SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH ĐOÀN TP. HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH VƯỜN ƯƠM SÁNG TẠO KH-CN TRẺ BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu ngày 30/3/2009) DIỄN BIẾN ĐA DẠNG SINH HỌC LƯỠNG CƯ – BÒ SÁT TẠI KHU DỰ
TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: NGUYỄN NGỌC SANG
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRẺ
i
Đề tài:
DIỄN BIẾN ĐA DẠNG SINH HỌC LƯỠNG CƯ – BÒ SÁT TẠI KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ
Tóm tắt
Đề tài được tiến hành từ 9/2006 – 3/2008 tại khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần
Giờ với 5 đợt khảo sát thực địa.
Dựa trên kết quả của Hoàng Đức Đạt và nnk về ếch nhái và bò sát ở Cần Giờ từ năm
1997, chúng tôi tiến hành đánh giá lại khu hệ ếch nhái và bò sát tại khu vực này. Kết quả đã
bổ sung vào danh sách trước đó 9 loài (2 loài ếch nhái và 7 loài bò sát), đồng thời cũng đ
ã đưa
ra khỏi danh sách cũ 3 loài bò sát vì xác nhận các loài này hiện không còn hoặc không có ở
khu vực nghiên cứu. Khu hệ ếch nhái, bò sát ở Cần Giờ được xác nhận lại gồm có 46 loài với
11 loài ếch nhái và 35 loài bò sát. Có 12 loài ếch nhái và bò sát quý hiếm tại khu vực nghiên
cứu, trong đó 6 loài có trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2006) và 12 loài có
trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). Tên loài và hệ thống phân loại của các loài cũng được cập
nhật. Tình hình biến đổi thành phần loài, nguyên nhân biến đổi, tình hình khai thác và sử
dụng, khả năng phát triển nghề nuôi rắn séc be và ếch cua, một số giải pháp nhằm bảo vệ và
phát triển bền vừng khu hệ Lưỡng cư – Bò sát ở đây cũng được đề cập trong báo cáo này.
Project:
A CHANGE IN THE HERPETOFAUNA OF CAN GIO MANGROVE BIOSPHERE
RESERVE
Abstract
The project was conducted from September, 2006 to March, 2008 in Can Gio Mangrove
Biopshere Reserve with five field trips.
3.2. Biến đổi đa dạng sinh học Lưỡng cư – Bò sát
tại KDTSQ RNM Cần Giờ 14
3.2.1. Về thành phần loài 14
3.2.2. Về phân bố 16
3.2.3. Về độ phong phú của một số loài 19
3.3. Nguyên nhân của việc biến đổi đa dạng sinh học
Lưỡng cư – Bò sát tại Bò sát tại KDTSQ RNM Cần Giờ 21
3.3.1. Về thành phần loài 21
3.3.2. Về phân b
ố 22
3.3.3. Về độ phong phú của một số loài 23
3.4. Các loài Lưỡng cư – Bò sát quý hiếm và có ý nghĩa kinh tế 24
3.4.1. Các loài quý hiếm 24
3.4.2. Các loài có giá trị kinh tế 25
3.5. Hiện trạng khai thác, sử dụng và khả năng phát triển nuôi
một số loài Lưỡng cư – Bò sát có giá trị 29
3.5.1. Hiện trạng khai thác và sử dụng 29
3.5.2. Khả năng phát triển nuôi một số loài Lưỡng cư – Bò sát 32
3.6. Mộ
t số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển bền vững
khu hệ Lưỡng cư – Bò sát ở Cần Giờ 33
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
4.1. Kết luận 35
4.2. Đề nghị 35
Tài liệu tham khảo 37
Phụ lục I
iii
DANH SÁCH HÌNH
iv
DANH SÁCH BẢNG
Số Tên bảng Trang
1 Tỉ lệ các bậc phân loại của khu hệ Lưỡng cư – Bò sát khu vực
nghiên cứu so với cả nước
7
2 Danh lục Lưỡng cư và Bò sát tại KDTSQ RNM Cần Giờ 8
3 Số loài Lưỡng cư – Bò sát phân bố tại KDTSQ RMN Cần Giờ 19
4 Độ phong phú của một số loài Lưỡng cư – Bò sát ở Cần Giờ 20
5
Danh lục Lưỡng cư và Bò sát quý hiếm tại KDTSQ RNM Cần Giờ
26
6 Các loài Lưỡng cư – Bò sát có giá trị kinh tế ở Cần Giờ 28 1
MỞ ĐẦU
Tên đề tài: Diễn biến đa dạng sinh học Lưỡng cư – Bò sát tại khu dự trữ
sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ.
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Ngọc Sang
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ trẻ
Thời gian thực hiện: 9/2006 – 3/2008
Kinh phí được duyệt: 50.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp: 45.000.000 đồng theo thông báo số115 TB-SKHCN ngày 21/9/2006
Mục tiêu (theo đề cương đ
ã được duyệt)
Nghiên cứu diễn biến đa dạng sinh học Lưỡng cư – Bò sát về thành phần loài, số
2
vực. Từ đó đưa ra một số biện pháp về
khai thác, quản lý và phát triển bền
vững chúng
khoa học.
- Hiện trạng khai thác, sử dụng, sản
lượng và khả năng phát triển nghề nuôi
một số loài Lưỡng cư – Bò sát có giá
trị.
- Một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát
triển bền vững khu hệ và các loài
Lưỡng cư – Bò sát có giá trị kinh tế và
khoa học ở Cầ
n Giờ
5. Đăng kết quả nghiên cứu trên tạp chí
khoa học
Đã có một bài báo khoa học gởi Tạp
chí Phát triển Khoa học và Công nghệ
của ĐHQG TP HCM và đã được Hội
đồng Phản biện đồng ý cho đăng.
3
I. TỔNG QUAN
Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trải qua những giai đoạn biến đổi đáng kể dưới tác
động của con người. Từ năm 1911, người Pháp qui hoạch 4.500 ha rừng ngập mặn
Cần Giờ để bảo vệ khí hậu cho Sài Gòn và chống gió bão và xói mòn đất. Phần còn lại
ó vẫn được trích từ dữ liệu năm 1997 nêu trên. Như vậy đã hơn 10 năm
Lưỡng cư và Bò sát ở Cần Giờ vẫn chưa được đánh giá lại. Trong khi từ đó đến nay
môi trường sống của chúng ở đây ít nhiều có sự biến đổi. Thêm vào đó, tên loài và hệ
thống phân loại các loài này đã được thay đổi rất nhiều (Uetz, P. et al., 2008). Do vậy
cần thiết phải tiế
n hành nghiên cứu, cập nhật, đánh giá kịp thời diễn biến nguồn tài
nguyên sinh vật này trong thời gian hơn 10 năm qua, làm cơ sở khoa học cho việc bảo
vệ, quản lý, sử dụng và phát triển bền vững chúng. 4
II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Khu vực nghiên cứu: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
- Thời gian nghiên cứu: 9/2006 – 3/2008
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài Lưỡng cư và Bò sát
- Nội dung nghiên cứu: (1) Thành phần loài, (2) Những biến đổi về thành phần
loài, phân bố và số lượng cá thể của một số loài, (3) Nguyên nhân của sự biến đổi này
và (4) Các loài quý hiếm và có giá trị kinh tế; hiện trạng khai thác, sử dụng và khả
n
ăng phát triển nghề nuôi một số loài; một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển bền
vững khu hệ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa
- Quan sát, chụp ảnh, theo dõi, các hoạt động dinh dưỡng, sinh sản, môi trường
sống, nơi ở, hoạt động ngày đêm và một số tập tính khác.
- Phỏng vấn người dân, cán bộ kiểm lâm và cán bộ quản lý về thành phần loài, tình
hình nuôi và khai thác (số người khai thác, phương tiệ
n khai thác, ) các loài Lưỡng cư
– Bò sát ở đây.
Đã tiến hành 5 đợt khảo sát (đợt 1: 25-29/12/2006, đợt 2: 23-30/6/2007, đợt 3: 9-
sinh cảnh khác nhau thuộc địa bàn Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn
(KDTSQRNM) Cần Giờ.
3.1. Thành phần loài Lưỡng cư – Bò sát tại KDTSQ RNM Cần Giờ
Như phần Mở đầu đã trình bày, tên khoa học và hệ thống phân loại các loài Lưỡng
cư và Bò sát hiện nay đã được thay đổi rất nhiều so với trước đây. Do vậy danh lục các
loài dưới đây đã
được cập nhật theo hệ thống phân loại mới nhất của Uetz P. et al.
(2008) và Frost D. R. (2008) đang được sử dụng phổ biến hiện nay.
Qua 5 đợt khảo sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu, chúng tôi đã thông kê được
Lưỡng cư – Bò sát tại KDTSQRNM Cần Giờ gồm 46 loài, trong đó 11 loài Lưỡng cư
và 35 loài Bò sát thuộc 3 bộ và 18 họ. Danh sách các loài như ở bảng 2.
Trong 11 loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu, có đến 10 loài sống ở
môi trường
nước ngọt. Chỉ có một loài là ếch cua (Fejervarya cancrivora) sống ở môi trường
nước lợ. Đây là loài Lưỡng cư đặt trưng của rừng ngập mặn.
Bảng 2 còn cho thấy có 11 loài Lưỡng cư – Bò sát đã được thay đổi tên khoa học
và hệ thống phân loại so với danh sách cũ năm 1997. Trong đó chủ yếu là các loài
Lưỡng cư.
0
2
4
6
8
10
12
B
u
f
o
a
n
i
d
a
e
R
h
a
c
o
p
h
o
ri
d
a
e
A
g
a
m
id
a
e
A
g
a
m
id
i
d
a
e
A
c
r
o
c
h
o
rd
i
a
e
C
o
l
u
b
r
i
d
a
e
E
l
a
p
id
l
t
i
d
a
e
C
h
e
l
o
n
ii
d
a
e
Các họ
Số loài
Biểu đồ 1. Số lượng loài thuộc các họ Lưỡng cư – Bò sát tại KDTSQRNM Cần Giờ
7
Xét về loài, Lưỡng cư – Bò sát khu vực nghiên cứu có 46 loài, chiếm 10,0% số loài
của cả nước (Nguyễn Văn Sáng và nnk, 2005). Trong đó có các loài rất đặc trưng cho
hệ sinh thái rừng ngập mặn như ếch cua (Fejervarya cancrivora) và rắn séc be
(Cerberus rhynchops).
Xét về giống, Lưỡng cư – Bò sát khu vực nghiên cứu có 37 giống, chiếm 23,7% so
với cả nước. Phần lớn các giống chỉ có một loài.
Xét về họ, Lưỡng cư – Bò sát khu vực nghiên cứu có 18 h
ọ, chiếm 56,3% số họ
2. Họ Ếch nhái chính
thức
Dicroglossidae
2 Nhái Fejervarya limnocharis (Gravenhorst, 1829) * x x
3 Nhái, ếch cua Fejervarya cancrivora (Gravenhorst, 1829) * x
4 Ếch đồng Hoplobatrachus chinensis (Osbeck, 1765) * x
5 Cóc nước sần Occidozyga lima (Gravenhorst, 1829) x
6 Cóc nước mác-ten Occidozyga martensii (Peters, 1867) + x
3. Họ Nhái bầu Microhylidae
7 Ễnh ương thường Kaloula pulchra Gray, 1831 x x
8 Nhái bầu hoa Microhyla fissipes (Boulenger, 1884) * x
9 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallowell, 1861) x
4. Họ Ếch nhái Ranidae
10 Chàng xanh Hylarana erythraea (Schlegel, 1837) + x
5. Họ Ếch cây Rhacophoridae
11 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax (Gravenhorst, 1829) * x x
9
Lớp Bò sát Reptilia
II. BỘ CÓ VẢY SQUAMATA
6. Họ Nhông Agamidae
12 Nhông xám Calotes mystaceus (Dumeril et Bibron, 1837) + x x
13 Nhông xanh Calotes versicolor (Daudin, 1802) x x
14 Nhông cát beli Leiolepis belliana (Gray, 1827) x
7. Họ Tắc kè Gekkonidae
15 Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus (Schelegel, in Dumeril et
Bibron, 1836)
x x x
16 Thạch sùng đuôi rèm Hemidactylus platyurus (Schneider, 1792) * x
17 Tắc kè Gekko gecko Linnaeus, 1758 x x
18 Thạch sùng lá đen Gehyra mutilata (Weigmann, 1834) + x
15. Họ Rắn hai đầu Cylindrophidae
41 Rắn trun Cylindrophis ruffus (Laurenti, 1768) x x
16. Họ Rắn lục Viperidae
11
42 Rắn lục mép Trimeresurus albolabris (Gray, 1842) * x x x
17. Họ Rắn mống Xenopeltidae
43 Rắn mống, hổ hành Xenopeltis unicolor Reinwardt, in Boie, 1827 + x
III. BỘ RÙA TESTUDINATA
18. Họ Vích Cheloniidae
44 Vích Chelonia mydas (Linnaeus, 1758) x
45 Đồi mồi Eretmochelys imbricata (Linnaeus, 1766) x
46 Trán bông Lepidochelys olivacea (Eschscholtz, 1829) x 25 17 20 6 6
Ghi chú: “*”: các loài có tên khoa học đã thay đổi; “+”: các loài bổ sung; “x”: có phân bố
(1) vùng ngọt: bao gồm các khu vực ruộng lúa, các vực nước ngọt tồn tại trong mùa mưa; (2) vùng mặn: bao gồm rừng ngập mặn,
các thủy vực sông, lạch nước mặn hoặc lợ; (3) khu vực dân cư: bao gồm khu vực có người ở, vườn; (4) đất cát ven biển; và (5)
vùng cửa sông và biển ven bờ.
12
Hình 1. Chàng xanh Hylarana erythraea
Hình 2. Ếch cua Fejervarya cancrivora (con non)
Hình 3. Nhái Fejervarya limnocharis
Hình 4. Cóc nước sần Occidozyga lima
Hình 5. Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus
3.2. Biến đổi đa dạng sinh học Lưỡng cư – Bò sát tại KDTSQ RNM Cần Giờ
Chúng tôi xem xét sự biến đổi đang dạng sinh học của các loài Lưỡng cư – Bò sát
tại khu vực nghiên cứu trên ba khía cạnh: thành phần loài, phân bố và độ phong phú
của một số loài.
3.2.1. Về thành phần loài
Theo danh sách các loài ở bảng 2, chúng tôi đã ghi nhận thêm 9 loài (2 loài ếch
nhái và 7 loài bò sát) vào khu hệ Lưỡng cư – Bò sát ở khu vực nghiên cứu, đồng thời
đưa 3 loài bò sát ra khỏi danh sách n
ăm 1997 của Hoàng Đức Đạt và nnk.
15
a. Các loài bổ sung:
Các loài bổ sung gồm:
1. Cóc nước mác ten Occidozyga martensii ghi nhận ở khu vực ruộng lúa Lý
Nhơn (Hình 18);
2. Chàng xanh Hylarana erythraea cũng ghi nhận ở Lý Nhơn (Hình 1);
3. Thạch sùng lá đen Gehyra mutilata ghi nhận ở Lý Nhơn, Long Hòa và Tam
Thôn Hiệp. Đây là loài rất phổ biến ở nước ta và khu vực từ Ấn Độ đến Trung
Quốc (Hình 19);
4. Nhông xám Calotes mystaceus ghi nhận ở Long Hòa, Lý Nhơn và Cần Thạnh.
Đây cũng là loài ph
ổ biến (Hình 15);
5. Rắn roi mõm nhọn Ahaetula nasuta thu một mẫu ở Lý Nhơn (Hình 22);
6. Rắn roi thường Ahaetula prasina ghi nhận ở Tam Thôn Hiệp (Hình 21);
7. Rắn bông súng Enhydris enhydris ghi nhận ở các thủy vực nước ngọt ở Lý
Nhơn (Hình 20);
8. Rắn ráo thường Ptyas korros ghi nhận ở một điểm thu mua ở Tam Thôn Hiệp.
Chủ điểm thu mua này cho biết họ mua lại từ một ngườ
i dân bắt rắn ở khu vực
gần đó (Hình 17); và
dạng sinh học của khu vực này.
Về các loài không còn hiện diện trong khu vực, đây là một sự suy giảm về đa dạng
sinh học ở khu vực này. Vào những năm 1970, rắn ri cóc (Acrochordus javanicus)
được xem là một loài rất phổ biến ở
các vùng cửa sông Nam Bộ (Campden-Main,
1970). Năm 1997, loài này được ghi nhận ở Cần Giờ qua quan sát và được đánh giá ở
mức độ ít gặp [6]. Qua khảo sát thực địa từ 2006-2007-2008, kết hợp với phỏng vấn
cán bộ kiểm lâm, dân địa phương và các cơ sở thu mua rắn ở Cần Giờ, chúng tôi
không ghi nhận được thông tin gì về loài này trong gần 10 năm trở lại đây. Loài cá sấu
hoa cà (Crocodylus porosus) cũng đã không còn hiện diện ở
khu vực nghiên cứu. Tuy
nhiên, nhiều năm trở lại đây ở Cần Giờ cá sấu vẫn được nuôi trong môi trường nước
lợ. Khả năng thích nghi với sự dao động lớn về độ muối của cá sấu nuôi này là rất tốt,
có thể sống ở cả nước ngọt và nước mặn.
3.2.2. Về phân bố
Từ bảng 2, các loài Lưỡng cư – Bò sát ở khu vực nghiên cứu phân bố đề
u khắp các
dạng sinh cảnh khác nhau.
• Có 25 loài Lưỡng cư – Bò sát (chiếm 54,3% tổng số loài trong khu vực) phân bố
ở sinh cảnh có liên quan đến nước ngọt, bao gồm các khu vực ruộng lúa, các vực
nước ngọt tồn tại trong mùa mưa. Sinh cảnh này tập trung chủ yếu các loài
Lưỡng cư và các loài rắn sống ở nước ngọt. Có tới 90,9% số loài Lưỡng cư của
khu hệ phân bố ở sinh cảnh này (10/11 loài). Sự phân bố củ
a các loài ở sinh cảnh
này biến đổi rất lớn giữa hai mùa mưa và khô. Vào mùa mưa, các loài ếch nhái
trên kiếm ăn và sinh sản ở các khu vực nước ngọt, các loài rắn theo đó cũng đến
để tìm mồi và sinh sản. Về mùa khô, khi các vực nước này đã cạn, ếch nhái phần
lớn đã trú ẩn trong các hang hốc an toàn. Khảo sát tại khu vực ruộng lúa ở xã Lý
Nhơn vào mùa mưa (tháng 6/2007) đã ghi nhận được cả 10 loài Lưỡng cư trên.
• Sinh cảnh thuộc các vùng mặn, bao gồm rừng ngập mặn, các thủy vực sông, lạch
các loài thuộc nhón thằn lằn (Lacertilia). Đặc biệt, sinh cảnh này là nơi s
ống lý
tưởng của loài nhông cát beli (Leiolepis belliana) (Hình 9). Kết quả khảo sát của
chúng tôi (cũng như của Hoàng Đức Đạt (1997)) mới chỉ ghi nhận được loài này
ở Long Hòa. Trên thế giới loài này có ở Thái Lan, Campuchia và Malaixia, ở
nước ta, loài này mới chỉ được ghi nhận ở Kiên Giang [9]. Do đó Cần Giờ là nơi
thứ hai ở nước ta ghi nhận loài này hiện diện. Nhông cát beli còn xuất hiện ở các
vườn nhà khu vực Long Hòa.
Ngoài loài đặc trưng là nhông cát beli, sinh cảnh này còn có một s
ố loài khác
phân bố như tắc ké (Calotes), liu điu (Takydromus kuehnei), thạch sùng đuôi sần
(Hemidactylus frenatus),…
• Vùng cửa sông và biển ven bờ: đây là sinh cảnh cho các loài sống ở nước mặn.
Có 6 loài phân bố, chiếm 13,0% số loài của khu hệ. 3 loài rắn là rắn rầm ri hạt
(Acrochordus granulatus), rắn lác (Fordonia leucobalia) và đẻn gai (đẻn cơm)
18
(Lapemis hardwickii) đều là những loài thích nghi tốt với môi trường nước mặn
và lợ. Đẻn gai đôi khi vào sâu bên trong các con sông khi triều lên. Các loài rùa
biển như vích (Chelonia mydas), đồi mồi (Eretmochelys imbricata) và tráng
bông (Lepidochelys olivacea) cũng xuất hiện ở sinh cảnh này.
Số lượng loài Lưỡng cư – Bò sát phân bố ở các dạng sinh cảnh khác nhau thuộc
khu vực nghiên cứu được thể hiện ở biểu đồ 2.
25
17
20
6
6
0 5 10 15 20 25 30
số liệu (Bảng 3). Tuy nhiên, số loài ghi nhận được ở địa bàn các xã này phụ thuộc vào
19
mức độ da dạng sinh cảnh ở từng khu vực đó. Ví dụ xã Lý Nhơn có các dạng sinh cảnh
như vùng chứa nước ngọt, trồng lúa vào mùa mưa, sinh cảnh rừng ngập mặn, khu dân
cư, cửa sông. Do đó số loài ở xã này là tổng các loài ghi nhận được trên các sinh cảnh
khác nhau trên địa bàn xã.
Qua khảo sát, số loài Lưỡng cư – Bò sát ghi nhận được ở các xã trong địa bàn
nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3. Số loài Lưỡng cư – Bò sát phân bố tại KDTSQ RMN Cần Giờ
Địa điểm
Thành phần loài
Lưỡng cư Bò sát Tổng cộng
1997 2008 1997 2008 1997 2008
Xã Bình Khánh 9 9 14 17 23 26
Xã An Thới Đông 7 8 8 10 15 18
Xã Tam Thôn Hiệp 7 8 17 17 24 25
Xã Lý Nhơn 4 10 8 23 12 33
Xã Thạnh An 2 5 7 12 9 17
Xã Long Hòa 5 5 18 19 23 24
Xã Cần Thạnh 3 5 14 16 17 21
Ghi chú: 1997: theo Hoàng Đức Đạt và nnk (1997); 2008: kết quả từ nghiên cứu này
Bảng 3 cho thấy số loài Lưỡng cư – Bò sát chúng tôi ghi nhận được ở một số xã
thuộc khu vực nghiên cứu cao hơn hẵn số loài đã ghi nhận trước đây. Đặc biệt, khu
vực xã Lý Nhơn có sự sai khác rất rõ về số loài Lưỡng cư – Bò sát ghi nhận được: 33
loài so với 12 loài. Có đến 10/11 loài Lưỡng cư và 23/35 loài bò sát phân bố ở xã này.
Có thể nói Lý Nhơn là khu vực Lưỡng cư – Bò sát phân bố nhiều với 33/46 loài, chiếm
71,7% số