bản thi đấu của từng trận
đấu để tổng hợp kết quả tổng số: hiệp thắng, hiệp thua, quả thắng,
quả thua của từng đội để làm căn cứ xếp hạng chính xác cho từng đội
tham gia thi đấu (trên cơ sở dựa vào luật và điều lệ giải đã quy định).
Ví dụ : Có 5 đội tham gia giải, ta có bảng thống kê sau.
Số A D C D E Điểm Xếp hạng
A 3-0 2-3 3-1 3-1
1 0 1 1
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
B 0-3 2-3 3-1 3-2
0 0 1 1
C 3-2 3-2 3-0 3-1
1 1 1 1
D 1-3 1-3 0-3 3-2
0 0 0 1
1.1.2. Tư thế đánh bóng.
- Tư thế đánh bóng được hình thành sau khi di chuyển để tiếp cận
với bóng hoặc cũng có thể ngay từ tư thế chuẩn bị chuyển sang tư thế
đánh bóng. Tư thế đánh bóng có những đặc điểm riêng tuỳ theo kỹ
thuật như : chuyền bóng cao tay, chuyền bóng thấp tay, đập bóng,
chắn bóng
Tùy theo đặc điểm tính chất các đường bóng đến, cũng như mục
đích yêu cầu kỹ thuật, chiến thuật, hoàn cảnh khách qua để lựa chọn
tư thế đánh bóng cho phù hợp.
1.2. Di chuyển.
Di chuyển trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền là phương
pháp di chuyển của đấu thủ từ vị trí này đến vị trí khác, là khâu trung
gian nối liền giữa tư thế chuẩn bị và tư thế đánh bóng.
Di chuyển có những phương pháp chính sau: Chạy, bước, nhảy,
ngã Tuỳ theo từng tình huống cụ thể mà vận dụng phương pháp di
chuyển cho phù hợp, hiệu quả tốt nhất.
1.2.1. Chạy.
Trong bóng chuyền được sử dụng khi bóng xa người, có đặc
điểm là tăng tốc độ xuất phát, khoảng cách di chuyển ngắn, đột ngột
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
thay đổi hướng và dừng lại. Bước chạy cuối cùng phải dài nhất và
được kết thúc bằng động tác hãm của chân đưa ra trước. Nó giúp cho
người tập có khả năng dừng lại nhanh sau khi di chuyển và thay đổi
hướng di chuyển.
1.2.2. Bước.
Trong kỹ thuật bóng chuyền bước gồm có: Bước thường, bước
lướt, bước chéo, bước nhảy, bước xoạc.
* Bước thường.
Được vận dụng nhiều khi bóng đến có tốc độ chậm, cự ly không
xa . Trong quá trình thực hiện động tác thân người ở tư thế gần như
theo mọi phía song chủ yếu là sang ngang hay về phía trước.
1.2.3. Nhảy.
Trong bóng chuyền có bật nhảy để đập bóng, nhảy chuyền bóng,
chắn bóng hoặc bước nhảy, cả nhảy để đập xa đỡ bóng phòng thủ.
Bật nhảy bằng hai chân và một chân; bật nhảy tại chỗ và có đà.
1.2.4. Lăn và ngã.
- Lăn là các động tác quay để xoay chuyển thân.
- Ngã là phương pháp di chuyển gồm có: Ngã sấp, ngã nhửa và
ngã nghiêng. Ngã được vận dụng nhiều trong phòng thủ như cá nhảy,
lăn nghiêng cứu bóng, ngã ngửa chuyền bóng. Ngã không chỉ là
phương pháp đỡ bóng thuận lợi, nhanh mà còn là biện pháp bảo vệ
thân thể khi đỡ bóng.
1.3. Đội hình giảng giải thị phạm:
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
1.3.1. Đội hình giảng giải vào làm mẫu.
- Chủ yếu là hàng ngang xếp thành nhiều hàng. Góc độ quan sát
của giáo viên không quá lớn.
- Làm mẫu toàn bộ động tác. kết hợp vừa giảng giải vừa làm
mẫu. Làm mẫu chậm cho người tập theo. Khi người tập đã nắm được
thì giáo viên chỉ dẫn theo hiệu lệnh của mình.
1.3.2. Hình thức tập luyện:
- Đứng tại chỗ tập tư thế chuẩn bị nhiều lần.
- Từ tư thế chuẩn bị bước sang ngang, tiến lên trước lùi về sau 1,
2 bước.
- Thực hiện nhiều bước di động
-Từ tư thế chuẩn bị quay người đổi hướng di động.
- Di động nhanh rồi dừng lại, chạy tiếp hoặc đổi hướng di động.
- Tại chỗ thực hiện động tác bật nhảy. tại chỗ thực hiện động tác
bước xoạc, lăn ngã.
- Di động nhiều bước xoạc, lăn ngã.
tác xuất phát phải nhanh, tăng nhanh tốc độ ở một phần ba quãng
đường đầu tiên, rồi sau đó từ từ dừng lại để chọn vị trí đón bóng.
Bước cuối cùng là bước gìm, điều đó giúp cho việc chọn vị trí đón
bóng để chuyền bóng tới địa chỉ cần thiết.
Tư thế chuẩn bị, hai chân hơi khuỵu ở khớp gối (không nhỏ hơn
90
0
) hai tay co tự nhiên ở khớp khuỷu và đưa lên cao, hai bàn tay ở
phía trước mặt, các ngón cái ở ngang tầm lông mày. Các ngón trỏ tạo
thành hình tam giác và qua đó người tập có thể quan sát bóng bay tới
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền
gần, mỗi bàn tay khum xoè tạo thành hình ô van, hai bàn tay hợp
thành hình túi để chuẩn bị chuyền bóng (Hình 1).
Hình 1
Khi bóng tới gần thì 2 chân bắt đầu động tác phối hợp chuyền
bóng bằng cách duỗi mạnh khớp gối, đẩy người lên hơi chếch ra phía
trước. Sau đó là động tác của hai tay, vươn duỗi mạnh khớp khuỷu để
tạo hướng tay cơ bản của bóng khi chuyền đi. Hoạt động vươn duỗi
tay đẩy bóng được thực hiện nhờ chuyển động thẳng của trục khớp cổ
tay so với trục khớp vai. Khi thực hiện động tác đẩy bóng đi, hai chân
đạp duỗi mạnh và nhanh chóng kết hợp với hai tay vươn duỗi khớp
khuỷu nhưng chậm hơn (Hình2).
Để điều chỉnh hướng bóng, hai lòng bàn tay phải vuông góc với
hướng bóng chuyền đi, khi hai tay chạm đẩy bóng thì bàn tay hơi ưỡn
ra sau. Chức năng thực hiện đẩy bóng của các ngón tay cũng khác
nhau. Các ngón cái hướng ra sau chịu lực hoãn xung chính và cùng
với các ngón tay khác bật đẩy bóng theo hướng chuyền. Các ngón trỏ
và ngón giữa là bộ phận bật đẩy chính của bàn tay còn các ngón đeo
nhẫn và ngón út chỉ giữ phía bên trong của bóng và điều chỉnh hướng
bóng đi.
chuyển chuyền bóng.
- Chuyền tam giác.
- Chuyền chéo lưới. Tư số 6 > 2, 4.Từ số 5 > số 3 hoặc số 2, từ số
1> 3 hoặc 4.
- Tập chuyền hai nâng cao độ khó.
- Thi đấu.
2.2. Kỹ thuật chuyền bóng thấp tay bằng hai tay.
2.2.1. Đặc điểm và tác dụng.
Đệm bóng là một kỹ thuật sử dụng cẳng tay, bàn tay đệm đẩy
bóng đi, diện tiếp xúc giữa tay và bóng rộng, nhưng điểm tiếp xúc ít
hơn chuyền bóng cao tay, do đó đã hạn chế được phạm lỗi kỹ thuật
như dính bóng, hai tiếng Đây là kỹ thuật phòng thủ quan trọng của
bóng chuyền , dùng để đỡ phát bóng, đỡ đập bóng và cứu bóng.
* Tác dụng:
- Đỡ được những đường bóng nhanh, mạnh, thấp, khó, khi đối
phương tấn công sang.
- Phạm vi khống chế rộng, đỡ được những đường bóng ở xa thân
người.
- Nâng cao thể lực, tính nhanh nhẹn, linh hoạt và lòng dũng cảm
cho người tập.
- Cấu trúc kỹ thuật đơn giản, kỹ thuật dễ tiếp thu và thuận lợi hơn
chuyền bóng cao tay.
Đệm bóng gồm có các kỹ thuật chính: Đệm hai tay, đệm lật sau
đầu, đệm nghiêng mình, đệm một tay và lăn cứu bóng. Ngoài ra trong
thi đấu còn có thể dùng thân người, dùng chân đỡ bóng.
2.2.2. Phân tích kỹ thuật chuyền bóng thấp tay bằng hai tay cơ bản.
Đây là kỹ thuật dùng khi thực hiện hướng bóng đi và hướng
bóng đến đều ở phía trước mặt và gần như cùng quỹ đạo chuyển động
nhưng ngược chiều.
* Tư thế chuẩn bị:
vận dụng cụ thể, tùy thuộc đặc điểm góc độ đường bóng đến và độ
cao của đường bóng muốn chuyền đi mà quyết định góc độ của tay
đệm bóng cho phù hợp.
Kết thúc động tác: Khi bóng ra tay hai chân tiếp tục duỗi, tay
nâng theo hướng bóng đi một đoạn ngắn rồi nhanh chóng trở về tư
thế chuẩn bị để tiếp tục thực hiện những động tác tiếp theo.
2.2.3. Đội hình giảng giải, làm mẫu động tác.
* Làm mẫu:
Dùng hai người làm mẫu toàn bộ động tác ở giữa hai hàng,
hướng bóng đi song song với hàng.
Sau đó giảng dạy từng phần, phân tích từng cử động, làm mẫu lần
hai cần nêu rõ mấu chốt kỹ thuật, mục đích, yêu cầu kỹ thuật.
2.2.4. Hình thức tập luyện:
* Tập không có bóng:
- Tập hình tay, làm nhiều lần ( đúng kỹ thuật đã giảng)
- Tập tư thế và hình tay khi chuyền bóng
- Chuyền bóng tại chỗ, chú ý chuyển thân nhịp nhàng.
- Di chuyển các bước các hướng chuyền bóng đi.
* Tập có bóng:
- Chuyền bóng cố định tại chỗ( dùng bóng treo hay một người
giữ bóng một người tập).
- Di động tập chuyền bóng cố định, di động nhanh, chiếm vị trí
tốt, có tư thế đúng, phối hợp nhịp nhàng.
- Tự tung tự chuyền.
Đề cương học phần GDTC 2 – Bóng chuyền 9 10 Đề cương học phần GDTC 2– Bóng chuyền