ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
KHOA KINH TẾ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 3
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ 8
I. TIỀN LƯƠNG 8
1. Tổng quan 8
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương 9
3. Quỹ lương 10
4. Các hình thức trả lương 12
5. Quản lý nhà nước về tiền lương 15
II. GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG 17
1. Tổng quan 17
2. Các nhân tố tác động đến giá cả thị trường 18
CHƯƠNG 2
MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ 25
I. SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ 25
1. Thời gian và tỉ lệ tăng thực tế về tiền lương và giá 25
2. Những ý kiến đánh giá về lương và giá 26
II. CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ 28
1. Sự rượt đuổi giữa lương và giá 28
2. Chính sách tiền lương 29
CHƯƠNG 3
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 4
Đây là một đề tài rộng, được nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Cụ thể là dựa
trên những cơ sở số liệu thu thập từ các đề án tăng lương của Nhà nước và sự biến động về
giá thị trường trong 10 năm trở lại đây. Thông qua phân tích các dữ liệu, các đánh giá từ các
chuyên gia và khảo sát thực tế để rút ra kết luận về vấn đề tiền lương và giá cả thị trường
hiện nay, đồng thời xây dựng các mục tiêu định hướng tiền lương và giá cả trong thời gian
tới.
Mục tiêu của đề tài là làm rõ các vấn đề liên quan đến lương và giá cả, sự tác động qua lại
giữa lương và giá, giải quyết các khó khăn, thách thức về tình hình lương và giá hiện nay,
định hướng đề án giải pháp tiền lương và giá từ nay tới năm 2020.
Để thu thập thông tin, nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các biện pháp sau:
- Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp qua các nguồn báo chí, internet, tài liệu nội bộ…
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ
liệu sơ cấp, thông qua các bảng khảo sát, các đánh giá nhận xét của quần chũng nhân
dân, người tiêu dùng về lương và giá cả thị trường…
- Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá để hoàn thiện đề tài.
Kết cấu của đề tài có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương và giá cả.
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 6
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
Chương 2: Mối quan hệ giữa tiền lương và giá cả.
Chương 3: Giải pháp định hướng cải cách tiền lương và giá cả.
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 7
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ GIÁ CẢ
I. TIỀN LƯƠNG
1. Tổng quan.
Đứng trước biến động không có lợi của nền kinh tế thế giới hiện nay, Việt Nam là một trong
những nước châu Á có nền kinh tế ít biến động nhất, Đảng và nhà nước ta không lấy đó làm
chủ quan để quên đi mục đích cuối cùng là tiến tới XHCN – một xã hội mà trong đó con
tăng, mức sống, tiêu dùng tăng, về cơ bản không do chính sách tiền lương đem lại mà do
tăng thu nhập ngoài lương, nhờ kinh tế tăng trưởng.
2. Các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương.
Nhóm nhân tố thuộc thị trường lao động: Cung – cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến
tiền lương.
Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung về
lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động
bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng. Tiền lương lúc này là tiền
lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao
động thay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …).
Khi chi phí sinh hoạt thay đổi, do giá cả hàng hoá, dịch vụ thay đổi sẽ kéo theo tiền lương
thực tế thay đổi. Cụ thể khi chi phí sinh hoạt tăng thì tiền lương thực tế sẽ giảm. Như vậy
buộc các đơn vị, các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa cho công nhân để đảm
bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, đảm bảo tiền lương thực tế không bị giảm.
Trên thị trường luôn tồn tại sự chênh lệch tiền lương giữa các khu vực tư nhân, Nhà nước,
liên doanh…, chênh lệch giữa các ngành, giữa các công việc có mức độ hấp dẫn khác nhau,
yêu cầu về trình độ lao động cũng khác nhau. Do vậy, mức lương khác nhau.
Nhóm nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp:
Các chính sách của doanh nghiệp: Các chính sách lương, phụ cấp, giá thành…được áp dụng
triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, trực tiếp tăng
thu nhập cho bản thân.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng ảnh
hưởng tới mức lương. Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền
lương cho người lao động sẽ thuận tiện dễ dàng. Còn ngược lại nếu khả năng tài chính
không vững thì tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh.
Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền
lương.Việc quản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát
và đề ra những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động để tăng
hiệu quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương.
Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc:
tại.
Sự khác nhau về mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng ảnh hưởng tới tiền lương của lao
động.
3. Quỹ lương
Quỹ lương là các bộ phận tiền lương được phân ra của các doanh nghiệp hoặc nhà nước để
quản lý tiền lương tốt hơn với các mục đích riêng nhằm đảm bảo về mặt vật chất và tinh thần
của người lao động, cán bộ công nhân viên chức. Quỹ lương bao gồm: Quỹ lương cơ bản,
quỹ lương biến đổi, quỹ thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ trợ cấp…
Quỹ lương cơ bản: Là loại tiền lương được tính theo chế độ chính sách của nhà nước, có một
bảng lương được quy định rõ ràng. Quỹ lương cơ bản thường chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng quỹ lương. Quỹ lương cơ bản có tác dụng đảm bảo cuộc sống cho người lao động, góp
phần tái sản xuất sức lao động.
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 10
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
Quỹ lương biến đổi: Là phần tiền lương tính cho người lao động gắn với kết quả sản xuất
kinh doanh. Quỹ lương biến đổi phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phần quỹ
lương này thường chiếm một phần tỷ trọng ít hơn so với quỹ lương cơ bản.
Quỹ phúc lợi: Là phần mà các doanh nghiệp hoặc Nhà nước trả cho người lao động, cán bộ
công nhân viên chức ngoài phần lương, thưởng, trợ cấp… Quỹ phúc lợi có tác dụng động
viên tinh thần của công nhân, cán bộ công nhân viên chức nhằm nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần.
Quỹ tiền thưởng: Là tổng số tiền mà doanh nghiệp hoặc Nhà nước trả cho người lao động
ngoài tiền thưởng, trợ cấp… Nhằm nâng cao năng suất lao động. Có các loại tiền thưởng
như sau:
Thưởng cuối năm: Hằng năm nếu công ty kinh doanh có lãi công ty sẽ trích từ lợi nhuận để
thưởng cho người lao động, mức thưởng tùy thuộc vào lợi nhuận mỗi năm.
Mức thưởng cụ thể tùy thuộc vào sự đóng góp công sức, chất lượng công tác, chấp hành đầy
đủ nội quy, qui định của công ty.
Thưởng cuối năm = (tỷ lệ %) x (dự toán tổng tiền thưởng tháng lương 13 trước 30 ngày so
với ngày bắt đầu nghỉ tết).
Theo khảo sát về mức độ ưu tiên về mối quan tâm của người lao động, tiền lương luôn là
yếu tố rất quan trọng trong sự quan tâm của người lao động và thúc đẩy động cơ làm việc.
Đối với nhóm nhân sự cấp cao thì tiền lương được xếp sau một vài tiêu chí khác nhưng đối
với nhân viên, công nhân tiền lương luôn là sự quan tâm số 1.
Doanh nghiệp nên trả lương như thế nào để đảm bảo sự hài lòng của nhân viên, phát huy
năng suất mà đảm bảo chi phí lao động hiệu quả đó là giải pháp không dễ. Tuy nhiên các
Doanh nghiệp, Nhà nước đều có các hình thức trả lương sau:
Trả lương theo thời gian: Hình thức trả lương theo thời gian áp dụng trong trường hợp
người sử dụng lao động đã định mức chuẩn hoá trong một đơn vị thời gian người lao động
làm việc đạt hiệu quả như thế nào và đảm bảo chắc chắn đạt được hiệu quả đó hoặc không
có cơ sở khoa học nào để tính toán hình thức lương khác.
Tiền lương = (thời gian) x (đơn giá thời gian).
Ví dụ: Trong dây chuyền đóng gói hàng thực phẩm, công nhân đóng gói trả lương theo thời
gian vì năng suất đã được cài đặt vào máy đóng hộp và dây chuyền sản xuất.
Trả lương theo sản phẩm tuyệt đối: Hình thức trả lương theo sản phẩm tuyệt đối áp dụng
trong trường hợp người sử dụng lao động chưa xác định năng suất chuẩn, năng suất phụ
thuộc vào mức độ thành thạo của cá nhân, quản lý giám sát không yêu cầu chặt chẽ. Lấy đơn
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 12
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
giá tiền lương làm động cơ thúc đẩy người lao động làm việc, công việc kết thúc và có kết
quả theo cá nhân.
Tiền lương = (Số sản phẩm) x (đơn giá lương)
Ví dụ: Sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ; công nhân bốc xếp…công nhân được trả lương
theo hình thức sản phẩm tuyệt đối.
Trả lương theo sản phẩm khoán quỹ: Hệ số cá nhân dựa vào mức độ phức tạp của vị trí công
việc, thể lực yêu cầu, năng suất lao động của cá nhân… Hình thức trả lương này áp dụng cho
nhóm người có chung sản phẩm cuối cùng mà công việc có tính chuỗi liên quan chặt chẽ với
nhau.
Quỹ tiền lương = (Số sản phẩm) x (đơn giá lương).
Tiền lương cá nhân = (Hệ số cá nhân) x (Quỹ lương).
Trả lương theo kĩ năng của người lao động: Thiết lập một hệ thống thang bậc lương dựa vào
các mức độ kỹ năng chứ không dựa theo chức danh công việc; Lập danh mục các kỹ năng
cần phải có đối với nhóm công việc
Ví dụ: Kỹ năng cần phải có đối với một vị trí thuộc bộ phận; Đặt ra tiêu chí để xác định sự
thành thục của mỗi kỹ năng và gắn bậc lương thừ thấp đến cao tương ứng với thang bậc kỹ
năng đó.
Trả lương tích hợp: Trên thực tế khó công công ty nào chỉ áp dụng duy nhất một hình thức
trả lương vì nó không thể đáp ứng được yêu cầu quản lý. Vì vậy, trả lương tích hợp là một
lựa chọn trong đó có thể: Tiền lương = Lương cứng + lương mềm. Trong đó lương cứng có
thể được xác định bởi thời gian, vị trí, kĩ năng… Lương mềm là một trong các hình thức
lương kích thíc kết quả như trên.
Trả lương theo phương pháp HAY: Như vậy cho không có phương pháp duy nhất tối ưu mà
mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một hình thức trả lương sao cho kích thích năng
suất, sử dụng là công cụ quản lý lao động, thể hiện chính sách đãi ngộ, xây dựng quan hệ lao
động hài hoà, bền vững; đảm bảo hiệu quả hoạt động và là công cụ quản lý hữu dụng.
Đánh giá công việc + Khảo sát thị trường lao động = Hệ thống lương theo HAY
5. Quản lý nhà nước về tiền lương
Để đáp ứng đòi hỏi của cơ chế quản lý kinh tế mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định 26/CP
ngày 25/03/1993 và Nghị định 28/CP ngày 28/3/1997 về đổi mới quản lý tiền lương, thu
nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước. Trong đó Nhà nước không trực tiếp quản lý quỹ tiền
lương của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ tiền lương thông qua đơn
giá tiền lương được Nhà nước giao (trên cơ sở doanh nghiệp đã xác định đơn giá và có sự
điều chỉnh của Nhà nước sao cho phù hợp với điều kiện của từng ngành, lĩnh vực, điều kiện
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 14
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
thực tế và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính đến giá cả sức lao động trên
thị trường).
Việc quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước được quy định như sau :
Nguyên tắc chung: Các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhà nước đều phải có định mức
lao động và đơn giá tiền lương. Đơn giá tiền lương phải được xây dựng trên cơ sở định mức
- Đối với doanh nghiệp được xếp hạng đặc biệt:
Tổng Giám đốc có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo xây dựng và đăng ký mức lao động theo
hướng dẫn tại Thông tư số 14/LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997 của Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội; xây dựng đơn giá tiền lương báo cáo Hội đồng quản trị hoặc Bộ quản lý
ngành, lĩnh vực (nếu là tổng Công ty 90/TT được xếp hạng đặc biệt) xem xét, có công văn
gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị thẩm định và giao đơn giá tiền lương.
Các doanh nghiệp phải tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương từ quý IV năm báo cáo để gửi
cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kịp thẩm định và giao đơn giá tiền lương vào quý
I năm kế hoạch.
Thủ tục hành chính đề nghị duyệt đơn giá tiền lương: Theo phân cấp và tổ chức quản lý, sau
khi xây dựng đơn giá tiền lương, doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm
định và giao đơn giá tiền lương theo quy định tại điểm 2 nói trên;
Công văn gửi kèm như sau:
- Biểu trình xây dựng đơn giá tiền lương theo mẫu số 3a và số 3b.
- Đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên và có nhiều đơn giá tiền lương thì
lập biểu tổng hợp đơn giá tiền lương theo mẫu số
Báo cáo tình hình thực hiện lao động, tiền lương và thu nhập.
Vào quý I chậm nhất là tháng 4 năm kế hoạch, doanh nghiệp phải báo cáo cho cơ quan có
thẩm quyền giao đơn giá tình hình thực hiện lao động, tiền lương và thu nhập của năm trước
liền kề theo mẫu số 5 kèm theo Thông tư 13/ LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997.
II. GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
1. Tổng quan.
Trong tháng 9/2012 giá một số mặt hàng tăng nhẹ như: lương thực, xăng dầu, vàng, gaz,
trứng gia cầm, giá cước vận tải hàng hóa; các mặt hàng tương đối ổn định giá là: nông sản,
thực phẩm tươi sống, thức ăn chăn nuôi gia súc, xi măng, sắt thép, hàng công nghệ tiêu
dùng, thịt bò; nhóm hàng giảm giá là: giá USD, vật tư phân bón, đường kết tinh và thịt heo.
Cụ thể là:
Lương thực: Lúa gạo tăng giá hơn so với tháng trước; cụ thể lúa tẻ giá bán bình quân tháng
là 5.210 đ/kg (+168 đ/kg), gạo tẻ thường giá bình quân là 9.190 đ/kg (+190 đ/kg), gạo thơm
Sài gòn nàng hương bình quân là 12.600 đ/kg, nếp sáp 18.000 đ/kg (+1000 đ/kg), các mặt
Gaz: Tăng giá hơn so với tháng trước giá bán bình quân tháng là 399.200 đ/bình (+ 43.867
đ/bình ).
Xăng 95: Tăng mạnh và biến đổi thất thường 24.630 đ/lít (+660 đ/lít);
Xăng 92: Tăng mạnh 24.120đ/lít(+660đ/lít);
Dầu hỏa: 22.330 đ/lít (+460 đ/lít); Dầu Diezen: 22.280 đ/lít (+350 đ/lit);
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 17
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
VLXD: Xi măng, sắt thép ổn định giá như tháng trước như xi măng PCB30 Phú Yên, giá
bán là 1.470đ/kg, thép vằn D10SD 295A - CT5: bán là 16.850 đ/kg, thép vằn D10 SD390
giá bán là: 16.900đ/kg.
Giá cước vận chuyển hành khách: loại 1 giường nằm từ Tuy Hòa – Thành phố Hồ Chí Minh
ngày bình thường là 280.000 đ/vé/tuyến (+30.000đ/vé/tuyến), ngày lễ 2/9 là 400.000
đ/vé/tuyến, loại ghế ngồi ngày bình thường là 240.000 đ/vé/tuyến (+30.000 đ/vé/tuyến),
ngày lễ 2/9 là: 330.000 đ/vé/tuyến.
Giá vàng và ngoại tệ: Vàng 99,99% giá tăng giá hơn so với tháng trước; cụ thể: đầu tháng
giá vàng ở mức 4.300.000 đ/chỉ đến giữa tháng giá tăng lên và ở mức 4.680.000 đ/chỉ và
cuối tháng giá bán ở mức 4.710.000 đ/chỉ, giá bình quân tháng là: 4.613.700 đ/chỉ.
Tỷ giá đô la Mỹ: Tăng nhẹ so với tháng trước theo tỷ giá tại Ngân hàng ngoại thương mức
giá bán ra từ 20.872 - 20.88 2đ/USD, giá bình quân tháng là 20.876 đ/USD (+4 đ/USD).
2. Các nhân tố tác động đến giá cả thị trường
Giá trị thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật của kinh tế thị trường đều
biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua giá cả thị trường, nhờ sợ vận động của giá cả thị
trường mà diễn ra một sự thích ứng giữa cung và cầu về hàng hóa, tức là sự hoạt động của
các quy luật đó đã điều tiết nền sản xuất xã hội. ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở
đó có thị trường và do đó có cơ chế thị trường hoạt động, tín hiệu của cơ chế thị trường là
giá cả thị trường, giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường hàng hóa -
tức là phụ thuộc rất lớn vào giá trị thị trường.
Giá trị thị trường nói ở đây, là giá trị xã hội – giá trị được xã hội thừa nhận và được đo bằng
thời gian lao động xã hội cần thiết. vậy giá trị thị trường hình thành như thế nào? Như chúng
ta đã biết trên thị trường hầu hết các loại hàng hóa được sản xuất ra không chỉ một hoặc hai
điều kiện tốt quyết định.
Ví dụ: Trong ngành trồng lúa nước ở nước ta. Đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông
Nam Bộ là 2 khu vực trồng lúa chính, cung cấp đại bộ phận thóc, gạo cho cả nước và xuất
khẩu. đay là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lơn hơn so với các vùng khác. Vì vậy giá trị cá
biệt để sản xuất ra thóc (gạo) ở 2 vùng này có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của
thóc ( gạo) trong nước.
Trong thời đại hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu, sự phát triển kinh tế
của mỗi nước không thể tách rởi các nước khu vực và thế giới.thị trường trong nước và thị
trường thế giớí có quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, giá trị xã hội về một loại hàng hóa nào
đó sản xuất trong nước sẽ là giá trị cá biệt trên thị trường khu vực và thế giới. giá trị cá biệt
ảnh hưởng ở mức độ nào đến giá trị thị trường thế giới tùy thuộc vào mức sản lượng hàng
hóa cung ứng ra thị trường và các điều kiện về thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu của
mỗi nước.
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 19
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
Từ những vấn đề trên, trong công tác định giá, quản lý giá hiện nay chúng ta không chỉ quan
tâm tới giá trị của từng loại hàng hóa sản xuất trong nước mà còn quan tâm tới thị trường thế
giới, giá trị thị trường khu vực đối với hàng hóa đó. Để có những chính sách quản lý kinh tế
vĩ mô phù hợp, giữ được ổn định và phát triển sản xuất trong nước.
Giá trị của tiền: Trong nền sản xuất hàng hoá tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị
của các hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của hàng hóa, bản thân tiền phải có giá trị. Vì vậy,
tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hóa không
cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng.
sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế
đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để
sản xuất ra hàng hóa đó. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, tiền đứng ra làm môi giới và đó
là tiền mặt.như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị doanh nghĩa của nó và để làm
phương tiện lưu thông, người ta đã sử dụng tiền giấy.
Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong
phạm vi quốc gia. Vì vậy trong việc phát hành, lưu thông tiền giấy phải được tính toán lỹ
Lượng tiền trong lưu thông và tốc độ vòng quay của đồng tiền quyết định tổng cầu của toàn
xã hội. để quản lý được giá cả, chính phủ cần tạo ra sự cân đói giữa tổng cung và cầu. nếu
tổng cung chưa thay đổi, thì sự sai lầm trong phát hành đầu tư,…dẫn đến tổng cầu tăng đột
ngột sẽ làm cho giá cả tăng đồng loạt và làm cho nền kinh tế lâm vào lạm phát.
Cung và cầu hàng hóa: Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt
động trên thị trường.cung cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá
cả thị trường.
Trong thực tế, khi cung = cầu thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị của hàng hóa. Khi
cung > cầu thì giá cả thị trường xuống thấp hơn giá trị hàng hóa, còn khi cung < cầu thì
giá cả thị trường lên cao hơn giá trị.
Như vậy, cung và cầu thay đổi đãn đến làm thay đổi giá cả thị trường của hàng hóa. Đồng
thời, giá cả thị trường cũng có sự tác động ngược trở lại tới cung và cầu. Nhìn chung, trong
cơ chế thị trường khi không có sự nhất trí giữa cung và cầu thì giá cả có tác động điều tiết
đưa cung cầu trở về xu hướng cân bằng.
Vậy, yếu tố nào ảnh hưởng và quyết định đến quan hệ cung cầu. Đó chính là chu kỳ kinh
doanh. Sự vận động của chu kỳ kinh doanh trên thị trường quyết định sự vận động của quan
hệ cung cầu.
Một chu kỳ kinh doanh xuất hiện trên thị trường thường có một số thời kỳ chủ yếu sau:
- Suy thoái: Tức là giai đoạn mà kinh doanh giảm sút nghiêm trọng. trong thời kỳ này
có giai đoạn tiêu điều và giai đoạn ảm đạm.
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 21
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
- Phát triển: Tức là kinh doanh được phục hồi, có phát triển và tăng trưởng.
- Ổn định: Tức là kinh doanh phát triển sau đó ổn định ở mức cao.
Hiện tượng trên được lặp đi lặp lại trên thị trường. Khi kinh doanh bướcvào thời kỳ suy
thoái, nhu cầu tiêu dùng bị hạn chế, hàng hoá có ít người mua,sản xuất bị thu hẹp nghiệm
trọng. Ở thời kỳ suy thoái, do những khuyết tật của sản phẩm, do sự yếu kém trong quản lý
hoặc do sự lạc hậu về công nghệ vàthiết bị, nên sản phẩm có ít người mua. Từ đó dẫn đến
tình trạng cung lớn hơn cầu và giá cả hàng hoá giảm xuống, đến một lúc nào đó giá cả sẽ
giảm đến mức doanh nghiệp có thể lỗ vốn. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường doanh
tác động trở lại tới chu kỳ kinh doanh, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp luôn biến động theo cơ chế thị trường
Cạnh tranh: Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền kinh tế thị
trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Cạnh
tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người sản xuất, người sản xuất với người tiêu
dùng hoặc giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng. Do có mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, nên
những người sản xuất và người tiêu dùng cạnh tranh gay gắt với nhau. Sự cạnh tranh này
dẫn đến sự thoả thuận trực tiếp giữa họ để hình thành nên mức giá thị trường mà 2 bên đều
chấp nhận. Cạnh tranh giữa người sản xuất với người sản xuất, nhằm mục đích bán được
nhiềuhàng hoá với giá hợp lý để thu được lợi nhuận cao nhất. Kết quả của cạnh tranh này,
buộc những người sản xuất, muốn chiếm lĩnh thị trường phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới,
đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải tiến công tác quản lý…để sản xuất ra những sản phẩm
mới, chất lượng cao, giá thành thấp. Đây là yếu tố tích cực, không những tạo điều kiện cho
nhà sản xuất thu được lợi nhuận cao, mà đứng trên phạm vi toàn xã hội, nó có tác dụng rất
lớn để thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, giá bán sản
phẩm. Cạnh tranh giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích sử dụng,
người tiêu dùng (người mua) để đạt được nhu cầu tiêu dùng của mình (trong điều kiện khả
năng cung về hàng hoá có hạn) thường phải trả giá cao hơn những người khác để mua được
hàng hoá và trong sự cạnh tranh này, làm cho giá cả thị trường thay đổi theo xu hướng tăng
lên. Từ sự phân tích các nhân tố tác động đến sự hình thành và vận động của giá cả thị
trường, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thị trường là một hiện tượng kinh tế phức tạp,
tổng hợp, là bàn tay vô hình điều tiết sản xuất, là tấm gương phản ánh thực trạng nền
kinh tế.
- Nhà nước cần phải quản lý giá. Việc quản lý giá phải được thực hiệnđồng bộ từ tài
chính đến tiền tệ, từ cầu đến cung, từ giá thị trường trong nước đến giá thị trường thế
giới, từ cạnh tranh đến chống độc quyền và các biện pháp hạn chế tự do kinh doanh.
- Để quản lý giá, Nhà nước cần có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và đồng bộ về các
lĩnh vực tài chính- tiền tệ- giá cả, củng cố hệ thống pháp luật đối vớicác doanh nghiệp
sản xuất và kinh doanh.
đều tăng cao so với các năm trước. Kéo theo đó là mức giá tăng cao, làm cho cuộc sống của
đại bộ phận nhân dân và CNVC phải chịu điệp khúc “Lương tăng thì giá tăng”. Lạm phát
nói lên mức tăng giá bình quân trong cả nền kinh tế, song nếu tính theo tương quan với tiền
lương thì tỉ lệ tăng giá sẽ rất khác nhau giữa những người có mức lương khác nhau, mà số
người lương thấp lại chiếm số đông.
Dư luận vẫn thường lo ngại các Doanh nghiệp và tiểu thương sẽ "Té nước theo mưa" sau
mỗi lần tăng lương. Nhiều công chức còn than trời "Lương ơi đừng tăng nữa" vì lo lương
không đuổi kịp khi giá tăng nhanh. Ví dụ tăng giá xăng dầu tăng tới 40% thì lương tăng 10%
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 25
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRINH SƠN HOAN
cũng không ăn thua. Lương thực thực phẩm đã tăng tới giới hạn, thống kê chính thức là
trong nước tăng 40% nhưng thực tế có những mặt hàng lên tới 70%, thậm chí 100% .
2. Những ý kiến đánh giá về lương và giá.
Giá cả tăng lên từng giờ nhưng đồng lương công nhân viên chức vẫn giậm chân tại làm cho
cuộc sống nhân dân có nhiều vất vả, khó khăn họ đang phải đối mặt. Khảo sát một số ý kiến
từ các độc giả trên mạng cho rằng:
“Lương giữ nguyên, đến 01/5/2011 mới được tăng chút ít. Nhưng thử xem đến nay
vật giá đã tăng gấp nhiều lần số tiền lương dự kiến tăng cho CNVC, lấy gì bù vào
khoản chệnh lệch này. Vì vợ, vì con rất có thể một số người làm bậy do chuyện này.
Các nhà quản lý tài ba của Nhà nước hãy sử dụng ngay tài ba của mình đi đểCNVC
bớt khổ” - Nguyễn Huy Thao:
“Lương thì bước từng bước, giá cả thì đã chạy mất dạng. Lương thì phải họp, phải
cân đối lên nhỏ giọt còn giá cả thì nhà nước không thể nào kiềm chế. Nông dân tuy
cực khổ nhưng đời sống của họ còn thoáng hơn công chức rất nhiều. Họ trồng mớ rau
ra chợ bán cũng tăng hơn trước, con cá bán ra cũng tăng. Lương của hai vợ chồng trẻ
làm công chức nhà nước không bằng thu nhập của mẹ chồng tôi ở quê, mỗi tháng dựt
dừa 300 đến 400 quả, giá dừa hiện nay cũng đã hơn ba triệu” - Yến nhi:
“Giá xăng tăng, điện tăng, thì ắt hẳn các mặt hàng khác đều tăng theo vì không ngành
nào sản xuất mà không liên quan đến hai anh này kể cả du lịch. Việc nhà nước quyết
ra chính sách thích ứng thì có những lời giải thích hết sức hài hước. Giá điện chúng ta
còn thấp hơn nước ngoài, liệu cái thấp hơn đó có đúng với mức sống của chúng ta
không. Mức sống và thu nhập thấp hơn nhưng lại so sánh như vậy. Chừng nào nhà
quản lí bớt giấy tờ sách vở bớt trang bị cho bộ mặt của mình mà lo cho dân thì lúc đó
cuộc sống chúng ta mới được cải thiện.Những lời kêu than thì chỉ dừng lại và cuộc
sống thì vẫn tiếp tục nhưng thử hỏi tiếng nói của những người được coi là một phần
của đất nước như chúng ta thực sự có sức nặng thực sự xứng đáng với hai từ “dân
chủ”.
“Vật giá như thế này thi không những công chức mà những người có thu nhập thấp
đều khổ như nhau. Nông dân là những người thiệt thòi nhất, bán mặt cho đất, bán
lưng cho trời… trừ những khoản chi phí đầu tư cho sản xuất chẳng còn bao nhiêu
hào, lại gặp thời buổi vật giá lên trời , không biết họ sẽ chống chọi ra sao?”
DungDakao:
Thật đáng buồn khi đó là sự thật, người dân đang phải đối mặt mà đúng hơn là chống
chọi với sự leo thang chóng mặt của giá cả khi đồng lương công chức không thể trang
trải đủ cho cuộc sống của họ. Nếu như vậy đừng trách và đừng vội lên án tại sao có
những công chức biến chất. Không ngụy biện những đó cũng có thể vì cuộc sống của
con em mình mà họ phải “nhắm mắt đưa tay”.Không ít bạn đọc cũng có cùng quan
điểm như vậy. “Buồn quá đi thôi! Người đời có câu “đói thì hay ăn vụng, túng thì làm
liều” . Lạm phát cao sẽ tạo điều kiện cho tham nhũng và tệ nạn xã hội phát triển” -
Hoàng Tiến Tùng:
“Lương của công nhân viên chức nhà nước và công nhân lao động phổ thông không
đủ sống như vậy thì trách sao được nếu có điều kiện tham ô, hối lộ, vòi vĩnh, bắt chẹt
NHÓM SINH VIÊN LỚP 10QT 27