đánh bắt, thuần hoá, huấn luyện cá heo biển đông việt nam phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, kinh tế và bảo vệ nguồn lợi - Pdf 25



Chủ nhiệm Dự án: TS. NGUYỄN THỊ NGA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 4/2009

I. TÊN DỰ ÁN

ĐÁNH BẮT, THUẦN HÓA, HUẤN LUYỆN
CÁ HEO BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM PHỤC VỤ MỤC
ĐÍCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, KINH TẾ
VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI
Chủ nhiệm dự án: TS. Nguyễn Thị Nga
Cơ quan chủ trì: Chi nhánh phía Nam – Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Thời gian thực hiện: 40 tháng (Từ tháng 11/2005 đến tháng 04/2009)
Kinh phí được duyệt: 875.000.000đ (đã bổ sung 155.000.000đ)
Tổng kinh phí thự
c hiện dự án: 1.796,4 triệu đồng
(Một ngàn bẩy trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm ngàn đồng)
Trong đó:
- Ngân sách sự nghiệp khoa học do Sở KHCN Tp.HCM cấp: 875triệu đồng, gồm:
Kinh phí triển khai sản phẩm dạng P: 720 triệu đồng (thu hồi 60%) và bổ sung
155.000.000đ (không thu hồi)
- Các nguồn vốn khác, tự có (TTNĐ Việt - Nga, Công ty Utrishki Delphin - Viện
Các Vấn đề Sinh thái Tiến hóa – Viện HLKH Nga): 921,4 triệu đồng.
- Sự hỗ tr
ợ về cơ sở vật chất, hồ lưu giữ… của doanh nghiệp tư nhân Nguyễn
Phan, Công ty TNHH Âu Lạc theo các hợp đồng đã ký kết.
* Kinh phí thu hồi của phần triển khai Dự án (60% trong 720 triệu đồng do Sở
KHCN Tp.HCM cấp) là: 432 triệu đồng
Trả làm 2 lần sau khi nghiệm thu dự án, cụ thể: 06/2009: 220 triệu đồng
10/2009: 212 triệu đồng
2. Mục tiêu: Triển khai quây bắt, thuần dưỡng, huấ
n luyện cá heo biển Đông Việt
Nam phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học, kinh tế, giáo dục và bảo vệ
nguồn lợi.
Trong giới hạn của dự án, chúng tôi tập trung vào đối tượng nghiên cứu là cá
heo ông sư và nội dung thực hiện của dự án bao gồm 2 vấn đề chính:
* Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ thuần dưỡng thích nghi huấn luyện cá heo
ông Sư trong môi trường nhân tạo.
* Tổ chức triể
n khai tạo sản phẩm cá heo ông Sư biểu diễn xiếc.

dụng cụ y t
ế, tủ đá, máy ảnh kỹ thuật số, máy quay
video, bộ đồ lặn, máy phát điện, hệ thống cấp thoát
nước…
3. Tổ chức đánh bắt, vận
chuyển cá heo về địa điểm
lưu giữ, tiến hành nghiên
cứu thuần dưỡng thích nghi
cá heo tại bè, bể vùng biển
Hòn Chông – Kiên Giang.
- Tổ chức 2 đợt thực địa với tổng số 210 ngày, gồm:
+ Đợt 1: 124 ngày (từ 15/1 - 18/5/2006)
+ Đợt 2: 77 ngày (từ 14/2 -30/4/2008)
- Bắt được 15 cá heo ông sư
- Nghiên cứu thuần dưỡng thích nghi ban đầu tại bè
và bể:13 con
- Nghiên cứu xác định liề
u lượng gây mê trong quá
trình vận chuyển. Lựa chọn, vận chuyển 7 cá heo về
CLB cá heo Suối Mơ – Q.9, Tp. HCM và CLB cá
heo Tuần Châu – Quảng Ninh.

3
4. Tiến hành thuần dưỡng
thích nghi, huấn luyện cá
heo trong bể lưu giữ tại CLB
cá heo Suối Mơ - Q.9 -
Tp.HCM, CLB cá heo Tuần
Châu - Quảng Ninh và cung
cấp cho các CLB cá heo

nhóm nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu hoàn thiện các công nghệ và tạo sản
phẩm là cá heo ông sư (Orcaella brevirostris).

Sản phẩm đăng ký
theo hợp đồng
Sản phẩm đạt được
1. Quy trình công nghệ
đánh bắt, vận chuyển cá
heo ông sư, cá heo xám
Về KHCN
:
Quy trình công nghệ đánh bắt, thuần dưỡng thích nghi
ban đầu và vận chuyển cá heo ông sư.
2. Quy trình công nghệ
thuần dưỡng, thích nghi
Nghiên cứu hoàn thiện và xây dựng quy trình công nghệ
thuần dưỡng thích nghi cá heo ông sư trong môi trường

4
cá heo ông sư, cá heo
xám trong môi trường
nước biển nhân tạo.
nước biển nhân tạo.
3. Quy trình công nghệ
huấn luyện cá heo ông
sư, cá heo xám biểu
diễn xiếc.
Đã nghiên cứu hoàn thiện và xây dựng quy trình công
nghệ huấn luyện cá heo ông sư biểu diễn xiếc.
4. Cung cấp 4 cá heo

lợi”. Đề tài đã nghiệm thu đạt xuất s
ắc, được hội đồng khoa học đánh giá cao về ý
nghĩa khoa học và thực tiễn. Đồng thời đã tiếp nhận được công nghệ quý giá, có
hiệu quả từ các chuyên gia Nga, bước đầu đào tạo cán bộ về lĩnh vực nghiên cứu sử
dụng cá heo - hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam. Hội đồng khoa học đã đề nghị
tiếp tục triển khai thực hiện theo 2 giai đ
oạn:
- Giai đoạn 1: (12/2003 đến 04/2005) Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ với đề
tài “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ đánh bắt, thuần dưỡng, huấn luyện cá heo
biển Đông Việt Nam”. Đề tài đã triển khai nghiên cứu và nghiệm thu đạt loại khá.
Kết quả của đề tài đã tạo tiền đề cho việc triển khai thực hiện giai đoạn 2 (dự án P).
- Giai đoạn 2: (11/2005 đế
n 12/2008) được sự chấp thuận của Sở KHCN Tp.
HCM, CNPN – TTNĐ Việt – Nga đã thực hiện dự án “Đánh bắt, thuần hóa, huấn
luyện cá heo biển Đông Việt Nam phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, kinh tế và
bảo vệ nguồn lợi”.

6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Gardner A.L.[3]; Wilson B., 1998 [13] bộ cá voi gồm 10 họ, 44 giống và
khoảng 109 loài. Bộ phụ Mysticeti gồm 4 họ, 10 giống và khoảng 18 loài; bộ phụ
Odontoceti gồm 6 họ, 34 giống và khoảng 91 loài, trong đó họ Delphinidae là họ
lớn nhất gồm 18 giống và xấp xỉ 62 loài, phân bố rộng khắp các đại dương và cửa
sông lớn.
Các nhà khoa học Mỹ, Anh, Nhật (Paul Thompson & Ben Wilson, 1994;
Randall R. Reeves & James Stephen Leatherwood, 1987; Jacques Mayol, 1987…)

huấn luyện cá heo xám sử dụng cho các mục đích khác nhau đặc bi
ệt là cho quốc
phòng, vui chơi giải trí (biểu diễn xiếc) và chữa trị một số bệnh về thần kinh.
Đối với loài cá heo ông Sư (Orcaella brevirostris) hiện nay trên thế giới các
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đặc điểm hình thái, phân loại, phân bố và di cư.
Trên cơ sở các nghiên cứu sâu về miễn dịch, đặc điểm hình thái thông qua
nghiên cứu DNA và trình tự sắp xếp chuỗi gene b tế bào sắc tố, Rice (1998) đ
ã chỉ
ra rằng cá heo ông sư (Orcaella brevirostris) có nhiều đặc điểm hình thái giống với
họ Delphinidae hơn là họ Monodontidae. Đồng thời, cũng từ các nghiên cứu về
hình thái và di truyền, Arnolk, 2002 đã xếp cá heo ông sư vào họ Delphinidae và
cho rằng họ hàng gần nhất của loài này là loài cá heo sát thủ (Orcinus orca) [12].
Các nghiên cứu cơ bản như âm thanh, giấc ngủ, hoạt độ ngày đêm, đặc điểm
sinh học, tập tính, sinh sản, mùa vụ sinh s
ản hầu như chưa được thực hiện. Các
nghiên cứu bước đầu về thuần dưỡng, huấn luyện cũng chỉ mới tiến hành tại Thái
Lan.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu về cá voi, cá heo biển Đông Việt Nam còn rất ít. Từ
1990 đến nay một số Viện như: Viện nghiên cứu biển Hải Phòng, Viện Hải dương
học Nha Trang, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga…đã nghiên cứu vấn đề này. Năm
1995, trong các chuyến dã ngoại khảo sát dọc bờ biển Việt Nam, Đào Tấn Hỗ và
cộng sự chỉ quan sát thấy một số ít động vật biển có vú. Qua nhữ
ng bộ xương được
lưu giữ tại các “Đền cá voi” đã chứng minh được có 16 loài động vật có vú biển (1
cá voi tấm sừng và 15 cá voi có răng, cá heo lớn và nhỏ) và 1 loài lợn biển đã xuất
hiện ở Việt Nam [2].
Việc phân loại nhóm cá voi đang được trưng bày trong các Viện Bảo tàng Việt
Nam cũng là những tài liệu quý giá hỗ trợ cho việc nghiên cứu. Những bộ xương

phối hợp Việt – Nga có đề tài: “Nghiên cứu khả năng đánh bắt, thuần dưỡng cá heo
biển Đông Việt Nam”. Các đề tài cấp Tp.HCM gồ
m: “Nghiên cứu khả năng thích
nghi của cá heo di nhập từ Nga trong điều kiện nhiệt đới tại Tp.HCM nhằm làm cơ
sở cho việc sử dụng cá heo biển Đông Việt Nam phục vụ mục đích nghiên cứu khoa
học, kinh tế và bảo vệ nguồn lợi” và đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ đánh
bắt, thuần dưỡng, huấn luyện cá heo biển Đông Việt Nam”.
Một s
ố kết quả đạt được liên quan đến dự án:
- Đã thuần dưỡng thích nghi cá heo từ vùng ôn đới trong điều kiện nhiệt đới
tại Tp.HCM.

9
- Trên cơ sở thu thập các nguồn tài liệu trong và ngoài nước, kết hợp khảo sát
thực địa tại những vùng biển đảo Bình Thuận, Kiên Giang đã xác định được thành
phần loài cá voi – cá heo biển Đông Việt Nam là 22 loài, trong đó có nhiều loài
thông minh có khả năng thuần dưỡng huấn luyện.
- Đã bước đầu xác định được tần số bắt gặp, mùa vụ, địa điểm cá heo xuất
hiện tạ
i các vùng biển Bình Thuận, Kiên Giang.
- Đối với cá heo xám (Tursiop aduncus): Tại quần đảo Bà lụa (nơi có độ sâu
<10m) hầu như không bắt gặp sự xuất hiện của cá heo xám. Kết quả khảo sát qua
nhiều năm cho thấy cá heo xám tại vùng biển tỉnh Kiên Giang chỉ xuất hiện nơi có
độ sâu lớn (trên 20m). Phương pháp quây bắt cá heo mà Công ty Utrishki Delphin
đang áp dụng chỉ phù hợp để bắt cá heo ở độ sâu < 10m. Do vậy để quây bắt
được
loài này tại vùng biển Kiên Giang cần phải tiếp tục nghiên cứu lựa chọn phương
pháp phù hợp, hoặc phối hợp với ngư dân.
- Đã thuần dưỡng thích nghi và huấn luyện 1 cá heo Xám (T. aduncus) biểu
diễn xiếc (18 tiết mục). Kết quả bước đầu cho thấy tập tính sinh học cá heo xám

1.2.1. Phân loại
: Theo Shah S., 1999 [9], cá heo ông sư thuộc:
Giới (Kingdom) : Animalia (Động vật)
Ngành (Phylum) : Chordata (Dây sống)
Ngành phụ (Subphylum) : Vertebrata (Động vật có xương sống)
Lớp (Class) : Mammalia (Động vật có vú)
Bộ (Order) : Cetacea (Cá voi)
Bộ phụ (Suborder) : Odontoceti (Cá voi có răng)
Họ (Family) : Delphinidae (Cá heo)
Giống (Genus) : Orcaella
Loài (Species) : Orcaella brevirostris
Tên khoa học : Orcaella brevirostris (Gray, 1866) [11]
Tên tiếng Anh : Irrawaddy dolphin [11]
Tên tiếng Đức : Irrawadi Delphin [11]
Tên tiếng Tây Ban Nha : Delfín del Irrawaddy [11]
Tên tiếng Pháp : Orcelle [11]
Tên khác : Snubfin Dolphin [1]
Tên tiếng Việt : Cá heo ông sư

12
1.2.2. Phân bố địa lý

Cá heo ông sư phân bố nhiều ở các vùng biển ven bờ và những con sông lớn
của Đông Nam á, phía Bắc Australia, và Papua New Guinea [9].
1.2.3. Đặc điểm cư trú

Cá heo ông sư sống ở các vùng biển ven bờ, nước lợ và nước ngọt (các hệ
thống sông chính) của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ấn Độ – Thái Bình Dương.
Chúng được tìm thấy ngược dòng xa tận 1.440 km và có thể sống lâu dài trong nước
ngọt [9].

Răng cá heo ông sư đồng dạng, hẹp, nhọn và giống như những cái cọc với
phần đỉnh hơi bằng. Răng dài khoảng 1cm, số lượng khoảng 17 – 20 (hàm trên) và
15 – 18 (hàm dưới) ở mỗi cung phần tư [9].
1.2.5. Sinh sản

Các đặc điểm sinh học của cá heo ông sư hầu như chưa được nghiên cứu sâu,
đặc biệt là đặc điểm về sinh sản còn ít được biết.
- Mùa vụ sinh sản: mùa giao phối của cá heo ông sư thường được cho là kéo
dài từ tháng 4 đến tháng 6 ở hồ Semayang - khu vực sông Mahakam của
Kalimantan, còn theo ngư dân Campuchia, mùa bắt cặp là từ tháng 3 đến tháng 6 ở
11 - 12 độ vĩ bắc. Các ngư dân cho rằng họ quan sát thấy việc giao hợ
p hầu như
hàng ngày trong suốt thời gian này, và cũng thường xuyên thấy các trận chiến giữa
những con đực với nhau.
Những cá heo ông sư bắt được trong vùng Semayang đã sinh con trong bể lưu
giữ ở Jakarta (6 độ bắc của Kalimantan) vào tháng 7 và tháng 12. Cá thể mới sinh
dài 96cm và nặng 12,3kg, được sinh ra 12 ngày sau khi thấy sữa tiết lần đầu từ mẹ
nó. Thú con bắt đầu bú 12 giờ sau khi sinh và ăn cá chết vào 6 tháng tuổi. Nó được
cho thôi bú hoàn toàn vào 2 tuổi. Trong suốt 7 tháng đầu, chiề
u dài của nó tăng
57cm (59%) và trọng lượng khoảng 32,7kg (266%).
- Thời gian mang thai: được ước tính trung bình là 14 tháng
- Thời gian thôi bú: trung bình là 24 tháng
- Tuổi thành thục sinh dục hay trưởng thành về khả năng sinh sản: trung bình
là 1.826 ngày (~ 5 tuổi). Tuổi trưởng thành giới tính không được biết, nhưng có dấu
hiệu cho thấy ít nhất là vài cá thể đạt đến kích thước trưởng thành khi chúng được 4
đến 6 tuổi [9]
1.2.6. Tập tính bơi lội

Bình thường chúng bơi chậm, thong thả, uyển chuyển trên mặt nước. Thời


Cá heo ông sư lấy thức ăn từ trong nước và cả dưới đáy. Có vẻ như cá xương
là loại thức ăn chủ yếu của cá heo ông sư, nhưng các quan sát cũng cho thấy chúng
ăn cả các loại giáp xác (crustacean), thân mềm (cephalopod) và trứng cá. Kết quả
khảo sát dạ dày của 10 cá heo ông sư từ vùng biển ven bờ cách xa Townsville -
Autralia cho thấy tất cả đều có chứa cá xương (thuộc 16 bộ và 13 họ), trong đó có
09 dạ dày chứ
a giáp xác, và tất cả đều có chứa các phần còn lại của động vật thân
mềm (10 với mực ống, 3 với mực, và 2 với bạch tuộc). Hai loài cá thuộc họ cá chép
là Cirrihinus siamensis và Paralaubuca typus được cho là nguồn thức ăn đặc biệt
quan trọng đối với cá heo ông sư ở vùng Đông Bắc Cambodia và CHDCND Lào.
Đối với cá heo ông sư ở hồ Semanyang (Kalimantan) thì có vẻ như cá chép là
nguồn thức ăn quan trọng nhất [9].

15
1.3. TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA DỰ ÁN
Nước ta có chiều dài bờ biển 3.260km. Sử dụng cá heo đã được huấn luyện để
góp phần phát triển du lịch, kinh tế biển là vấn đề mới và khả thi ở Việt Nam.
Qua tổng quan tư liệu và các chuyến khảo sát thực địa cho thấy cá heo biển
Đông Việt Nam đa dạng phong phú về thành phần loài (22 loài), trong đó có nhiều
loài thông minh có th
ể thuần dưỡng, huấn luyện cho các mục đích khác nhau, nhưng
hiện nay chưa được nghiên cứu sử dụng. Đặc biệt, có hiện tượng săn bắt cá heo bừa
bãi, cá heo bị mắc lưới nhưng không được cứu chữa. Do vậy, cần có chương trình
nghiên cứu để bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật biển quý hiếm này.
Hiện nay các CLB cá heo đang hoạt động ở Việt Nam đề
u phải thuê cá heo từ
LB Nga, Trung Quốc, Indonesia với chi phí rất cao cho việc thuê cá heo, thuê
chuyên gia cũng như chi phí tạo môi trường sống thích nghi trong điều kiện nhiệt
đới tại Việt Nam. Vì vậy, nếu nghiên cứu sử dụng cá heo biển Đông Việt Nam thì

2.1.1.1. Chuẩn bị phương tiện lưu giữ tại địa điểm quây bắt

Sau khi quây bắt, cá heo được vận chuyển về bè trên biển hoặc bể lưu giữ
thuần dưỡng thích nghi ban đầu trên bờ sử dụng nước biển tự nhiên.
a. Bè lưu giữ
Bè lưu giữ cá heo được thiết kế và lắp đặt theo tài liệu thiết kế, các thông số
kỹ thuật của các chuyên gia Nga kết hợp với kinh nghiệm của ngư dân địa phương
và cán bộ nghiên cứu Việt Nam. Thiết k
ế bè đã được cải tiến phù hợp với điều kiện
địa lý và khí tượng thủy văn của vùng biển Kiên Giang qua các mùa vụ quây bắt từ
năm 2000 đến nay.
Nguyên lý chung thiết kế bè lưu giữ cá heo:
- Diện tích bè lưu giữ cá heo phải phù hợp, bảo đảm diện tích mặt nước tối
thiểu là 6m
2
/ cá thể, độ sâu 3 – 5m.
- Thuận tiện trong quá trình chăm sóc, cho ăn.
- Độ bền của vật liệu làm bè phù hợp, bền trong nước biển.
- Có khả năng chống chịu điều kiện sóng gió ở biển.
- Lưới dù mềm, kích thước mắt lưới lớn để giảm lực cản của nước và làm
thoáng không gian trong bè, không có những vật cứng làm xây xát cá.
- Tiết kiệm về kinh tế.
- Dễ tháo dỡ, di chuyển bả
o quản vào mùa gió bão.
Các điều kiện cơ bản để lựa chọn địa điểm đặt bè lưu giữ:
- Môi trường nước cần phải sạch, độ sâu từ 6m trở lên lúc thủy triều thấp nhất
- Vùng biển yên tĩnh, ít bị ảnh hưởng của giông bão.
- Gần bến cảng hoặc sân bay, thuận tiện giao thông chuyên chở, bảo vệ.
- Có hệ thống điện, nước phụ
c vụ cho việc lưu giữ bảo quản thức ăn của cá.

lớn nhỏ khác nhau như: Hòn Một, Hòn Lô Cốc, Hòn Đá Lửa, Hòn Heo, Hòn Đá
Bạc, Hòn Rễ Lớn, Hòn Rễ Nhỏ, Hòn Nhum Bà, Hòn Ngang Tổng diện tích
khoảng 100ha, độ cao trung bình dưới 100m, nằm cách nhau từ 100 – 3.000m. Đảo
xa nhất cách bờ khoảng 35km, đảo gần nhất cách bờ khoảng 1km. Độ sâu trung
bình trong quần đảo là 5 – 7m. Đáy biển là cát bùn, cát đá, tại một số vị trí có nhiều
đá ngầm. Đây là vùng biển hở thuộc vịnh Thái Lan.
2.1.2.4. Phương pháp quây bắt
: theo công nghệ quây bắt cá heo xám của các
chuyên gia Nga ở biển Đen và đã được nghiên cứu hoàn thiện tại vùng biển tỉnh
Kiên Giang.

18
Quây bắt cá heo theo phương pháp dẫn dụ kết hợp cưỡng bức bằng cano cao
tốc (công suất 150 HP, vận tốc 60 – 80km/h), thuyền cao su và lưới chuyên dụng.
2.1.3. Thuần dưỡng thích nghi ban đầu

Thuần dưỡng, thích nghi thời gian 1 – 3 tháng tại bè trên biển hoặc bể xây trên
bờ tại địa điểm quây bắt. Đối với loài ông sư, áp dụng quy trình chăm sóc, thuần
dưỡng thích nghi đã được nghiên cứu hoàn thiện tại Việt Nam.
2.1.4. Vận chuyển

Hiện nay, trên thế giới thường sử dụng 02 phương pháp vận chuyển cá heo là
vận chuyển khô và vận chuyển ướt [7].
Phương pháp vận chuyển khô: cá heo được đặt trên sàn của thuyền cao su,
phía dưới có trải nệm. Đối với phương pháp vận chuyển này, cá không cần phải ở
trong môi trường nước, nhưng phải bảo đảm giữ cho da cá luôn ẩm bằng cách
thường xuyên tưới nước lên thân cá hoặc dùng vải thấ
m nước phủ lên thân cá (tránh
che lỗ thở).
Phương pháp vận chuyển ướt: cá heo được đặt trong thùng vận chuyển, bên

2.2.1.3. Phương pháp
: nghiên cứu hoàn thiện công nghệ thuần dưỡng, huấn
luyện cá heo ông sư Việt Nam trên cơ sở công nghệ thuần dưỡng, huấn luyện cá heo
xám của các chuyên gia Nga - Viện HLKH Nga.
Giai đoạn này cá heo sống trong môi trường nước nhân tạo, có xử lý hoá chất,
vì vậy việc chăm sóc sức khỏe cho cá heo bao gồm quản lý chất lượng môi trường
nước, chăm sóc dinh dưỡng và thú y.
a. Quản lý chất lượng nước
Nước bể
lưu giữ được xử lý theo quy trình khép kín bằng phương pháp xử lý
cơ học, sinh học, hóa học. Kiểm tra, điều chỉnh môi trường sống nhiệt độ, độ mặn,
pH, hàm lượng NH
4
+
, NO
2
-
, Clo tổng, Clo tự do … 3 lần / ngày [6,7]
b. Chăm sóc, dinh dưỡng, phòng và trị bệnh
Dựa vào tiểu chuẩn khẩu phần ăn của cá heo xám khoảng 10 – 12% trọng
lượng cơ thể/ngày để kiểm tra, điều chỉnh số lượng và chất lượng thức ăn hàng
ngày, hàng tuần, hàng tháng phù hợp với cá heo ông sư. Thức ăn được rửa sạch và
bảo quản ở nhiệt độ từ (-15
0
C) đến (-20
0
C) trước khi cho cá ăn. Mẫu thức ăn được
phân tích thành phần sinh hóa, các chỉ tiêu vi sinh tại các Viện chuyên ngành.
Kiểm tra các chỉ tiêu sinh hóa máu 1 lần/ tháng để theo dõi sức khỏe của cá
heo. Phân tích các chỉ tiêu huyết học, sinh hóa tại Viện Pasteur Tp. HCM, TTYT


Phương tiện
lưu giữ
Tổ chức
quây bắt,
thuần
dưỡng
thích nghi
ban đầu
cá heo
ông Sư
Chuẩn bị cơ sở vật chất

Bể
Phương tiện

Thuần dưỡng thích nghi
b
an đầu t

i bè
(
bể
)22

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. TỔ CHỨC QUÂY BẮT, THUẦN DƯỠNG THÍCH NGHI BAN ĐẦU CÁ
HEO ÔNG SƯ
3.1.1. Phương tiện lưu giữ tại địa điểm quây bắt

3.1.1.1. Bè lưu giữ

Trên cơ sở các nguyên lý chung về thiết kế bè của chuyên gia Nga, kết hợp với
kết quả nghiên cứu từ năm 2000 đến nay, nhóm nghiên cứu đã cải tiến các thông số
kỹ thuật về thiết kế bè phù hợp với điều kiện môi trường ở Việt Nam, cụ thể:
Mùa vụ quây bắt cá heo năm 2006 và 2008, đã lắp ráp 4 bè có kích thước (8 x
4 x 3,5)m, phần nổi trên mặt nước là 0,5m.
Đáy bè cơ độ
ng, có thể nâng lên - hạ xuống dễ dàng, thuận tiện cho thao tác
chăm sóc cá heo (cho ăn, cho uống nước, chăm sóc vết thương, tiêm thuốc …).
Địa điểm neo đặt bè: trên cơ sở các yêu cầu kỹ thuật công nghệ chăm sóc
thuần dưỡng thích nghi ban đầu cá heo và điều kiện khí tượng thủy văn của khu vực

Việc triển khai quây bắt cá heo được tiến hành trên cơ sở các chuyến khảo sát
trự
c tiếp của nhóm nghiên cứu, đồng thời kết hợp thu thập thông tin của ngư dân về
sự xuất hiện của cá heo trong quần đảo Bà Lụa để tiến hành quây bắt.
Quây bắt cá heo theo phương pháp dẫn dụ kết hợp cưỡng bức bằng cano cao
tốc (công suất 150 HP, vận tốc 60 – 80km/h), thuyền cao su và lưới chuyên dụng.
Số lượng người tối thiểu để có thể tổ chức buông lưới quây bắt cá heo là 6 ng
ười.
Trong đó cử 1 người có kinh nghiệm buông lưới ngồi trên thuyền cao su chở lưới
được kéo theo sau cano, những người còn lại ngồi trên cano cao tốc quan sát sự xuất
hiện của cá heo.
Phương pháp quây bắt cá heo ông Sư được tóm tắt như sau:
Trong quá trình khảo sát trên biển, khi phát hiện đàn cá heo, tiến hành điều
khiển tàu chạy vòng tròn tạo thành hình lòng chảo, dụ cá vào giữa và chọn thời
điểm thích hợp để buông lưới.
Khi nghe hiệu l
ệnh buông lưới, người ngồi trên thuyền cao su chở lưới lập tức
thả neo cố định đáy lưới và ôm phao lưới nhảy xuống biển để cố định một đầu lưới.
Ca nô sẽ kéo thuyền cao su buông lưới khép lại theo hình vòng tròn. Sau khi quây
lưới thành công, cá heo đã ở trong lưới, không nên thu hẹp lưới ngay mà chờ cho
trạng thái tinh thần cá ổn định rồi mới từ từ thu hẹp vòng tròn lưới và nhẹ nhàng bắt
cá đưa lên thuy
ền cao su đã được chuẩn bị từ trước. Thao tác bắt cá cần nhanh, gọn,
tạo cảm giác an toàn, tránh làm cá hoảng sợ.
Đây là phương pháp mà các chuyên gia Nga đã sử dụng thành thạo và có hiệu
quả đối với loài cá heo xám Tursiops truncatus tại Biển Đen – Liên Bang Nga. Đặc
biệt với phương tiện, ngư cụ, phương pháp dụ bắt này chỉ có thể áp dụng tại vùng
biển có độ sâu dưới 8m, đáy biển bằng phẳ
ng và có nhiều eo, vịnh để quây dụ cá.
Với điều kiện này chỉ có thể phù hợp tổ chức dụ bắt tại quần đảo Bà Lụa – Kiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status