TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT & QUỐC PHÕNG
GIÁO TRÌNH
(Lƣu hành nội bộ)
GIÁO DỤC THỂ CHẤT (BÓNG CHUYỀN)
(Dành cho các lớp hệ Đại học chính quy)
Tác giả: Bộ môn Giáo dục thể chất
Năm 2016
1
Mục lục
Lời nói đầu
3
CHƢƠNG 1. LÝ THUYẾT
4
1.1. Lịch sử phát sinh, phát triển của môn Bóng chuyền
4
1.1.1. Lịch sử phát sinh, phát triển của môn Bóng chuyền
4
35
2.1.3. Các bài tập về tƣ thế chuẩn bị và di chuyển, thể lực
36
2.2. Kỹ thuật chuyền bóng
36
2.2.1. Chuyền bóng thấp tay bằng hai tay
36
2.2.2. Chuyền bóng cao tay bằng hai tay
37
2.2.3. Các bài tập bổ trợ kỹ thuật chuyền bóng thấp tay và cao tay
39
2.2.4. Các trò chơi vận động với bóng
39
2.2.5. Các bài tập thể lực
39
44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
45
2
Lời nói đầu
Bóng chuyền là môn thể thao đối kháng gián tiếp và tính tập thể cao, đây cũng là một
môn thể thao giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất và huấn luyện thể
thao. Để đáp ứng yêu cầu đào việc biên soạn giáo trình phục vụ công tác giảng dạy và học
tập phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn gắn với phát triển của đất nước.
Giảng dạy bóng chuyền không chỉ trang bị cho người tập những kỹ năng, kỹ xảo vận động
mà còn trang bị cho họ những phẩm chất đạo đức, ý chí, tính kiên trì và lòng dũng cảm.
Thông qua các nguồn tài liệu tham khảo của các tác giả, chuyên gia về lĩnh vực bóng
chuyền trong và ngoài nước, cũng như đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy. Chúng
tôi tiến hành biên soạn cuốn “Giáo trình bóng chuyền”, có kết cấu nội dung và phương
pháp sát với chương trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học phục vụ sinh viên
trường Đại học Quảng Bình.
Trong quá trình biên soạn giáo trình chúng tôi đã cô đọng, cập nhật một cách đầy đủ nhất
những nội dung kiến thức cơ bản về giảng dạy môn bóng chuyền. Mặc dù đã rất cố gắng
song chắc khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Trân trọng cảm ơn!
3
4
Năm 1922 tại Brooklyn (Mỹ) chính thức tổ chức giải bóng chuyền và quyết định đƣa
môn bóng chuyền vào chƣơng trình Thế vận hội lần thứ VIII sẽ tổ chức vào năm 1924 tại
Pari (Pháp).
Cùng với sự phát triển của phong trào bóng chuyền, luật thi đấu cũng đƣợc thay đổi:
- Năm 1900 mỗi điểm kết thúc ở điểm 21. Chiều cao lƣới là 2,13 m và các đƣờng
biên đƣợc tính là trong sân.
- Năm 1912 diện tích sân là 10,6 m x 18,2m; chều cao lƣới là 2,28m; chiều rộng lƣới
là 0,91m. Sau khi phát bóng hỏng thì thay cầu thủ.
- Năm 1917: Chiều cao lƣới là 2,43 m.
- Năm 1918: Đội hình mỗi đội có 6 ngƣời, điểm mỗi hiệp là 15.
- Năm 1921: Có thêm đƣờng kẻ giữa sân.
- Năm 1922: Mỗi đội chỉ đƣợc chạm bóng 3 lần.
- Năm 1923: Diện tích sân bóng chuyền là 9,1 m x 18,2 m
- Năm 1925: Khi ở tỉ số 14 - 14, đội nào hơn 2 điểm trƣớc thì thắng hiệp ấy.
Luật lệ thay đổi có tác dụng thúc đẩy các mặt kỹ thuật và chiến thuật phát triển. Từ
một trò chơi đƣợc hình thành từ các động tác tự nhiên với mục đích nghỉ ngơi tích cực, bóng
chuyền trở thành một môn thể thao.
Từ năm 1929 đến năm 1939, kỹ thuật và chiến thuật bóng chuyền có những bƣớc tiến
nhảy vọt. Chắn bóng tập thể xuất hiện đã thúc đẩy sự phát triển các hình thức tấn công mới.
Bóng chuyền trở thành môn thể thao mang tính tập thể nhiều hơn. Điều đó đƣợc thể hiện rất
rõ trong cách sắp xếp các đấu thủ trên sân, trong việc tổ chức tấn công và phòng thủ, trong
việc yểm hộ ngƣời đập bóng và ngƣời chắn bóng.
Năm 1934 Tại Thụy Điển, thành lập ủy ban kỹ thuật bóng chuyền, quyết định lấy luật
bóng chuyền Mỹ làm cơ sở cho luật thi đấu bóng chuyền (có thay đổi vài điều) và đƣa môn
bóng chuyền vào chƣơng trình thi đấu Thế vận hội năm 1940.
+ Lấy đơn vị mét làm đơn vị đo lƣờng thống nhất.
FIVB còn qui định Luật bóng chuyền sẽ đƣợc thay đổi 4 năm 1 lần.
+ Năm 1961: Tăng số lần thay ngƣời trong một hiệp lên 6 lần.
+ Năm 1965: Cho phép tay qua lƣới chắn bóng và ngƣời tham gia chắn bóng đƣợc
đánh bóng lần thứ 2 ngay sau khi chắn chạm bóng nhằm nâng cao khả năng phòng thủ và sự
liên tục của trận đấu.
Trong thời gian 1948 - 1968, kỹ chiến thuật bóng chuyền cũng đƣợc phát triển cao:
+ Kỹ thuật đập bóng giãn biên, đập nhanh, đập lao, đập trên tay chắn đã xuất hiện
nhiều ở các giải đấu quốc tế.
6
+ Chiến thuật tấn công cũng phát triển nhƣ: Tấn công 2 chuyền phối hợp với động tác
giả; tấn công 3 ngƣời do hàng sau đan lên tổ chức (chuyền 2); tấn công "đan chéo", "đập
chồng", đập với động tác giả...
+ Chiến thuật phát bóng cũng xuất hiện, đặc biệt là kỹ thuật phát bóng cao tay
nghiêng mình bay của đội bóng chuyền nữ Nhật Bản.
+ Đi đôi với sự cải tiến kỹ - chiến thuật phát bóng, kỹ thuật đệm bóng cũng xuất hiện
và đƣợc sử dụng chủ yếu trong chuyền bƣớc một. Các kỹ thuật lăn ngã cứu bóng trong
phòng thủ cũng ra đời.
Tháng 7/1966 tại Hunggari lần đầu tiên tổ chức Giải bóng chuyền trẻ châu Âu (đến
20 tuổi) có 12 đội nữ và 16 đội nam tham gia. Đội bóng chuyền nam, nữ trẻ của Liên Xô
đoạt chức vô địch.
Bắt đầu từ năm 1965 đã xác định thứ tự tổ chức các giải bóng chuyền quốc tế lớn:
Cúp thế giới tổ chức vào năm sau giải vô địch, sau đó là giải vô địch châu Âu và cuối cùng
là Thế vận hội Olympic. Nhƣ vậy mỗi năm đều có một giải thi đấu chính thức. Từ năm 1975
giải vô địch Bóng chuyền châu Âu 2 năm tổ chức 1 lần.
FIVB tổ chức các giải chính thức sau:
+ Giải trong chƣơng trình của Thế vận hội Olympic tổ chức 4 năm 1 lần (1980...
2000, 2004)
- Lƣới nam cao 2,40m; lƣới nữ cao 2,20m.
- Số điểm thi đấu mỗi hiệp là 21.
- Các cầu thủ trong đội đƣợc đánh 4 chuyền.
- Nếu phát bóng rơi vào khu phát bóng của đối phƣơng thì đƣợc 2 điểm
Năm 1927 trận thi đấu bóng chuyền đầu tiên đƣợc tổ chức giữa ngƣời Hoa ở Hải
Phòng và Hà Nội.
Năm 1928 Giải bóng chuyền đầu tiên đƣợc tổ chức ở Bắc kỳ giữa 2 đội: Một đội
ngƣời Việt Nam và một đội ngƣời Pháp.
Dƣới ách thống trị của thực dân phong kiến, phong trào bóng chuyền nƣớc ta không
đƣợc phát triển
* Từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1954
Sau Cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền nhân dân ra đời. Bác Hồ ra "Lời kêu
gọi tập thể dục" và đƣợc toàn dân nhiệt liệt hƣởng ứng. Một số môn thể thao đƣợc hình thành.
Bóng chuyền đã phát triển ở các vùng nông thôn và đƣợc nhân dân tham gia tập luyện đông
8
đảo. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bóng chuyên trở thành môn thể thao chủ
yếu trong các cơ quan kháng chiến ở Việt Bắc, ở Khu 5 và trong các đơn vị bộ đội...
Trong thời kỳ này đã tổ chức 2 giải bóng chuyền:
+ Giải vô địch Liên khu 3 cho 3 tỉnh: Thái Bình - Hải Dƣơng - Hƣng Yên
+ Giải vô địch Liên khu 5 cho 2 tỉnh: Quảng Nam - Quảng Ngãi.
Tuy phong trào phát triển rộng nhƣng kỹ chiến thuật bóng chuyền còn rất đơn giản,
vẫn áp dụng luật cũ. Mối liên hệ giữa phong trào trong nƣớc và thế giới chƣa có, do đó
những kỹ thuật tiên tiến trên thế giới không có điều kiện du nhập vào nƣớc ta.
* Từ năm 1954 đến năm 1975
Sau khi hoà bình lập lại ở nƣớc ta (1954), bóng chuyền có điều kiện thuận lợi để phát
triển. Phong trào bóng chuyền phát triển mạnh mẽ trong các lực lƣợng vũ trang. Đoàn Thể
Công - một tổ chức thể dục thể thao của quân đội đƣợc thành lập bao gồm nhiều môn trong
Inđônêxia.
Năm 1964: Uỷ ban Thể dục thể thao Trung ƣơng phong cấp kiện tƣớng và cấp I đầu
tiên cho vận động viên môn bóng chuyền.
Từ tháng 8 năm 1964, miền Bắc bƣớc vào cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại
của Mỹ. Phong trào thể dục thể thao nói chung và bóng chuyền nói riêng tạm thời bị thu hẹp.
Tháng 3 năm 1965, tổ chức Hội nghị bóng chuyền tại Hải dƣơng nhằm xác định
phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển môn bóng chuyền trong thời chiến: Tiếp tục duy trì ở
các địa phƣơng, cơ sở có phong trào mạnh.
Năm 1969, Giải bóng chuyền đại biểu các nghành lần thứ nhất đƣợc tổ chức tại Hà
Nội, đồng thời các giải bóng chuyền hạng A và B vẫn đƣợc duy trì nhằm củng cố và khôi
phục phong trào.
Năm 1970, Chỉ thị 180 của Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng về công tác thể dục thể thao
bổ sung tăng cƣờng lực lƣợng cán bộ, vận động viên bóng chuyền cho các cơ sở nhằm phục
vụ sức khỏe quần chúng.
Năm 1973, Giải bóng chuyền hạng A với sự tham gia của 24 đội nam, nữ.
Năm 1974, Giải bóng chuyền hạng B đƣợc tổ chức từ cơ sở đã thu hút đông đảo quần
chúng tham gia. Giải hạng A đƣợc tổ chức theo định kỳ và chọn đƣợc 12 đội A1 (nam, nữ)
và 12 đội A2 (nam, nữ).
* Từ năm 1975 đến nay
Từ năm 1975 đến nay, đất nƣớc hòa bình, thống nhất, môn bóng chuyền đƣợc phát
triển mạnh mẽ. Hằng năm từ cơ sở đến Trung ƣơng đều tổ chức các giải bóng chuyền cho
10
các đối tƣợng ở hầu hết các tỉnh, thành, nghành. Số đội tham gia thi đấu ngày càng tăng,
trình độ chuyên môn của vận động viên và các đội cũng không ngừng đƣợc nâng cao.
Tháng 8 năm 1991: Tại Hà Nội, Đại hội Hiệp hội Bóng chuyền Việt Nam lần II đã
quyết định đổi tên thành Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam (Volleyball Federatron of Vietnam
- VFV). Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam là thành viên chính thức của FIVB và AVC (Liên
tham gia giải hạng A toàn miền Bắc.
Sau tháng 4 năm 1975, Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề nay là Bộ
Giáo dục - Đào tạo đã cùng Hội thể thao Đại học và Chuyên nghiệp Việt Nam phối hợp tổ
chức định kỳ giải bóng chuyền toàn Ngành, lôi cuốn hàng trăm trƣờng và hàng ngàn vận
động viên tập luyện và thi đấu.
1.1.2. Ảnh hƣởng và tác dụng của tập luyện bóng chuyền đối với cơ thể
a. Đặc điểm môn bóng chuyền
Đặc điểm nổi bật của bóng chuyền là yêu cầu thiết bị dụng cụ, sân tập và luật tƣơng
đối đơn giản, đƣợc đông đảo quần chuáng ƣa thích.
Bóng chuyền là môn thể thao có tính tập thể, tính đối kháng cao, hoạt động thi đấu
bóng chuyền càng ở trình độ cao thì càng sôi nổi, hấp dẫn cho ngƣời tập lẫn ngƣời xem. Tập
luyện môn bóng chuyền đòi hỏi ngƣời tập có trình độ toàn diện về thể lực cũng nhƣ về kỹ
chiến thuật và tâm lý - ý chí.
Các kỹ thuật bóng chuyền đều đƣợc thực hiện trong điều kiện thời gian tay chạm
bóng rất ngắn. Do đó, yêu cầu đặc biệt quan trọng là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các
động tác và sự di chuyển của vận động viên theo hƣớng và tốc độ bay của bóng.
Vận động viên cần học cách xác định quỹ đạo và tốc độ bay của bóng để di chuyển
đến đón bóng kịp thời và đúng lúc với tƣ thế chuẩn bị ban đầu thuận tiện nhất để thực hiện
các kỹ thuật đỡ bóng, chuyền bóng, đập bóng, chắn bóng và kịp thời thực hiện các động tác
cần thiết. Nhờ sự hổ trợ của các bài tập chuyên môn, vận động viên phải có khả năng giải
quyết nhanh những nhiệm vụ đó. Phát triển khả năng này ở mức độ cao là cơ sở để đảm bảo
cho việc tiếp thu kỹ thuật một cách tốt nhất.
Sự kết hợp sức nhanh và sức mạnh giữ vai trò hàng đầu trong bóng chuyền, đồng thời
tốc độ co cơ và việc điều chỉnh tốc độ di chuyển, độ chuẩn xác của động tác trong không
gian rất cần thiết trong chuyền bƣớc một, chuyền hai, đập bóng, phát bóng
Đặc điểm nổi bật nữa của bóng chuyền là tính phức tạp và sự nhanh chóng của việc
giải quyết các nhiệm vụ vận động trong tình huống thi đấu, sức nhanh của phản ứng vận
động và khả năng điều khiển động tác. Vận động viên cần phải xác định vị trí các đấu thủ
12
Kết quả thi đấu là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá trình độ thể thao của vận động viên và
chất lƣợng công tác huấn luyện của huấn luyện viên, giáo viên.
13
- Đặc điểm hoạt động thi đấu bao gồm một số lƣợng lớn các bài tập thi đấu nhƣ các
động tác kỹ thuật, các hành động chiến thuật đƣợc lặp lại nhiều lần trong quá trình thi đấu để
đạt thành tích thể thao.
Những nét đặc thù của môn bóng chuyền cho phép ta đƣa ra những yêu cầu đối với
một vận động viên có trình độ chuyên môn cao. Những yêu cầu này có tác dụng định hƣớng
đối với việc đào tạo các vận động viên trong các môn thể thao thi đấu đồng đội và có thể
đƣợc xếp theo các nhóm sau:
+ Cấu trúc - hình thái.
+ Chức năng - thể lực.
+ Kỹ chiến thuật.
+ Tâm lý cá nhân.
+ Tập thi đấu và thi đấu.
+ Có khả năng về trí tuệ.
b. Ảnh hƣởng và tác dụng của tập luyện bóng chuyền với cơ thể
Từ những đặc điểm của bóng chuyền cho thấy: Giảng dạy và huấn luyện bóng chuyền
có ảnh hƣởng và tác dụng tốt đến ngƣời tập.
Mỗi kỹ thuật bóng chuyền dù đơn giản nhất nhƣ: Chuyền bóng thấp tay, chuyền bóng
cao tay, phát bóng... đòi hỏi ngƣời tập vận động tay chân, toàn thân một cách hợp lý và kịp
thời. Khi thực hiện độngtác yêu cầu phải tập trung chú ý cao và lặp lại nhiều lần giúp ngƣời
tập tăng cƣờng sức mạnh tay, chân, toàn thân, hình thành khả năng xử lý nhanh nhẹn, khéo
léo, tạo điều kiện thích ứng với những hoạt động phức tạp trong lao động sản xuất, trong
chiến đấu cũng nhƣ trong cuộc sống hàng ngày.
Tập luyện và thi đấu bóng chuyền là quá trình rèn luyện, bồi dƣỡng con ngƣời phát
triển toàn diện về phẩm chất tâm lý - ý chí, tinh thần tập thể, tính kiên trì, dũng cảm.
chiều cao tối thiểu 7m tính từ mặt sân.
Hình 1- Khu thi đấu
15
- Mặt sân
Mặt sân phải phẳng, ngang bằng và đồng nhất. Mặt sân không có bất kỳ nguy hiểm
nào gây chấn thƣơng cho vận động viên. Cấm thi đấu trên mặt sân gồ ghề hoặc trơn.
Mặt sân thi đấu trong nhà phải là màu sáng.
Độ dốc thoát nƣớc cho phép của mặt sân là 5mm/m. Cấm dùng các vật liệu cứng để
làm các đƣờng giới hạn trên sân.
- Các đƣờng trên sân (H.2)
Bề rộng các đƣờng trên sân là 5cm có màu sáng khác với màu sân và bất lỳ đƣờng kẻ
nào khác.
Các đƣờng biên: Hai đƣờng biên dọc và hai đƣờng biên ngang giới hạn sân đấu. Các
đƣờng này nằm trong phạm vi kích thƣớc sân đấu.
Đƣờng giữa sân (H.2)
Trục đƣờng giữa sân chia sân đấu ra làm hai phần bằng nhau, mỗi phần 9 x 9m,
đƣơng nhiên bề rộng của đƣờng giữa sân chia đều cho mỗi bên. Đƣờng này chạy dƣới lƣới
nối hai đƣờng biên dọc với nhau.
Đƣờng tấn công:
Ở mỗi bên sân có một đƣờng tấn công đƣợc kẻ song song với đƣờng giữa sân tính từ
mép sau đƣờng tấn công tới trục của đƣờng giữa là 3m, để giới hạn khu trƣớc (khu tấn công).
Hình 2 – Khu thi đấu
16
- Ăng ten
Ăng ten là thanh tròn dẻo đƣờng kính 10mm dài 1,8m làm bằng sợi thủy tinh hoặc
chất liệu tƣơng tự.
Ăng ten đƣợc buộc chặt sát với mép ngoài mỗi băng giới hạn. Ăng ten đƣợc đặt đối
nhau ở hai bên lƣới (H.3).
Phần ăng ten cao hơn lƣới 80cm, đƣợc sơn xen kẽ các đoạn màu tƣơng phản nhau,
mỗi đoạn dài 10cm, tốt nhất là màu đỏ và trắng.
Ăng ten thuộc phần của lƣới và giới hạn 2 bên của khoảng không gian bóng qua trên
lƣới (H.3 và 5).
- Cột lƣới (H.3)
Cột căng giữ lƣới đặt ở ngoài sân cách đƣờng biên dọc 0,50 - 1,00m, cao 2,55m, có
thể điều chỉnh đƣợc.
Cột lƣới tròn và nhẵn, đƣợc cố định chắc xuống đất, không dùng dây cáp giữ. Cấm
cột lƣới có các dụng cụ phụ trợ nguy hiểm.
c. Những ngƣời tham gia
* Thành phần của đội
Một đội gồm tối đa 12 VĐV, 1 HLV trƣởng, 1 HLV phó, một săn sóc viên và một
bác sĩ.
Một VĐV của đội (trừ Libero) là đội trƣởng trên sân phải đƣợc ghi rõ trong biên bản
thi đấu.
18
Chỉ các VĐV đã đăng ký trong biên bản thi đấu mới đƣợc phép vào sân và thi đấu.
Khi HLV và đội trƣởng đã ký vào biên bản thi đấu thì không đƣợc thay đổi thành phần đăng
ký của đội nữa.
* Vị trí của đội bóng
Các VĐV không thi đấu có thể ngồi trên ghế của đội mình hoặc đứng ở khu khởi
động của đội mình.
Nếu hai đội cùng phạm hai hoặc nhiều lỗi thì xử hai đội cùng phạm lỗi. Đánh lại pha
bóng đó.
- Hậu quả của thắng một pha bóng.
Một pha bóng là chuỗi các hành động đánh bóng tính từ thời điểm ngƣời phát bóng
đánh chạm bóng đến khi trọng tài thổi còi "bóng chết".
Nếu đội phát bóng thắng pha bóng đó thì đội phát bóng đƣợc một điểm và tiếp tục
phát bóng.
Nếu đội đối phƣơng đỡ phát bóng thắng pha bóng đó thì đội đó đƣợc một điểm và
giành quyền phát bóng.
* Thắng một hiệp
Đội thắng một hiệp (trừ hiệp thứ 5 - hiệp quyết thắng) là đội đƣợc 25 điểm trƣớc và hơn đội
kia ít nhất 2 điểm. Trƣờng hợp hòa 24 - 24, phải đấu tiếp cho đến khi hơn nhau 2 điểm (26 24, 27 - 25...)
* Thắng một trận
- Đội thắng một trận là đội thắng 3 hiệp.
- Trong trƣờng hợp hòa 2 - 2, hiệp quyết thắng (hiệp 5) đấu đến 15 điểm và đội thắng
phải hơn ít nhất 2 điểm.
* Bỏ cuộc và đội hình không đủ ngƣời đấu
Nếu một đội sau khi đã đƣợc mời đến thuyết phục vẫn từ chối không đấu, đội đó bị
tuyên bố bỏ cuộc và bị thua với kết quả toàn trận 0 - 3; mỗi hiệp 0 - 25.
Nếu một đội không có lý do chính đáng để có mặt đúng giờ thi đấu thì bị tuyên bố bỏ
cuộc và xử lý kết quả thi đấu nhƣ trên.
Một đội bị tuyên bố không đủ đội hình thi đấu một hiệp hoặc một trận thì bị thua hiệp
đó hoặc trận đó. Đội đối phƣơng đƣợc thêm đủ số điểm và số hiệp còn thiếu để thắng hiệp
trận đó. Đội có đội hình không đủ ngƣời đấu bị giữ nguyên số điểm và kết quả các hiệp
trƣớc.
e. TỔ CHỨC TRẬN ĐẤU
20
21
Tuy nhiên, nếu huấn luyện viên muốn giữ VĐV không ghi trong phiếu báo vị trí ở lại
trên sân, thì huấn luyện viên có thể xin thay thông thƣờng và ghi vào biên bản thi đấu.
* Vị trí (Hình 4)
Ở thời điểm VĐV phát bóng đánh bóng đi thì trừ VĐV này, các cầu thủ của mỗi đội
phải đứng đúng vị trí trên sân mình theo đúng trật tự xoay vòng.
Vị trí của các VĐV đƣợc xác định đánh số nhƣ sau:
Ba VĐV đứng dọc theo lƣới là những VĐV hàng trƣớc: vị trí số 4 (trƣớc bên trái), số
3 (trƣớc giữa) và số 2 (trƣớc bên phải).
Ba VĐV còn lại là các VĐV hàng sau: Vị trí số 5 (sau trái), số 6 (ở sau giữa) và 1
(sau bên phải).
Quan hệ vị trí giữa các VĐV:
Hình 4
Mỗi VĐV hàng sau phải đứng xa lƣới hơn ngƣời hàng trƣớc tƣơng ứng của mình.
Các VĐV hàng trƣớc và hàng sau phải đứng theo trật tự nhƣ Điều 7.4.1.
Xác định và kiểm tra vị trí các VĐV bằng vị trí bàn chân chạm đất nhƣ sau (Hình 4)
22
Mỗi VĐV hàng trƣớc phải có ít nhất một phần bàn chân gần đƣờng giữa sân hơn chân
của cầu thủ hàng sau tƣơng ứng.
Mỗi VĐV ở bên phải (bên trái) phải có ít nhất một phần bàn chân gần đƣờng dọc bên
phải (trái) hơn chân của VĐV đứng giữa cùng hàng của mình.
Khi bóng đã phát đi, các VĐV có thể di chuyển và đứng ở bất kỳ vị trí nào trên sân
của mình và khu tự do.
Một đội có quyền chạm bóng tối đa 3 lần (không kể chắn bóng) để đƣa bóng sang sân
đối phƣơng. Nếu thực hiện quá 3 lần chạm bóng, đội đó phạm lỗi: đánh bóng 4 lần.
Hình 5
Chạm bóng liên tiếp: Một VĐV không đƣợc chạm bóng hai lần liên tiếp.
Cùng chạm bóng: Hai hoặc ba VĐV có thể chạm bóng trong cùng một thời điểm.
Khi hai (hoặc ba) VĐV cùng đội cùng chạm bóng thì tính hai (hoặc ba) lần chạm
bóng (trừ chắn bóng). Nếu hai (hoặc ba) VĐV cùng đến gần bóng nhƣng chỉ có một ngƣời
chạm bóng thì tính một lần chạm. Các VĐV va vào nhau không coi là phạm lỗi.
Nếu VĐV của hai đội cùng chạm bóng trên lƣới và bóng còn trong cuộc thì đội đỡ
bóng đƣợc chạm tiếp 3 lần nữa. Nếu bóng ra ngoài sân bên nào, thì đội bên kia phạm lỗi.
Nếu VĐV của hai đội cùng chạm giữ bóng trên lƣới thì tính 2 bên cùng phạm lỗi và
đánh lại pha bóng đó.
Hỗ trợ đánh bóng: Trong khu thi đấu, VĐV không đƣợc phép lợi dụng sự hỗ trợ của
đồng đội hoặc bất cứ vật gì để giúp chạm tới bóng.
Tuy nhiên, khi một VĐV sắp phạm lỗi (chạm lƣới hoặc qua vạch giữa sân...) thì đồng
đội có thể giữ lại hoặc kéo trở về sân mình.
* Tính chất chạm bóng
Bóng có thể chạm mọi phần của thân thể.
Bóng phải đƣợc đánh đi không dính, không ném vứt, không đƣợc giữ lại. Bóng có thể
nảy ra theo bất cứ hƣớng nào.
24
Bóng có thể chạm nhiều phần thân thể nhƣng phải liền cùng một lúc. Trƣờng hợp
ngoại lệ:
Khi chắn bóng, một hay nhiều cầu thủ chắn bóng có thể chạm bóng liên tục miễn là
những lần chạm đó phải xảy ra trong cùng một hành động.
Ở lần chạm bóng đầu tiên của một đội, bóng có thể chạm liên tiếp nhiều phần khác