Nghiên cứu đánh giá tương đương sinh học của viên nén với thuốc đối chiếu viên nén atacand ® 16 mg - Pdf 31

MỤC LỤC

Danh mục hình

Danh mục bảng

1


1. ĐẶT VẤN ĐÊ
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, bệnh lý tăng huyết áp, còn được gọi là cao huyết áp, là
một tình trạng mà trong đó các mạch máu liên tục tăng áp lực. Huyết áp được tạo ra bởi
áp lực máu đẩy vào thành mạch máu (động mạch) do sức bơm của tim.
Huyết áp của người lớn bình thường là khi huyết áp tâm thu có giá trị 120 mmHg và
huyết áp tâm trương là 80 mmHg. Khi huyết áp tâm thu bằng hoặc cao hơn 140 mmHg
và/hoặc huyết áp tâm trương bằng hoặc cao hơn 90 mmHg, được xem là tình trạng cao
huyết áp. Nguyên nhân gây nên bệnh cao huyết áp thường không được xác định rõ. Đôi
khi cao huyết áp gây ra các triệu chứng như nhức đầu, khó thở, chóng mặt, đau ngực, tim
đánh trống ngực và chảy máu mũi. Tuy nhiên, hầu hết những người bị tăng huyết áp
không có biểu hiện triệu chứng gì. Do đó, đây là một bệnh lý mãn tính và nguy hiểm.
Càng cao huyết áp, nguy cơ thiệt hại cho tim và mạch máu ở các cơ quan quan trọng như
não và thận càng cao. Nếu không được kiểm soát, tăng huyết áp có thể dẫn đến cơn đau
tim, phình tim và cuối cùng là suy tim. Cao huyết áp cũng có thể dẫn đến đột quỵ, suy
thận, mù lòa và suy giảm nhận thức.
Đến nay, đã có rất nhiều thuốc được dùng để điều trị bệnh cao huyết áp ở người trưởng
thành. Chủng loại và số lượng các thuốc điều trị cao huyết áp cũng được các nhà sản xuất
dược phẩm quan tâm nghiên cứu phát triển mong tìm ra những liệu pháp điều trị hiệu quả.
Các nhóm thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp là các nhóm thuốc ức chế men chuyển, chẹn
kênh calci, thuốc lợi tiểu, thuốc tác dụng lên thần kinh trung ương, thuốc giãn mạch và
thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II...
Một trong số các thuốc điều trị cao huyết áp thế hệ mới thì Candesartan cilexetil, là một

2.1.1. Tính chất lý hóa
-

Dược chất Candesartan có công thức cấu tạo:

Hình 1. Công thức phân tử của Candesartan
Tên khoa học: 2-ethoxy-1-({4-[2-(2H-1,2,3,4-tetrazol-5-yl)phenyl]phenyl}methyl)-1H1,3-benzodiazole-7-carboxylic acid
Công thức phân tử: C24H20N6O3
Khối lượng phân tử: 440,45.
-

Candesartan tồn tại dưới dạng muối là Candesartan cilexetil có công thức cấu tạo:

Hình 2. Công thức phân tử của Candesartan cilexetil
Tên khoa học: (±)-1-Hydroxyethyl-2-ethoxy-1-[p-(o-1H- tetrazol-5-ylphenyl)benzyl]-7benzimidazol carboxylat
Công thức phân tử: C33H34N6O6
Khối lượng phân tử: 610,67.


Tính chất vật lý: Candesartan cilexetil có dạng bột màu trắng đến trắng ngà, thực tế không
tan trong nước, tan ít trong methanol, rất dễ tan trong acetonitrile. Nhiệt độ nóng chảy 165
o

C.

Candesartan cilexetil là hỗn hợp racemic chứa một tâm bất đối tại vị trí nhóm
cyclohexyloxycarbonyloxy ethyl ester. Sau khi uống, candesartan cilexetil bị thủy phân ở
nối ester tạo dẫn chất hoạt động, candesartan.

2.1.2. Tính chất dược lý [5]

được chứng minh là qua hàng rào máu não rất kém; qua hàng rào nhau thai và phân bố
đến thai nhi.
Chuyển hóa và thải trừ
Thanh thải huyết tương toàn phần của candesartan là 0,37 mL/phút/kg, với mức độ thanh
thải ở thận là 0,19 mL/phút/kg. Candesartan được bài tiết dưới dạng không đổi trong nước
tiểu và phân (qua mật). Ở người khỏe mạnh, 56% liều dùng đường uống của candesartan
được bài tiết qua phân và khoảng 26% liều được bài tiết không đổi trong nước tiểu trong
vòng 24 giờ.
Thời gian bán hủy t1/2 của candesartan là khoảng 9 giờ. Khi dùng đơn liều mỗi ngày, dược
động học tuyến tính với liều dùng đến 32 mg candesartan cilexetil.

2.1.4. Chỉ định [5]
Candesartan được chỉ định để điều trị tăng huyết áp ở người lớn và trẻ em từ 1-17 tuổi.
Nó có thể được dùng đơn trị hay phối hợp với những thuốc điều trị cao huyết áp khác.
Candesartan cũng được chỉ định để điều trị suy tim ở người lớn bị bất thường tâm thu thất
trái để giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch hay suy tim khi nằm viện.

2.1.5. Liều lượng và cách dùng [5]
Điều trị cao huyết áp ở người trưởng thành: Liều phụ thuộc vào từng cá nhân. Liều khởi
đầu khuyến cáo là liều 16 mg, một hoặc hai lần mỗi ngày với liều tổng cộng từ 8-32 mg.
Liều cao hơn không có tác động mạnh hơn. Hầu hết tác dụng chống tăng huyết áp của
thuốc thể hiện trong vòng 2 tuần và mức giảm huyết áp tối đa thường đạt được trong vòng
4-6 tuần điều trị.
Ở người suy gan: Khởi đầu với liều 8 mg mỗi ngày ở bệnh nhân suy gan vừa phải. Không
dùng thuốc cho bệnh nhân suy gan nghiêm trọng.
Thuốc có thể dùng với thức ăn.


Điều trị suy tim: Liều khởi đầu là liều 4 mg một lần mỗi ngày đến liều đích là 32 mg mỗi
ngày một lần.


o

Cùng dạng thuốc (dạng bào chế).

o

Chứa cùng loại và lượng dược chất.

o

Cùng đường sử dụng.

o

Cùng đạt các tiêu chuẩn chất lượng qui định.

o

Có thể khác nhau về tá dược, mùi, hình dạng, tuổi thọ, nhãn... Các chế phẩm
tương đương dược học có thể cho kết quả trị liệu giống nhau hoặc không giống
nhau.

2.3. Tương đương sinh học
Để có thể thay thế trong trị liệu, hai chế phẩm tương đương về dược học chưa đủ mà phải
tương đương về sinh học. Hai thuốc trên tương đương sinh học khi sinh khả dụng của hai
thuốc không khác nhau về mặt toán thống kê, nghĩa là các thông số dược động AUC, T max,
Cmax không khác nhau.

Cmax: nồng độ cao nhất đạt được sau khi dùng một liều thuốc

Việt Nam
Candesartan cilexetil
16 mg
Viên nén
Tiêu chuẩn cơ sở

Thuốc đối chiếu
Atacand® 16 mg
AstraZeneca
Thụy Điển
Candesartan cilexetil
16 mg
Viên nén
Tiêu chuẩn cơ sở

Z5429021

Z5425021

Hộp 2 vỉ x 14 viên

Hộp 2 vỉ x 14 viên

4.1.2. Hóa chất – thuốc thử
Chất chuẩn: candesartan.
Các hóa chất đạt chuẩn phân tích.
Huyết tương mua tại Trung tâm Truyền máu và Huyết học TP.HCM.
4.1.3. Trang thiết bị
Thiết bị xử lý và định lượng
-

-

Kim luồn, bơm tiêm, bông, băng, gạc, ống ly tâm và ống bảo quản mẫu, giấy ghi tên
mẫu

Phòng lấy mẫu:
Có đủ trang thiết bị và nhân viên y tế theo dõi lâm sàng, xử trí các trường hợp tai biến xảy
ra; được cung cấp điều kiện sinh hoạt, giải trí đảm bảo cho người tình nguyện cảm thấy
thoải mái trong quá trình tham gia thử nghiệm.

4. CƠ SỞ, NGƯỜI THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở nghiên cứu
Phải đạt tiêu chuẩn thực hành tốt phòng thí nghiệm (GLP):
-

Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh.

-

Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Nguyễn Trãi thành
phố Hồ Chí Minh.

4.2. Người thực hiện nghiên cứu
-

Người chịu trách nhiệm chính: chủ nhiệm đề tài (dược sĩ đại học).

-

Những người tham gia: một số bác sĩ, điều dưỡng của bệnh viện Đại học Y Dược

Thời gian nghỉ
(07 ngày)

Thuốc đối chiếu
Thuốc thử

Trong nghiên cứu chéo, khoảng cách giữa 2 giai đoạn là giai đoạn nghỉ, phải đủ dài để
thuốc giai đoạn đầu được thải trừ hoàn toàn ra khỏi cơ thể, nhằm loại bỏ hiệu quả
chồng do sự tồn dư từ giai đoạn 1 lên giai đoạn 2. Thời gian nghỉ đủ để thuốc được
thải trừ phải ít nhất bằng 5 lần thời gian bán hủy của thuốc (5 t 1/2). Thiết kế này chọn
thời gian nghỉ giữa 2 lần dùng thuốc là 07 ngày (t 1/2 của thuốc là khoảng 9 giờ). Trong
thời gian nghỉ, người tình nguyện được cho về nhà và sinh hoạt bình thường.

5.3. Quy trình thử nghiệm [9], [11], [15], [16], [19], [21]
-

Sau khi nhịn đói qua đêm ít nhất 10 giờ, người tình nguyện sẽ được cho uống 1 liều
duy nhất thuốc đối chiếu hoặc thuốc thử nghiệm với 240 ml nước, 4 giờ sau khi dùng
thuốc, người tình nguyện được ăn sáng với thức ăn đã được chuẩn hóa và sẽ dùng
cùng loại thức ăn trong cả hai giai đoạn thử nghiệm.

-

Trong cả hai giai đoạn nghiên cứu, các bữa ăn tiêu chuẩn hóa sẽ được phục vụ tại 4, 8
và 12 giờ sau khi dùng thuốc.

-

Hết thời gian lấy mẫu của giai đoạn 1, người tình nguyện được phép trở về nơi cư trú
sinh hoạt bình thường và tập trung lại sau đó 2 ngày để bắt đầu giai đoạn 2. Giai đoạn


6.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Người tình nguyện được lựa chọn phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
-

Người khỏe mạnh.

-

Giới tính: nam hoặc nữ, nếu là nữ thì không đang có thai, kinh nguyệt hoặc đang trong
thời kỳ cho con bú.

-

Trong độ tuổi 18 – 55 tuổi, cân nặng và chiều cao cân đối, chỉ số BMI trong khoảng
18 – 25 (kg/m2).

-

Không có tiền sử bị dị ứng với các thành phần của thuốc đang nghiên cứu thử nghiệm
hoặc các thuốc tương tự.

-

Không bị các bệnh mãn tính, không nhiễm HIV/AIDS, viêm gan HBV, không có tiền
sử về bệnh tim mạch, bệnh gan, bệnh đường tiêu hóa, bệnh chuyển hóa không bình
thường hoặc bệnh về hệ thần kinh. Không đang mắc các bệnh nhiễm trùng.

-



Người tình nguyện phải được biết đầy đủ về thử nghiệm và tự nguyện cam kết tham
gia nghiên cứu bằng văn bản. (Phụ lục 2: Giấy cam kết tự nguyện tham gia nghiên
cứu).

6.2. Tiêu chuẩn loại trừ
-

Không chấp hành chế độ ăn uống, nội quy, sinh hoạt đã quy định.

-

Không đảm bảo định kỳ lấy mẫu hoặc số lượng mẫu được lấy.

-

Phải sử dụng thuốc khác trong quá trình tham gia thử nghiệm.

-

Mới tình nguyện hiến máu hoặc vừa mới tham gia các nghiên cứu thử thuốc khác
trong vòng 3 tháng trước khi uống thuốc nghiên cứu.

6.3. Rút khỏi nghiên cứu
-

Người tình nguyện được quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không cần phải
biện hộ cho quyết định của mình.

-

ép trái cây, thức uống có chứa xanthin… trong vòng 24 giờ trước và sau khi dùng
thuốc.

-

Tất cả ngày và giờ uống thuốc và lấy máu thử nghiệm đều được ghi nhận lại theo mẫu.

-

Bữa ăn trưa và chiều lần lượt được cung cấp vào 4 và 10 giờ sau khi uống thuốc. Vào
các ngày thứ 2 và thứ 3, buổi ăn sáng lần lượt được cung cấp vào thời điểm +24 tiếng
và +48 tiếng so với ngày thứ 1, bữa ăn trưa và chiều vẫn được cung cấp giống ngày 1.
Tiêu chuẩn của thức ăn và nước uống được qui định bởi nhóm nghiên cứu và đồng
nhất giữa các người tình nguyện về mặt số lượng, chất lượng và thời gian.

-

Hết thời gian lấy mẫu gian đoạn 1, người tình nguyện trở về nơi cư trú sinh hoạt bình
thường và tập trung lại khi bắt đầu giai đoạn 2 sau đó 2 tuần. Giai đoạn 2 lặp lại quá
trình tương tự giai đoạn 1.

-

Người tình nguyện không được dùng thuốc loại kê đơn trong vòng 2 tuần và thuốc
thường trong vòng 1 tuần.

-

Người tình nguyện phải thông báo cho cán bộ nghiên cứu nếu có bất kỳ một phản ứng
phụ nào xảy ra có thể liên quan tới thuốc.


Các ống đựng mẫu phải được dán nhãn ghi rõ các thông tin: số hiệu của người tình
nguyện, số hiệu mẫu thuốc đã uống, ngày giờ lấy mẫu.

8.2. Lưu mẫu
-

Mẫu phải được ổn định trong thời gian chờ phân tích, điều kiện lưu mẫu phải phù hợp
(thường ở nhiệt độ - 20°C).

-

Mẫu thử và mẫu đối chiếu phải được lưu đủ (200 đơn vị liều) và ít nhất 5 năm sau khi
thuốc được cấp phép.

9.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH - THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP
Nồng độ trong huyết tương của Candesartan được phân tích bằng kỹ thuật sắc ký lỏng siêu
hiệu năng với đầu dò khối phổ (UPLC®-MS/MS; ACQUITY® TQD; WatersTM, Milford,
MA, Hoa Kỳ).
9.1.

Chuẩn bị mẫu thử

Mẫu thử được cho vào các ống nghiệm thích hợp, sau đó thêm vào mỗi ống dung dịch
chuẩn nội (irbesatan 1mg/ml), acid và diethyl ether. Tiếp theo đem các ống này đi ly tâm,
lớp dung môi hữu cơ được chuyển vào một ống thủy tinh khác và để bay hơi đến khô ở
nhiệt độ 50 0C dưới dòng nitơ. Phần còn lại sau khi bay hơi cho hòa tan trong pha động,
lắc rung và chuyển vào một vial chứa mẫu để tiêm vào hệ thống UPLC ®- MS/MS.

10.

PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ - XỬ LÝ KẾT QUẢ

Dùng phép phân tích phương sai (ANOVA) để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thử
nghiệm như trình tự, thời kỳ, đối tượng và xử lý (thuốc). Nếu sự biến thiên lớn, sự khác
nhau của giá trị trung bình có thể bị che lấp gây nguy cơ biện luận sai.
Nồng độ tối đa (Cmax), thời gian đạt nồng độ tối đa (T max) được tính dựa vào giá trị thực
nghiệm (nồng độ candesartan trong huyết tương). Thiết lập bảng số liệu, đồ thị nồng độ
candesartan trong huyết tương của từng người tình nguyện và tính giá trị trung bình của
mẫu thử nghiệm và mẫu đối chiếu (số liệu được chuyển sang dạng log).
Xác định hằng số tốc độ thải trừ k e: giai đoạn thải trừ là một quá trình động học bậc 1,
chuyển số liệu sang dạng logarit tự nhiên, vẽ đường biểu diễn (đường thẳng).
Hằng số tốc độ thải trừ là độ dốc của đường biểu diễn.

T1 / 2 =

0,693
Ke

Diện tích dưới đường cong nồng độ thuốc theo thời gian cho đến thời điểm lấy mẫu cuối
(AUC0-∞) được tính theo phương pháp tổng diện tích các hình thang.
Diện tích dưới đường cong ngoại suy (AUC0-∞) được tính theo công thức:

AUC0−∞ = AUC0−t + AUCt→∞


AUCt → ∞ =
Trong đó:


Việt Nam và quốc tế, tuân thủ theo pháp luật Việt Nam, các quy định thực hành thử
nghiệm lâm sàng tốt.

-

Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố
Hồ Chí Minh được thành lập và hoạt động theo đúng quy định hiện hành của Bộ Y tế.

-

Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố
Hồ Chí Minh họp thông qua đề cương nghiên cứu và chấp thuận cho phép tiến hành
thử trên người tình nguyện


-

Thử nghiệm chỉ được tiến hành khi đơn xin đánh giá đạo đức trong nghiên cứu của
nhóm nghiên cứu được chấp nhận bởi Hội đồng y đức trong nghiên cứu y sinh học và
khi người tình nguyện tham gia thử nghiệm đồng ý ký tên vào đơn tình nguyện thử
nghiệm sau khi đọc, nghe giải thích rõ ràng về ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu
này cũng như tình huống bất lợi có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu (xem phụ
lục).

-

Phối hợp với các nhân viên y tế của bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh để kiểm tra sức khỏe, tuyển chọn người tình nguyện và các nhân viên y tế của
bệnh viện Nguyễn Trãi (Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) để lấy mẫu sinh học và
chăm sóc sức khỏe người tình nguyện.

chuẩn.
Đo độ hấp thu dung dịch thử, dung dịch chuẩn và mẫu trắng ở bước sóng 234 nm . Hàm
lượng telmisartan được tính dựa trên công thức:

× Cc ×

×

× 100

At: độ hấp thu của dung dịch thử
Ac: độ hấp thu của dung dịch chuẩn
Cc: nồng độ của dung dịch chuẩn (mg/ml)
Mtb: khối lượng trung bình của một viên
m: lượng thuốc cân

Độ giải phóng hoạt chất [2;7]
Thuốc nghiên cứu và thuốc đối chiếu được tiến hành thử nghiệm độ hòa tan theo tiêu
chuẩn cơ sở.
-

Số lượng viên mỗi mẩu thử 12 viên

-

Thiết bị: kiểu cánh khuấy

-

Môi trường: 1000 ml dung dịch đệm photphate pH 1.2 (HCl 0,1N) ; pH 4.5; pH

-

Tỉ lệ hoạt chất giải phóng được tính theo công thức:

% GPHC lũy tiến = %Xi + ΣXi-1/100
Lượng telmisartan phóng thích trong môi trường đệm phosphat pH 6.8 so với hàm lượng
ghi trên nhãn phải nằm trong các khoảng như sau:
Sau 1 giờ: lượng hoạt chất phóng thích phải nằm trong khoảng 20-40%
Sau 3 giờ: lượng hoạt chất phóng thích phải nằm trong khoảng 45-65%
Sau 10 giờ: lượng hoạt chất phóng thích phải không ít hơn 85%
So sánh về độ giải phóng hoạt chất của viên nén T 80mg nghiên cứu và viên Micardis 80
mg đối chiếu. Dựa vào hệ số tương đồng f2, nếu f2 nằm trong khoảng 50-100 thì chế phẩm
viên nén T 80mg và viên nén Micardis 80 mg tương đương về độ giải phóng hoạt chất,
hay nói cách khác là tương đương invitro.
−0 , 5
 1 n

2
f 2 = 50 × log 1 × × ∑ ( R t − Tt )  × 100 
 n t =1



n:

Số điểm lấy mẫu

Rt:

Trung bình phần trăm hoạt chất hoà tan từ thuốc đối chiếu tại thời điểm t.


V11

V12



12

Bảng 3. độ giải phóng hoạt chất các thuốc đối chiếu Micardis tại các thời điểm
Thời
gian (h)
0.25
0.5
1
2
4

12

% hoạt chất phóng thích
V 1 V2
V3
V4

V5

V6

V7

Người tình nguyện uống thuốc với 240 ml nước, chỉ được ăn sau 4 giờ uống thuốc với
suất ăn tiêu chuẩn. Người tình nguyện không được uống các thức uống có cồn, cà phê, trà,
nước tăng lực trong khoảng 48 giờ trước khi uống thuốc thử nghiệm và cho đến khi lấy
xong mẫu máu cuối mỗi giai đoạn. Người tình nguyện không được uống thuốc kê toa
trong vòng 2 tuần trước khi uống thuốc nghiên cứu, không tham gia hoạt động về thể chất
48 giờ trước khi uống thuốc và sau 8 giờ sau khi lấy xong mẫu máu cuối.
Nhóm
1
2

Giai đoạn 1
T 80 mg
Micardis

Thời gian nghỉ
(7 ngày)

Giai đoạn 2
Micardis
T 80 mg

4. Theo dõi trong quá trình thử nghiệm
Tiếp tục theo dõi các chỉ số sức khỏe cũng như các chỉ số xét nghiệm sau mỗi giai đoạn
thử nghiệm.
B. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MẪU

i. Khảo sát phương pháp xử lý mẫu
Mẫu chuẩn:
Telmisartan 1 mg/ml pha trong Acetonitril, và được thêm vào các dung dịch huyết tương
trắng để được các dung dịch chuẩn làm việc ở các nồng độ 1; 2; 5; 10; 20;50;100; 200

AUC0-∞
Thời
gian
0
0.25
0.5

72
AUC0-72
Ke
AUC0-∞

Người tình nguyện
1
2
3
4

5

6

7

8

9

10


Tmax (h)
T1/2 (h)
Ke
AUC 0-72 (h/ng/ml)
AUC 0-∞ (h/ng/ml)

T 80 mg

Micardis 80

CI cậy 90%)

Cmax : nồng độ tối đa thuốc trong huyết tương
Tmax: thời điểm thuốc đạt nồng độ tối đa
T1/2: thời gian bán thải
Ke: hằng số thải trừ (độ dốc của đường thẳng biểu diễn logarit nồng độ telmisartan theo thời gian trong pha thải trừ
AUC 0-72(h/ng/ml): diện tích dưới đường cong biểu thị nồng độ tính từ thời điểm bắt đầu dùng thuốc đến thời điểm 72h
AUC 0-∞ (h/ng/ml): diện tích dưới đường cong biểu thị nồng độ tính từ thời điểm bắt đầu dùng thuốc đến thời điểm thuốc đào
thải hoàn toàn.

 Nếu tỉ số của các giá trị trung bình AUC 0-72 ; AUC 0-∞; Cmax giữa thuốc nghiên cứu
và thuốc đối chiếu nằm trong khoảng 80-120%, hoặc ln 0.8-ln 1.25 (phân tích số
liệu đã chuyển dạng ln) thì kết luận 2 thuốc tương đương sinh học.
 So sánh giá trị Tmax của thuốc nghiên cứu và thuốc đối chiếu bằng phương pháp
thống kê phi tham số Wilconxon signed rank test.
Đặt giả thuyết:
H0: Tmax của viên nén T 80mg và viên nén Micardis 80 khác nhau không ý nghĩa.
Ha: Tmax của viên nén T 80mg và viên nén Micardis 80 khác nhau không ý nghĩa.

11. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐÊ TÀI


6

Hoàn thiện đề tài, viết báo cáo

06-07/2015



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status