1
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận
1.1. Lý do chọn đề tài 3
1.2. Mục tiêu của đề tài 3
1.3. Nội dung nghiên cứu 4
1.4. Đối tượng nghiên cứu 4
1.5. Phương pháp nghiên cứu 4
1.6. Giới hạn phạm vi khảo sát 4
1.7. Giả thuyết khoa học 5
1.8. Một số khái niệm cơ bản 5
1.9. Vấn đề hướng nghiệp ở các nước 13
Chương 2: Thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệ
p xã hội
2.1. Kết quả khảo sát ý kiến học sinh tạo một số trường Thpt Tp. Hồ Chí Minh
- Mẫu phiếu M01 14
2.2. Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên tại một số trường thpt tp. Hồ chí minh
-Mẫu phiếu M02 28
2.3. Kết quả khảo sát ý kiến sinh viên tại một số trường đh, cđ trên địa bàn TP.
Hồ CHÍ MINH
- Mẫu phiếu M03 43
2.4. Kết quả khảo sát ý kiến PHHS tại một số trườ
ng THPT TP. Hồ Chí Minh.
- Mẫu phiếu M04 60
TT Họ và tên Đơn vò công tác
1 TS. Nguyễn Kim Dung Viện NCGD
2
PGS.TS. Nguyễn Thiện Tống Trường ĐHBK TP
HCM
3
PGS.TS. Lê Văn Tiến Trường ĐHSP TP
HCM
4 NCVC. Quang Dương Viện NCGD
5 ThS. Lê Thò Thanh Tâm Viện NCXH TP HCM
6 ThS. Phạm Thò Lan Phượng Viện NCGD
7 ThS. Nguyễn Ngọc Tài Viện NCGD
8 ThS. Đỗ Thò Phương Anh Viện NCGD
9 Nguyễn Văn Bừng Trường ĐH Hồng Bàng 3
Chương 1
TỔNG QUAN VÀ CỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý do chọn đề tài
Chính vì lý do nêu trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã chọn đề tài: “Định
hướng giá trị nghề nghiệp xã hội – Thực trạng và gi
ải pháp” nhằm góp phần vào
việc giáo dục và nhận thức đúng đắn giá trị nghề nghiệp xã hội cho thế hệ trẻ
phù hợp với thế giới quan, nhân sinh quan khoa học hiện nay.
1.2. Mục tiêu của đề tài
4
1.2.1. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tìm hiểu thực trạng về giáo dục và
định hướng giá trị nghề nghiệp của nhà trường trung học phổ thông (THPT) và
xã hội.
1.2.2. Phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cần thiết nhằm giáo dục
và định hướng đúng đắn hệ thống giá trị nghề nghiệp xã hội cho học sinh, sinh
viên góp phần cân đối cơ cấu lao động xã hội, tạo ti
ền đề và nâng cao hiệu quả
cho công tác hướng nghiệp
1.3. Nội dung nghiên cứu1.3.1. Nghiên cứu lý luận, sưu tầm, tra cứu các tư liệu trong và ngoài nước
có liên quan như: giá trị, thang giá trị, giá trị nghề nghiệp, định hướng giá trị và
định hướng giá trị nghề nghiệp và các tài liệu và báo cáo của Sở GD&ĐT, Sở
Lao động Thương binh và xã hội.
1.3.2. Xây dựng (thiết kế, thử nghiệm) các mẫu phiếu khảo sát, điều tra
thực trạng giáo dục và định hướng giá tr
nghiên cứu cụ thể: phương pháp nghiên cứu mô tả kết hợp so sánh, phân tích,
tổng hợp và khái quát vấn đề.
* Nghiên cứu tiếp cận khách quan: Với 4 loại phiếu khảo sát, thiết kế
dành cho các đối tượng (khách thể nghiên cứu) được chọn mẫu khách quan:
Phiếu 01
: - Một số học sinh (nam, nữ) thuộc khối 11 và 12 của học
sinh THPT trên đại bàn thành phố (Theo giới thiệu của Sở GD&ĐT). Phiếu 02
–
Một số học sinh (nam, nữ), thuộc các khối lớp, ngành nghề tiêu biểu trong một
số trường ĐH, CĐ. Phiếu 03
– Các giáo viên thuộc các trường THPT (đã chọn
theo phiếu 01). Phiếu 04
– Các vị phụ huynh học sinh theo lớp học của các
trường THPT (đã chọn theo phiếu 01).
* Các nội dung khảo sát được hội tụ về những điểm sau: Phản ánh và
đánh giá thực trạng về nhận thức giá trị (trong đó có giá trị học tập), thang giá trị,
giá trị nghề nghiệp.vv…Những ảnh hưởng của chuyển đổi cơ chế thị trường và
hội nhập
đối với nhận thức, thái độ, ý thức cá nhân và kết quả định hướng giá trị
nghề nghiệp xã hội, kết quả chọn ngành học, nghề đào tạo của học sinh, sinh
viên cùng nguyên nhân và đề xuất phải pháp, điều kiện cho việc giáo dục và định
hướng đúng đắn hệ thống giá trị nghề nghiệp xã hội của nhà trường và xã hội
phù hợp với thế giới quan và nhân sinh quan khoa họ
c hiện nay.
1.6. Giới hạn phạm vi khảo sátĐề tài giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng trên địa bàn TP HCM là chính
với các đối tượng (khách thể nghiên cứu) là học sinh THPT (cuối cấp, giữa cấp)
Ở Việt Nam trước những năm 80 (thế kỷ 20), có lúc chúng ta nhận thức
chưa đúng đắn, phiến diện hoặc sai lệch về con người như:
- Có xu hướng chính trị hoá, nhấn mạnh mặt giai cấp hơn mặt nhân bản,
nhân văn.
- Nhấn mạnh con người công dân, xem nh
ẹ cá nhân, con người gia đình.
- Nhấn mạnh con người lý tưởng xem nhẹ con người gia đình.
- Nhấn mạnh lý tưởng, xem nhẹ con người đời thường…
Do đó định hướng giá trị đúng đắn là một yêu cầu cấp thiết bởi vì trong
nhà trường của ta chưa có giáo dục về giá trị và định hướng giá trị, đặc biệt là
định hướng giá trị xã hội, nghề nghiệp. Trong giáo dục, một thời mọ
i người đổ
xô vào ngành Y khoa vì quan niệm “Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, bỏ
qua sư phạm”…
Nhận thức giá trị nghề nghiệp xã hội sai lầm dẫn đến quan niệm: “Chuột
chạy cùng sào mới vào sư phạm”. Trong khi đó trên thế giới thì ngành sư phạm
lại rất được coi trọng, không chỉ vì giá trị nghề nghiệp của ngành sư phạm là
ngành đào tạo “máy cái” mà còn thể hiện cụ thể b
ằng việc tuyển chọn khó khăn,
trả thù lao và học bổng lớn. Thời phong kiến, thầy giáo ở vị trí rất cao trong xã
hội “quân, sư, phụ”. Hiện nay, do nhận thức chưa đúng đắn và phiến diện, do tác
động của cơ chế thị trường xã hội, học sinh, sinh viên đổ xô vào đại học, vào
những ngành nghề có thể kiếm được nhiều tiền, mà không cần biết đến những
đi
ều kiện tâm sinh lý và kiến thức của mình có phù hợp với thuộc tính tâm lý và
yêu cầu của nghề nghiệp hay không? Hoặc xem nhẹ các trường đào tạo trung cấp
chuyên nghiệp, đào tạo nghề. Dẫn đến xã hội có “nhiều thầy hơn thợ”.
Ngày nay, một số nước trên thế giới đã đưa giáo dục giá trị vào nhà
trường trở thành môn “giá trị học”.
tập đoàn xã hội gắn cho nó…Nó là là những vật điều hoà hành vi, lợi ích và
quan hệ của cá nhân; là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong cơ c
ấu
của tập đoàn xã hội, tạo ra ở cá nhân và tập đoàn xã hội đó những tố chất cho
một hành vi nhất định và những cơ sở để đánh giá hành vi đó”.
Nghiên cứu giá trị có liên quan trực tiếp đến chuẩn mực xã hội. Giá trị,
theo quan niệm của nhiều nhà khoa học là một phẩm chất cái đáng quý, cái có
ích, cái có tác dụng. Nó là cái mà người ta có thể định hướng vào nó, soi vào nó
mà điều chỉ
nh hành vi của mình (song không mang tính bắt buộc). Còn chuẩn
mực, ví dụ: chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực sư phạm lại là
cái mà ai đó vi phạm có thể sẽ bị trừng phạt. Giá trị và chuẩn mực đều là những
hiện tượng khách quan, phổ biến song không đồng nhất với nhau mà có ý nghĩa
bổ sung cho nhau. Bất kì một thiết chế xã hội nào cũng cần được tổ ch
ức trên cơ
sở của các giá trị và chuẩn mực nhất định. Nói một cách khác, các giá trị, chuẩn
mực là cơ sở cho sự tác động của các thiết chế xã hội cũng như những chức năng
xã hội mà thiết chế đó thực hiện.
Giá trị không phải là bất biến mà là một phạm trù lịch sử; nó được hình
thành và biến đổi cùng với những biến đổi của th
ực tiễn và sự nhận thức của con
người. Không thể nói đến sự tồn tại của xã hội mà lại không nói đến sự hiện diện
của các giá trị. Mỗi xã hội luôn bao hàm trong đó những giá trị vật chất và giá trị
tinh thần. Trong mỗi loại giá trị đó, được phân ra thành nhiều nhóm giá trị khác.
Ví dụ: trong loại giá trị tinh thần lại có các giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức, pháp
8
luật, chính trị xã hội, vv…Đồng thời cùng tồn tại với nó là các chuẩn mực tương
ứng.
Một tổ hợp các giá trị hay một hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật
sự vật hiện tượng, các thuộc tính của chúng, cũng như tư tưởng trừu tượng,
trong đó có bao hàm lý tưởng xã hội và nhờ đó đóng vai trò chẩn mực cần
thiết”.
Có 3 dạng giá trị:
+ giá trị mang lý tưởng trừu tượ
ng xã hội do ý thức xã hội tạo ra. Có giá
trị chung của nhân loại, vĩnh cửu (như sự thật, chân lý, cái đẹp, sự công bằng…)
có giá trị mang tính chất lịch sử cụ thể như chế độ phụ quyền…
+ giá trị thể hiện dưới dạng khách quan hoá, tức là thể hiện trong các sản
phẩm văn hoá vật chất, tinh thần, hoặc sản phẩm của hành vi con người trong đó
bột lộ
các lý tưởng giá trị xã hội (giá trị đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, pháp
luật,…).
9
+ giá trị xã hội được chuyển hoá, khúc xạ qua lăng kính của đời sống cá
nhân và tham gia vào cấu trúc tâm lý của cá nhân dưới dạng giá trị cá nhân – giá
trị cá nhân là một trong những nguồn gốc, động lực của họ. Mỗi cá nhân có một
hệ thống giá trị xắp xếp theo thứ bậc một cách đặc trưng. Hệ thống giá trị này là
mắt xích nối liền văn hoá tinh thần của xã hội và đời sống tinh th
ần của cá nhân,
nối liền thực tại xã hội và sự tồn tại của cá nhân.
Hệ thống giá trị của cá nhân được hình thành trong hoạt động có đối
tượng của cá nhân và chứa nội dung giá trị xã hội mà các giá trị này thể hiện
trong sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần. Giá trị cá nhân có đặc trưng là thể
hiện ý thức tự giác cao và được thể hiện dưới dạng định hướ
ng giá trị và định
hướng giá trị này là nhân tố quan trọng điều khiển quan hệ giữa người – người
và hành vi xã hội của cá nhân.
10
- Mỗi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, chúng có tính chất lựa
chọn, hay hướng dẫn và chúng bao gồm một số yếu tố tình cảm – các giá trị
được sử dụng như là những chuẩn của sự lựa chọn hành động.
1.8.2. Định hướng giá trị
Từ điển tâm lý - Sổ tay dành cho lãnh đạo, tựa đề: Con người - Sản xuất -
Quản lý – Nhà xuất bản Lenigrad 1982 – Tác giả Crulof, trang 134 “Định hướng
giá trị là hệ thống thái độ
của cá nhân đối với các chuẩn mực chính trị, xã hội và
đạo đức xã hội”.
Hệt thống định hướng giá trị là một trong những đặc điểm ổn định bền
vững nhất của cá nhân, thường quan hệ mật thiết với các chuẩn mực mà cá nhân
hướng vào trong cuộc sống của mình, với các lý tưởng mà con người theo đuổi.
Hệ thống giá trị có cấu trúc tầng bậ
c, đỉnh cao nhất là các giá trị rất gần
với động cơ, lý tưởng – trên thực tế người ta chia định hướng giá trị thành giá trị
mục đích và giá trị phương tiện.
Sổ tay tâm lý học – Ban Tâm lý xã hội biên soạn – 1990 tác giả Trần Hiệp
- Đỗ Long – trang 30, 31:
“- Cơ sở tư tưởng chính trị đạo đức, thẩm mỹ giúp chủ thể đánh giá thực
tại xung quanh và định hướng thực tại đó.
- Là phương pháp phân loại khách thể
của cá nhân theo giá trị của
chúng”.
“Trong cấu trúc của hoạt động con người, định hướng giá trị gắn liền với
đặc điểm nhận thức và ý chí của nhân cách. Hệ thống định hướng giá trị tạo
thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong của các mối quan
hệ giữa các nhân và thực tại”.
phát triển các định hướng giá trị đúng đắn là dấu hiệu trưởng thành của nhân
cách và là nhiệm vụ hàng đầu của công tác giáo d
ục thanh thiếu niên.
1.8.3. Giá trị nghề nghiệp và định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội
Giá trị nghề nghiệp là những giá trị dựa trên thực hành nghề nghiệp và
còn là giá trị do nghề nghiệp mang lại và đồng thời nghề nghiệp như một giá trị.
Giá trị nghề nghiệp, về nguyên tắc, là ở chỗ nghề nào mang lại lợi ích
nhiều nhất cho cộng đồng và xã hội,
đồng thời tạo nên thành đạt bản thân, nghề
nào có khả năng sáng tại và không chỉ làm ra của cải mà còn góp phần tạo dựng
và phát huy nhân cách cao nhất; nghề nào phù hợp với nhu cầu xã hội và khả
năng của gia đình, năng khiếu của bản thân.
Giá trị văn hoá xã hội hay giá trị sống là nền tảng của nhân cách, còn giá
trị nghề nghiệp là giá trị hành động, thực hành, giá trị là mũi nhọn, trực tiế
p. Cả
hai loại giá trị này gắn liền với giá trị lao động tạo ra giá trị kinh tế hay giá trị
văn hoá và cũng tạo thành giá trị nhân cách theo đúng nghĩa rộng, vì chính trong
khi hành nghề người ta không chỉ xác nhận trình độ nghề nghiệp mà qua đó thấy
tính cách của họ, dù mang tính gián tiếp…
Giá trị nghề nghiệp là giá trị tay nghề, trình độ tay nghề gồm cả tri thức,
thông hiểu, kinh nghiệm tay nghề, trách nhiệm trong lao động, hoạt
động và kỹ
năng nghề nghiệp. Giá trị nghề nghiệp làm nên chất lượng và số lượng sản phẩm,
làm nên giá trị hàng hoá. Nhưng đồng thời nó cũng làm nên giá trị thẩm mỹ, giá
trị đạo đức, giá trị xã hội nói chung.
độ, tình cảm đối với nghề. Ví dụ: chọn nghề có công việc mình yêu thích, nghề
có cơ hội tiếp xúc nhiều…
- Các yếu tố về giá trị nghề nghiệp xã hội như: Nghề phù hợp với sức khoẻ
và trình độ để ph
ục vụ cho đất nước và kiếm sống; nghề được xã hội kính trọng;
nghề có điều kiện phát huy năng lực cá nhân…
- Những giá trị nghề nghiệp xã hội đã được công bố gián tiếp thông qua tiền
lương hoặc thu nhập cá nhân hoặc của một nhóm người như: Nghề có thu nhập
cao, nghề đảm bảo an tâm suốt đời…
- Những tác động của dư lu
ận xã hội, gia đình, bạn bè, chương trình hướng
nghiệp của nhà trường như: nghề có thể giúp ích cho nhiều người, nghề theo
truyền thống gia đình, nghề dễ chuyển đổi sang nghề khác… 13
1.9. Vấn đề hướng nghiệp ở các nước.
Mỹ: Phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do F.Parsons thành lập ở
Boston vào năm 1908. Tại Mỹ, các trường trung học đều có giáo viên hướng dẫn
chọn nghề.
Từ điển Bách khoa tư vấn nghề nghiệp với khoảng 20.000 nghề được giới
thiệu chi tiết về nội dung nghề, yêu cầu cụ thể của ngh
ề.
Hiện nay, thành phố Harrisbung thuộc tiểu bang Pennsylvania vừa quyết
định đưa vào chương trình giảng dạy nhiều môn học phục vụ việc định hướng
nghề nghiệp cho học sinh, bắt đầu từ lớp 3.
14
Chương 2
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP XÃ HỘI
2.1. Kết quả khảo sát ý kiến học sinh tại một số trường THPT Tp. Hồ Chí
Minh – Mẫu phiếu M01.
2.1.1. Mô tả mẫu khảo sát.
2.1.1.1. Trường, lớp, học sinh.
Các trường khảo sát đại diện cho 3 vùng của Tp. Hồ Chí Minh đó là:
- THPT Trung Phú, huyện Củ Chi (ngoại thành).
- THPT Trần Hưng Đạo, quận Gò Vấp (vùng ven).
-
THPT Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh (nội thành).
Tổng số học sinh được khảo sát gồm 267 HS, thuộc 2 khối lớp 11 và 12.
Số học sinh được khảo sát tương ứng ở 3 trường trên là 88, 93, 95 học sinh.
Nhìn chung tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm ở đây tương đối hợp lý.
2.1.1.2. Giới tính và độ tuổi.
- Về giới tính:
Số nam sinh tham gia điền phiếu ở cả 3 trường có 96 HS, chi
ếm tỷ lệ
35,6% và số nữ sinh có 174 HS chiếm tỷ lệ 64,4%.
- Về độ tuổi:
4
.Tự khẳng định để kiếm
sống
275 257
93.4
2 0.8
5.Làm vui lòng gia đình 275 194 70.6 18 6.5
6.Trở nên nổi tiếng 270 67 24.8 63 23.3
7.Theo ý thích của mình 270 191 71.0 19 7.1
8 Không thua kém bạn bè 274 174 63.5 21 7.7
9.Sau này có việc làm tốt 275 264
96.0
2 0.7
10.Có thể đi du học 274 146 53.3 24 8.7
11.Làm lãnh đạo 268 103 38.4 45 16.8
12.Hiểu biết trau dồi kiến
t
hức cho bản thân
271 244
90.0
5 1.8
13.Khác 8 - - - -
Chú thích: tần số chọn là tổng số người trả lời (phiếu điền hợp lệ)
Mức chọn (4 và 5): là kết quả gộp chung cho hai mức chọn Đồng ý và Rất
đồng ý
Mức chọn (1 và 2): là kết quả gộpơ chung của hai mức chọn Hoàn toàn
không đồng ý và Không đồng ý.
Theo kết quả trên thì những động cơ có mức lựa chọn (4 và 5) được sự
đồng tình cao và có giá trị lớn đó là nh
ững động cơ có số thứ tự là: 9, 4, 12, 2, 1,
2.1.3. Kết quả khảo sát nguyện vọng của HS (trả lời câu 9)
Ở bảng 2 mẫu người được HS mong muốn nhiều nhất là nhà kinh doanh
(có 155 phiếu chọn, chiếm 58,1%). Tục ngữ Việt Nam có câu “phi thương bất
phú”, có lẽ vì nhà kinh doanh (hay thương nghiệp) thường đồng nghĩa với sự
giàu sang, phú quý, nên đông đảo HS chọn mẫu người này, kế đến là các mẫu
người được lựa ch
ọn lần lượt như: nhà ngoại giao (27,3%), người lãnh đạo
24,3%) và nhà khoa học (17,2%). Cuối cùng không kể mẫu người vận động viên
thì số HS mong muốn trở thành người lao động bình thường chiếm tỷ lệ ít nhất
(6,4%).
Bảng 2. Mẫu người HS mong muốn trở thành trong tương lai Tần số chọn Tỷ lệ phần trăm
1. Người lãnh đạo 65
24,3
2. Nhà khoa học 46
17,2
3. Người nghệ sỹ 32 12,0
4. Vận động viên 8 3,0
5. Nhà kinh doanh 155
58,1
6. Nhà chính trị 21 7,9
7. Nhà ngoại giao 73
27,3
8. Giáo viên 35 13,1
9. Giảng viên đại học 19 7,1
10. Người lao động bình thường 17
Bảng 3. Dự định của HS sau khi học xong THPT
Dự định sau khi học xong T
ần số chọn Tỷ lệ phần trăm
Ra đi làm 7 2,6
Thi vào đại học 251 91,9
Thi vào trung cấp chuyên nghiệp 2 0,7
Thi vào cao đẳng 8 2,9
Vào trường dạy nghề ngắn hạn 3 1,1
Khác 2 0,7
…Mặt khác, nhà trường cũng cần giới thiệu cho HS các chương trình đào
tạo liên thông để HS thấy được những cơ hội học tập lên cao của mình nếu quyết
định công nhân kỹ thuật hay trung cấp chuyên nghiệp.
2.1.5. Kết quả khảo sát các yếu tố “giá trị” ảnh hưởng đến việc chọn
nghề của HS (trả lời câu 11) 1
Theo PGS. TS. Nguyễn Đức Nghĩa, Phó giám đốc Đại học Quốc gia Tp. HCM
18
Có 5 mức lựa chọn: Rất đồng ý (5); đồng ý (4), không có ý kiến (3),
không đồng ý (2), hoàn toàn không đồng ý (1).
Bảng 4 ởcác mức chọn cao nhất (4 và 5) cho thấy các yếu tố “giá trị” tác
động mạnh đến việc chọn nghề của đông đảo HS đó là các nguyên tố có giá trị
từ: 27, 9, 11, 13, 1, 12,…Cụ thể là:
- Phù hợp với năng khiếu bản thân (97,7%)
96.5
3 1.2
10. Công việc nhàn hạ. 160 46 28.8 46 28.8
11. Nghề phù hợp với sức khỏe, trình độ.
222 211
95.0
1 0.5
12. Nghề có điều kiện chăm lo cho gia đình.
229 208
90.9
3 1.3
13. Nghề có điều kiện phát triển năng lực cá
nhân.
236 224
94.9
1 0.4
14. Nghề đảm bảo an tâm suốt đời.
188 144 76.6 8 4.3
15. Nghề có thể giúp ích cho nhiều người.
207 175 84.5 3 1.5
19
16. Nghề được hành nghề tự do 150 49 32.7 32 21.3
17. Nghề nhiều cạnh tranh. 161 65 40.4 38 23.6
18. Nghề phiêu lưu mạo hiểm. 149 40 26.9 54 36.2
19. Nghề dễ kiếm việc làm. 176 106 60.3 24 13.7
Còn nghề có thu nhập cao chỉ đứng thứ 5 (94,5%), (m
ức chọn 1+2 là 0,7%)…và
đương nhiên nghề nghiêng về lao động trí óc (86,8%), (mức chọn 1+2 là 1,9%)
sẽ có giá trị hơn nghề nghiêng về lao động chân tay (9,4%), (mức chọn 1+2 là
56,5%).
2.1.6. Kết quả khảo sát các ngành nghề chọn học của HS theo định
hướng giá trị (trả lời câu 12)
Kết quả bảng 5 cho thấy vị trí các ngành nghề HS chọn theo học tổng hợp
cả 3 ưu tiên theo thứ tự từ cao đến thấp là
kinh tế (50,4%), ngân hàng (37%),
Y,dược (30,4%), bách khoa (24,6%), thương mại (23,9%), sư phạm (20,7)%.
Tuy nhiên ở mức độ ưu tiên 1 lại có chút đảo ngược giữa bách khoa và ngân
20
hàng, thứ tự là: kinh tế (18,1%), bách khoa (13,4%),Y, dược (12,3%), thương
mại (10,1%), ngân hàng (8,0%), sư phạm (6,5%)…
Bảng 5. Các nghề theo học
Ưu tiên 1 (%) Ưu
tiên
2
Ưu
tiên
3
Tổng hợp
(%)
1. Bách khoa 37
13.4%
15. Các ngành KH tự nhỉên 13 4.7% 13 11 37 13.4%
16. Các ngành KH xã hội 4 1.4% 3 7 14 5.1%
17. Dịch vụ 16 5.8% 20 18 54 19.6%
18. Mỹ thuật 7 2.5% 5 10 22 8.0%
19.khác 17 6.2% 4 4 25 9.1%
Ngành kinh tế luôn được HS chọn là ưu tiên hàng đầu trong tất cả các ưu
tiên có lẽ bởi vì kinh tế có rất nhiều chuyên ngành nên cơ hội thi đậu vào các
trường kinh tề và có được việc làm tốt thuộc lĩnh vực này rất cao. Hơn thế nữa,
giữa kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng là các ngành nghề rất gần gũi
nhau nên tốt nghiệp về kinh tế đều có thể làm việc ở những ngành nghề còn lại.
Những thập niên (60, 70) của thế lỷ 20, giá trị nghề nghiệp ở Việt Nam
được định hướng theo thứ tự “Nhất y nhì dược, tạm được bách khoa, bỏ qua sư
phạm”. Thì nay (năm 2007), theo kết quả tổng kết ưu tiên 1 và cả 3 ưu tiên, sư
phạm đã được đứng hàng thứ 6 (20.7%). 21
2.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn hướng học nghề của HS
(trả lời câu hỏi 13)
Số liệu trong bảng 6 cho thấy chính bản thân HS có vai trò quan trọng nhất
trong việc chọn nghề, với 87.7%. Điều này cho thấy HS đã nắm vững yêu cầu
của việc lựa chọn nghề nghiệp, phải chính các em, chứ không phải ai khác là
người quyết định hướ
ng tương lai nghề nghiệp của mình.
Những yếu tố khác cũng có ảnh hưởng lớn như gia đình (47.1%), tư vấn
của nhà trường 21.4% và thầy cô (12.3%) đồng thời ảnh hưởng của dư luận xã
hội và bạn bè cũng có nhưng không nhiều (10.9%; 8.0%).
3. Văn nghệ 275 2.99
4. Ngoại ngữ 274 2.34
22
5. Tin học 275 3.13
6. Thể thao 275 3.16
7. Cư sử với mọi người 274
3.92
8. Sinh hoạt đoàn, hội 270 3.01
9. Năng khiếu thẩm mỹ 270 3.12
Chú thích: có 5 mức điểm đánh giá theo thang tuyến tính đó là:
- Rất tốt (5), Tốt (4), Trung bình (3), Yếu (2), Rất yếu (1)
- Điểm trung bình: là trung bình điểm đánh giá của mỗi HS đối với 1 nội
dung hoạt động.
2.1.9. Mức độ hài lòng của HS đối với việc học (trả lời câu 15)
Có 5 độ lựa chọn:
Rất hài lòng (5), Hài lòng (4), Bình thường (3), Không hài lòng (2) và Rất
không hài lòng (1)
Kết quả khảo sát ở
Bảng 8 cho thấy có khá nhiều HS chiếm (46,4%)
Không hài lòng và Rất không hài lòng với việc học tập hiện nay (mức 1 và 2);
trong khi chỉ có 14,5% hài lòng và rất hài lòng với việc học tập (mức 4 và 5).
Do vậy, nhà trường, gia đình và xã hội đều phải xem lại và nên hỏi tại sao như
vậy? Trong nhiều lý do, phải chăng lý do về nhận thức của HS về giá trị của việc
học còn chưa rõ ràng, thoả đáng? Điều
đó sẽ khó tạo tiền đề cho việc nhận thức
và định hướng giá trị nghề nghiệp xa hội của HS sau này.
Bảng 9a. Tình hình học thêm
Có Không
Học thêm Tần số
chọn
Số lượng % Số lượng %
Về văn hoá 240 57 65.4 83 34.6
Về ngoại ngữ, tin học 199 94 47.2 105 52.8
Bảng 9a. Lý do học thêm
Yêu cầu
của
trường
Yêu cầu
của cha
mẹ
Sợ thầy
cô
Tự bản
thân
Theo bạn
bè
Không rõ
lý do Tần
số
chọn
xem là thứ yếu như: có chức quyền và nổi tiếng (19.9% và 15.5%).
Bảng 10. Nhận định của HS về điều quan trọng đối với bạn bè
Tần
số
chọn
Mức chọn (4
và 5)
Mức chọn (1 và
2) Điều quan trọng đối với bạn bè
SL % SL %
1. Kiến thức 273 223 81.7 14 5.1
2. Sự giàu có 274 98 35.8 97 35.4
3. Nổi tiếng 271 42 15.5 133 49.1
4. Sự tin tưởng của mọi người 275 249 90.5 7 2.5
5. Sự an toàn 266 67 25.2 90 33.9
6. Được yêu mến 268 197 73.5 24 9.0
7. Gia đình hạnh phúc 271 214 79.0 30 11.0
8. Sự hiểu biết 271 234 86.3 11 4.0
9. Sự vui vẻ, thoải mái 275 252 91.7 4 1.0
10. Cuộc sống sinh động. 273 204 74.7 8 2.9
11. Công việc thú vị 270 190 70.4 20 7.4
12. Sự tín nhiệm của mọi người 272 241 88.6 7 2.6
13. Sự tôn trọng của mọi người 276 243 91.0 6 2.2
14. Đạt được chuẩn mực cao trong
công việc
265 171 64.5 24325 9.4
Do vậy đã đến lúc công tác hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông cần kết
hợp giáo dục và định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội cho HS để các em có
thêm tiêu chí tham khảo khách quan việc quyết định lựa chọn các hướng học lên
hay đi đào tạo nghề sau khi rời ghế nhà trường.
2.1.13. Đề xuất các biện pháp định hướng giá trị nghề nghiệp cho HS
(trả lời các câu hỏi mở, câu 19).
* V
ề phía nhà trường
Đa phần HS đề nghị những biện pháp (hay hình thức cần có) đối với nhà
trường để góp phần định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội cho HS (tại bảng 12a)
đó là: nhà trường cần tổ chức các hoạt động ngoại khoá, giao lưu, mời chuyên
gia, nghệ nhân nói chuyện có 112 ý kiến đề xuất, chiếm 57,4%).
Bảng 12a. Các biện pháp định hướng giá trị nghề nghiệp của nhà trườ
ng
Các biện pháp Tần số
chọn
Tỷ lệ
phần
trăm
1. Tổ chức hoạt động ngoại khoá, giao lưu, mời nói chuyện 112 57.4
2. Tổ chức các lớp dạy nghề 8 4.1
3. Tổ chức dạy học theo phân ban. 9 4.6
4. Hướng nghiệp cho HS phù hợp với sở thích và năng lực 91 46.7
5. Thầy cô nên làm gương tốt cho HS. 2 1.0
6. Cho HS thành lập “câu lạc bộ nghề nghiệp” 2 1.0
7. Hướng nghiệp ngay khi HS vào lớp 10 3 1.5
8. Khác 2 1.0