ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã ch
ỉnh sửa theo góp ý hội đồng)
ĐÁNH GIÁ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC
VIÊN NÉN KALI CLORID 600 MG
PHÓNG THÍCH KÉO DÀI
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã ch
ỉnh sửa theo góp ý hội đồng)
ĐÁNH GIÁ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC
VIÊN NÉN KALI CLORID 600 MG
PHÓNG THÍCH KÉO DÀI
PGS.TS. Hoàng Minh Châu Cố vấn khoa học
TS. Lê Hậu Chù nhiệm
Th.S. Lê Thị Thu Vân Nghiên cứu viên chính
DS. Nguyễn Hoàng Tiến Nghiên cứu viên
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG ___/ 200___
SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI CẤP THÀNH PHỐ
Trang
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1. 1. Kali clorid 3
1. 2. Đánh giá tương đương sinh học bằng nồng độ
thuốc bài tiết qua nước tiểu 11
Chương 2. ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu – Thiết bò – Hoá chất 14
2.2. Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1.So sánh tốc độ phóng thích in vitro 18
2.2.2.Đánh giá tương đương sinh học in vivo 19
2.2.3. Xử lý và phân tích dữ liệu thực nghiệm 24
2.4. Phân tích thống kê để xác đònh tương đương sinh học 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. So sánh tốc độ phóng thích của thuốc thử nghiệm
và thuốc đối chiếu 27
3.2. Nghiên cứu tương đương sinh học 29
Thời gian sau khi dùng một liều
3.2.1.Thẩm đònh qui trình phân tích ion kali trong nước tiểu bằng phương
pháp điện cực chọn lọc ion (ISE) 29
3.2.2. Tuyển chọn người tình nguyện 33
3.2.3. Thiết kế khẩu phần ăn 36
3.2.4.Hoàn chỉnh hồ sơ pháp lý 39
3.2.5. Thực hiện nghiên cứu 39
3.3. Xác đònh lượng ion kali bài tiết trong nước tiểu 41
3.3.1. Xác đònh lượng ion kali bài tiết trong ngày 1
Bảng 3.13. Thể tích các phân đoạn nước tiểu ngày 1
(trước khi uống thuốc đối chiếu) 43
Bảng 3.14. Nồng độ ion kali trong các phân đoạn nước tiểu ngày 1
(trước khi uống thuốc thử nghiệm) 44
Bảng 3.15. Nồng độ ion kali trong các phân đoạn nước tiểu ngày 1
(trước khi uống thuốc đối chiếu) 45
Bảng 3.16. Lượng ion kali bài tiết trong các phân đoạn nước
tiểu ngày 1 (trước khi uống thuốc thử nghiệm) 47
Bảng 3.17. Lượng ion kali bài tiết trong các phân đoạn nước tiểu
ngày 1 (trùc khi uống thuốc đối chiếu) 48
Bảng 3.18. So sánh tốc độ bài tiết ion kali trong ngày xác
đònh lượng ion kali căn bản trước khi uống thuốc thử nghiệm và uống
thuốc đối chiếu 49
Bảng 3.19. Thể tích các phân đoạn nước tiểu ngày 2
(NTN uống thuốc thử nghiệm) 52
Bảng 3.20. Thể tích các phân đoạn nước tiểu ngày 2
(NTN uống thuốc đối chiếu) 53
Bảng 3.21. Nồng độ ion kali trong các phân đoạn nước tiểu ngày 2
(thuốc thử nghiệm) 54
Bảng 3.22. Nồng độ ion kali trong các phân đoạn nước tiểu
ngày 2 (thuốc đối chiếu) 55
Bảng 3.23 . Lượng ion kali bài tiết trong các phân đoạn nước tiểu
trong ngày 2 (ngày uống thuốc thử nghiệm) 56
Bảng 3.24. Lượng ion kali bài tiết trong các phân đoạn nước tiểu
ngày 2 (thuốc đối chiếu) 57
Bảng 3.25. Lượng ion kali TĂNG trong khoảng 0-24 giờ (Ae
0-24
)
do uống thuốc thử nghiệm (= ngày 2 – ngày 1) 59
Bảng 3.26. Lượng ion kali TĂNG trong khoảng 0-24 giờ (Ae
(tính trong 24 giờ) 73
Bảng 3.37. Bảng số liệu tính hằng số tốc độ bài tiết (K
el
)
của thuốc thử nghiệm 74
Bảng 3.38. Bảng số liệu tính hằng số tốc độ bài tiết (K
el
)
của thuốc đối chiếu 75
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Máy ADVIA 1650 15
Hình 2.2. Hệ thống điện cực chọn lọc ion K
+
, Na
+
, Cl
-
16
Hình 2.3. Sơ đồ cấu hình hệ thống ISE của máy ADVIA 1650 17
Hinh 3.4. Đồ thò so sánh lượng kali clorid phóng thích in vitro
của thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong môi trường
HCl 0,1N (f
2
= 85,30) 27
Hinh 3.5. Đồ thò so sánh lượng kali clorid phóng thích in vitro
của thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong môi trường
nước cất (f
2
PH
ẦN MỞ ĐẦU
Thuốc là những sản phẩm được dùng trực tiếp cho người bệnh nên phải đạt
chất lượng, an toàn và hiệu quả. Cho đến nay chất lượng của thuốc thường
được đánh giá bằng các phương pháp lý hóa theo tiêu chuẩn qui định của sản
phẩm. Trong trị liệu, các thuốc có dạng phân liều, loại dược chất và hàm
lượng giống nhau (tương đương dược học) thường được dùng thay thế cho
nhau. Tuy nhiên, sự đánh giá chất lượng theo các tiêu chuẩn dược học in vitro
không thể hiện được hiệu quả đích thực của thuốc trong cơ thể do tính chất
phóng thích dược chất và sự hấp thu khác nhau của các chế phẩm từ các nhà
sản xuất khác nhau.
Tại Hoa Kỳ, từ trước năm 1962, các thuốc có cùng loại dược chất và hàm
lượng với thuốc của nhà phát minh có thể lưu hành trên thị trường mà không
cần phải thử in vivo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hai thuốc cùng đạt chỉ tiêu
chất lượng theo cùng một tiêu chuẩn chưa đủ để kết luận 2 thuốc cho tác dụng
trị liệu như nhau. Đến năm 1962, tu chính án Kefauver-Harris đã yêu cầu tất
cả các thuốc generic đều phải được chứng minh hiệu quả và tính an toàn in
vivo trước khi đ ược lưu hành trên thị trường [23]. Hiệu quả của thuốc phải
được chứng minh bởi các thử nghiệm in vivo với các bằng chứng là các thông
số dược động học đã được xử lý và so sánh với thuốc của nhà phát minh (hoặc
thuốc đối chiếu) bằng các phương pháp thống kê thích hợp. Đến đầu thập niên
1970, cơ quan FDA đã thiết lập những tiêu chuẩn để chứng minh hiệu quả của
thuốc generic và đề ra những chuẩn mực để đánh giá tương đương sinh học.
Hiện nay, không những các nước tiên tiến (Hoa Kỳ, Canada, Liên minh Châu
Âu…) mà rất nhiều nước đang phát triển (Malaysia, Trung Quốc, Hàn
Quốc…) đã có những hướng dẫn nghiên cứu tương đương sinh học. Ở Việt
Nam, nghiên cứu tương đương sinh học chỉ mới được đề cập trong khoảng 10
- Nghiên cứu xác định các thông số dược động học ở người tình
nguyện uống thuốc thử
nghiệm và thuốc đối chiếu.
- Xử lý thống kê để kết luận về tương đương sinh học giữa 2 thuốc.
3
Sản phẩm cần đạt của đề tài (theo hợp đồng nghiên cứu số 209/HĐ-SKHCN
ngày 13 tháng 12 năm 2006 giữa Sở Khoa Học và Công Nghệ TP.HCM và
Đại Học Y Dược TP.HCM):
1. Báo cáo tổng kết
2. Báo cáo kết quả đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học cũa
viên nén Kali clorid 600 mg phóng thích kéo dài
3. Qui trình và số liệu thử độ phóng thích dược chất của viên Kali clorid
600 mg phóng thích kéo dài và viên Kaleorid
®
4. Protocol nghiên cứu tương đương sinh học viên Kali clorid 600 mg
phóng thích kéo dài so với viên Kaleorid
®
5. Bài báo khoa học
Nhóm nghiên cứu gồm:
1. PGS.TS. Hoàng Minh Châu Cố vấn khoa học
2. TS. Lê Hậu Chủ nhiệm đề tài
3. Th.S. Lê Thị Thu Vân Nghiên cứu viên chính
+
trong và ngoài tế bào cần thiết cho dẫn truyền xung
động thần kinh ở các mô đặc biệt như tim, não và cơ xương cũng như duy trì
chức năng thận bình thường và cân bằng kiềm toan.
Sự vận chuyển ion kali qua màng tế bào được thực hiện bởi men Na
+
-K
+
-ATP-
ase, có tác dụng vận chuyển tích cực, bơm Na
+
ra ngoài và K
+
vào trong tế
bào. Những bất thường về nồng độ kali có thể ảnh hưởng đến chức năng tim.
Các bệnh lý liên quan đến ion kali bao gồm tăng kali huyết và hạ kali huyết,
có thể đuợc chia làm 3 nhóm căn cứ vào nguyên nhân:
5
- Rối loạn do thay đổi cung cấp kali cho cơ thể
- Rối loạn do bài tiết
- Rối loạn trong phân phối kali qua màng tế bào
Tăng kali huyết xảy ra khi kali được tạo ra quá nhiều (ly giải mô) hoặc không
được thải trừ hữu hiệu do nguyên nhân hormon (thiếu aldosteron) hoặc do các
nguyên nhân từ nhu mô thận gây tổn thương bài tiết. Triệu chứng lâm sàng là
cảm giác khó chịu, đánh trống ngực và yếu cơ.
Nếu nồng độ kali trong huyết tương ít hơn 137 mg/Lít (3,5mEq/Lít) thì được
chẩn đoán là hạ kali huyết; trường hợp kali huyết tương ít hơn 98 mg/Lít thì
được xem là hạ kali huyết nặng. Dấu hiệu lâm sàng sơ phát là yếu cơ và đau
hơn các muối kali khác. Mặt khác, khi nồng độ kali huyết giảm thường kèm
theo tình trạng giảm clo huyết, nên kali clorid thường được sử dụng để vừa
cung cấp ion kali vừa cung cấp ion clo [4]. Hiện nay có nhiều dạng thuốc chứa
kali clorid như dạng dung dịch uống, thuốc bột để pha thành dùng dịch uống
chứa 10, 15, 20 mmol; dạng kali đậm đặc dùng pha tiêm 1,5 mmol/ml; viên
nén bao tan trong ruột 600 mg và viên nén hoặc viên nang phóng thích kéo dài
600 mg (8 mmol) hoặc 750 mg (10 mmol).
Các dạng thuốc viên qui ước (kể cả viên nén bao tan trong ruột) thường gây
nhiều biến chứng cho đường tiêu hoá như buồn nôn, nôn mữa, loét dạ dày,
thực quản. Dạng dung dịch uống ít gây biến chứng cho đường tiêu hoá hơn,
do niêm mạc dạ dày không tiếp xúc trực tiếp với các tinh thể kali clorid,
nhưng thuốc lại có vị mặn khó uống và thường gây buồn nôn. Các dạng thuốc
kali clorid phóng thích kéo dài có ưu đ iểm là tránh được nguy cơ tác dụng phụ
tại đường tiêu hoá đồng thời hiệu quả điều trị tốt hơn các dạng thuốc kinh điển
vì tạo được một nồng độ ion kali ổn định. Các biệt dược đang lưu hành tại
Việt Nam gồm: Kaldyum 600 mg (Egis Pharma, Hungary), Kaleorid
®
LP
600 mg (Leo Pharmaceuticals, Đan Mạch), Slow-K
®
.
Chỉ định - Liều dùng
Chỉ định
Các thuốc chứa kali clorid thường được chỉ định để điều trị giảm kali huyết
nặng ở người bệnh dùng thuốc lợi tiểu thải kali để điều trị cao huyết áp vô căn
chưa biến chứng.
Kali clorid cũng có thể chỉ định cho người bị xơ gan có chức năng thận bình
thường, một số trạng thái tiêu chảy, kể cả do sử dụng thuốc nhuận tràng dài
7
corticotrophin, ACTH, gentamicin, penicilin (kể cả azlocilin, carbenicilin,
mezlocilin, piperacilin, ticarcilin), polymycin B. Nhu cầu kali có thể tăng ở
8
những người dùng các thuốc trên do tăng bài tiết kali qua thận, cần theo dõi
chặt chẽ kali huyết thanh. Các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống viêm
không steroid (NSAID), các tác nhân chẹn beta giao cảm, máu từ ngân hàng
máu (có thể chứa kali tới 30 mmol trong một lít huyết tương hoặc tới 65 mmol
trong một lít máu khi bảo quản quá 10 ngày), cyclosporin, thuốc lợi tiểu ít thải
kali, heparin, sữa có ít muối, chất thay thế muối, sử dụng đồng thời với kali
clorid có thể tăng nồng độ kali huyết thanh, làm tăng kali máu nặng gây ngừng
tim, đặc biệt đối với bệnh nhân suy thận. Sử dụng các chất chống viêm không
steroid cùng với kali clorid có thể tăng nguy cơ tác dụng phụ đối với dạ dày-
ruột.
Kali clorid cần sử dụng thận trọng ở người dùng muối calci đường tiêm vì có
nguy cơ gây loạn nhịp tim. Khi dùng kali clorid kết hợp với thuốc lợi tiểu
thiazid (làm mất nhiều kali), có nguy cơ làm tăng kali máu khi ngừng thuốc lợi
tiểu. Kali clorid dùng đồng thời với insulin hoặc natri bicarbonat gây giảm kali
huyết thanh do thúc đẩy ion kali vào trong tế bào.
Kali clorid không được dùng ở người bị blốc tim hoàn toàn hoặc nặng đang
dùng digitalis, tuy nhiên nếu phải bổ sung kali để đề phòng hoặc điều trị hạ
kali máu ở những người dùng digitalis thì phải theo dõi chặt chẽ nồng độ kali
huyết thanh [4].
Kali clorid không được pha vào mannitol, máu hoặc các sản phẩm máu, hoặc
dung dịch chứa aminoacid hoặc có chứa lipid vì có thể làm kết tủa những chất
này hoặc gây tan hồng cầu truyền vào.
Kali clorid dạng viên chống chỉ định khi thực quản bị chèn ép, dạ dày chậm
tiêu, tắc ruột, hẹp môn vị vì cản trở kali clorid qua dạ dày-ruột có thể gây kích
ứng dạ dày ruột nặng hơn do nồng độ kali cao tại chỗ.
Tiêu hóa: tiêu chảy, buồn nôn, đau họng, đau dạ dày, khó chịu hoặc trướng
bụng nhẹ, nôn. Trường hợp nặng có thể xuất huyết đường tiêu hoá (phân có
máu màu đỏ hoặc màu đen).
Tuần hoàn: tăng kali máu, nhịp tim không đều hoặc chậm.
Cơ: mất cảm giác hoặc như kim châm ở bàn tay, bàn chân hoặc môi, chi dưới
yếu hoặc có cảm giác nặng, cảm giác chuột rút.
Hô hấp: thở nông hoặc khó thở.
Để tránh các tác dụng phụ tại đường tiêu hoá, nên uống thuốc cùng với thức ăn
và uống với nhiều nước. 10Độc tính – Quá liều và xử lý quá liều
Xử lý quá liều: Khi rối loạn nhịp xảy ra hoặc khi lượng kali vượt quá 6,5
mmol/L, bắt buộc phải hạ kali khẩn cấp. Một vài thuốc được dùng để hạ lượng
kali, việc lựa chọn phụ thuộc vào mức độ và nguyên nhân gây tăng kali máu,
cũng như tình trạng của bệnh nhân. Triệu chứng thường gặp là những thay đổi
trên điện tâm đồ điển hình (sóng T tăng biên độ và nhọn, sóng P biến mất,
phức hợp QRS giãn rộng).
Điều trị dùng dextrose 10 % pha thêm 10-20 đơn vị insulin trong một lít và
truyền với tốc độ 300-500 ml dịch trong một giờ.
Điều chỉnh nhiễm toan bằng natri bicarbonat 50 mmol tiêm tĩnh mạch trong 5
phút. Có thể nhắc lại liều này trong vòng 10-15 phút.
Dùng calci gluconat (0,5-1 g, tiêm tĩnh mạch trong 2 phút) để chống lại tác
dụng độc trên tim.
Sử dụng nhựa trao đổi ion để rút kali thừa ra khỏi cơ thể bằng sự hấp phụ và
(hoặc) trao đổi kali. Uống 20-50 g nhựa trao đổi ion natri polystyren sulfonat
pha trong 100-200 ml dung dịch sorbitol 20 %. Liều có thể cho 4 giờ một lần,
lớn để có thể nâng cao nồng độ khi cần. Nồng độ thuốc nguyên vẹn hoặc chất
chuyển hóa của nó trong nước tiểu thường cao hơn, ít bị cản trở bởi các
protein và các chất khác có trong máu do đó dễ định lượng hơn.
Khó khăn lớn nhất là cần thiết phải thu thập đủ lượng nước tiểu, tránh mất
mát lượng nước tiểu trong từng phân đoạn, vì hàm lượng của thuốc được bài
tiết trong nước tiểu liên quan đến thể tích nước tiểu thu thập được trong các
phân đoạn lấy mẫu. Muốn vậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ người tình
nguyện và lượng nước uống phải đủ để thu được lượng nước tiểu đầy đủ.
Tương tự như xác định nồng độ thuốc trong máu, sự xác định nồng độ thuốc
trong nước tiểu cũng căn cứ trên giả định là các thông số dược động học
không phụ thuộc vào liều dùng; nếu sự bài tiết thuốc qua thận đạt đến trạng
thái bão hoà, tỉ lệ phần trăm thuốc bài tiết qua nước tiểu không phản ánh được
sinh khả dụng của thuốc.
Ba thông số dược động học quan trọng cần xác định trong nghiên cứu sinh khả
dụng qua nước tiểu là [14],[18], [19]:
- Ae (còn ký hiệu là dU hoặc ∑Xu): lượng thuốc chưa chuyển hoá được
bài tiết qua nước tiểu. Thông số Ae được xem là tương tự với diện tích
12
di ng cong nng thi gian trong nghiờn cu sinh kh dng da
trờn nng thuc trong mỏu.
- R
max
(hoc ER
max
): tc bi tit ti a, c tớnh t tc bi tit
thuc trong cỏc phõn on nc tiu. Thụng s R
max
c xem l tng
13
Chương II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – THIẾT BỊ – HOÁ CHẤT
Đối tượng nghiên cứu
- Thuốc thử nghiệm: Viên nén bao phim Kali clorid 600 mg phóng thích kéo
dài (tương đương 8 mEq), lô số 020806, hàm lượng 102,1 %. Thuốc thử
nghiệm được sản xuất ở qui mô pilot với cỡ lô 30.000 viên và đạt tiêu chuẩn
cơ sở.
- Thuốc đối chiếu: Viên nén Kaleorid
®
LP 600 mg, lô số DA 8417, sản xuất
bởi Pharmaceutical Products, Đan Mạch, ngày sản xuất 09/2006, hạn dùng
09/2011, hàm lượng 100,5 %.
Các mẫu thuốc đối chiếu và thuốc thử nghiệm đã được kiểm nghiệm tại Viện
Kiểm Nghiệm Thuốc Tp.HCM, kết quả cả 2 mẫu thuốc đều đạt tiêu chuẩn cơ
sở (phụ lục 1 và phụ lục 2)
- Các mẫu nước tiểu, máu, phân thu thập từ người tình nguyện tham gia
nghiên cứu.
Trang thiết bị
Cân phân tích điện tử Metter HR 200, độ nhạy 0,1 mg
Máy thử độ hòa tan Pharma Test PTWS 3C
Máy pH kế Metler Metrohm IT40010, có chức năng đo điện thế, điện cực Bạc
titrode 60431100