SỞ KHCN TP HỒ CHÍ MINH – VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP THÀNH PHỐ
ĐÌNH CÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài : PGS – TS PHAN AN
Thư ký khoa học : TS. PHAN QUANG THỊNH
TP HỒ CHÍ MINH - 2008
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về đình công
06
1.1. Tranh chấp lao động và vấn đề đình công
06
1.2. Pháp luật về đình công của Việt Nam
25
1.3. Pháp luật về đình công của một số nước trên thế giới
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI BLLĐ :
Bộ luật lao động
DN
Doanh nghiệp
DNNN :
Doanh nghiệp Nhà nước
ĐTNN :
Đầu tư nước ngoài
HĐHG :
Hội đồng hòa giải
HĐHGCS :
Hội đồng hòa giải cơ sở
HĐLĐ :
Hợp đồng lao động
KCX-KCN :
Khu chế xuất – Khu công nghiệp
NLĐ :
Người lao động
NSDLĐ :
Người sử dụng lao động
TƯLĐTT :
Thỏa ước lao động tập thể
UBND :
Uỷ ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
Minh với hơn 47.000 người lao động tham gia trái với qui định của pháp luật.
Đình công là một hiện tượng xã hội diễn biến phức tạp, đã và đang gây
ra hậu quả xấu cho cả phía người sử dụng lao động và người lao động, đồng
thời đe dọa sự ổn định xã hội và ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư. Chúng 2
ta thừa nhận rằng, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường (dù là kinh tế thị
trường có quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa) thì đình
công là một hiện tượng xã hội tất yếu, khi mà các bên tham gia quan hệ lao
động đều phải có “vũ khí” để bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó đối với
NLĐ thì đình công chính là “vũ khí cuối cùng” chống lại những sai phạm của
NSDLĐ. Do đó, đình công vừa có mặt tích cực, nhưng lại có những tác động
xấu nhất định đối với sự ổn định xã hội, sự phát triển kinh tế-xã hội, môi
trường đầu tư (nhất là đình công trái luật). Tuy nhiên, quan niệm và thái độ
đối với đình công của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức xã hội
của các cấp, các cơ quan chức năng còn chưa thống nhất. Quan điểm giải
quyết đình công cũng chưa có sự nhất quán: có nơi chỉ quan tâm bảo vệ NLĐ,
có nơi lại quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ NSDLĐ.
Bên cạnh đó luật pháp của Việt Nam về đình công còn nhiều bất cập,
các cơ quan lập pháp cũng thể hiện rõ sự “lúng túng” trong việc xây dựng và
hoàn chỉnh pháp luật về đình công.
Vấn đề đặt ra là, nguyên nhân nào dẫn đến các vụ đình công? Đình
công có tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đến sự phát triển kinh tế xã
hội, môi trường đầu tư và trật tự xã hội? Phương hướng hoàn thiện pháp luật
lao động và pháp luật về đình công như thế nào? Các cơ quan chức năng phải
làm gì và làm thế nào để vừa bảo vệ quyền lợi nói chung và quyền đình công
của người lao động, vừa góp phần ngăn chặn đình công trái luật, ngăn chặn
NSDLĐ có những vi phạm pháp luật dẫn đến tranh chấp lao động, bảo vệ môi
trường đầu tư và quyền lợi hợp pháp của chủ doanh nghiệp; đồng thời, ngăn
Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Anh Đào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2002.
- “Tình hình đình công tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và giải
pháp”, Luận văn Cử nhân Chính trị của Mai Đức Chính, 2001.
- “Một số hoạt động vi phạm pháp luật của phía chủ đầu tư nước ngoài
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại TP HCM - Thực trạng
và giải pháp”, đề tài khoa học của tác giả Phan Quang Thịnh, Trường Đại
học An ninh, 2001
Đặc biệt, vấn đề đình công và giải quyết đình công đã được Ủy ban Các
vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam quan tâm sâu sắc và các cơ quan này đã tổ
chức một số cuộc Hội thảo về đình công và giải quyết vấn đề đình công. 4
Những công trình trên, trong phạm vi đề cập của mình đã có những
đóng góp đáng trân trọng. Tuy nhiên do cách đặt vấn đề nghiên cứu về đình
công trong một địa phương hoặc một loại hình doanh nghiệp và chỉ nghiên
cứu về đình công chủ yếu dưới góc độ lý luận pháp lý nên chưa có một cái
nhìn toàn diện về đình công tại thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác, các công
trình này đã được nghiên cứu từ những năm 2000-2001 nên thiếu sự cập nhật
những thực tế nóng bỏng và phức tạp mới phát sinh gần đây tại thành phố.
Đề tài này được thực hiện sẽ có sự kế thừa nhất định những công trình
trên và đi sâu nghiên cứu toàn diện về đình công với những thực tiễn mới nhất
trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là tìm ra nguyên nhân dẫn đến các
vụ đình công, từ đó đề xuất giải pháp toàn diện cho vấn đề đình công. Vì thế,
nó không trùng với những đề tài khác.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những ảnh hưởng của đình công
- Tình hình một số doanh nghiệp chưa xảy ra đình công (để đối chứng).
- Những quy định của pháp luật về đình công của VN và một số nước
trên thế giới.
- Tình hình tổ chức công đoàn cơ sở và các tổ chức chính trị xã hội
khác tại các doanh nghiệp (tổ chức, vai trò, việc thực hiện chức năng )
- Tình hình đình công (diễn biến, phân loại, nguyên nhân, hậu quả, quá
trình giải quyết…)
- Giải pháp đối với vấn đề đình công.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng, đề tài được thực hiện bởi một số phương
pháp cụ thể như: Phương pháp tổng kết, phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra xã
hội học và phương pháp chuyên gia… 6
CHUƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG
1.1. TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ ĐÌNH CÔNG
1.1.1. Tranh chấp lao động
Về mặt pháp định, Luật Lao động (sửa đổi năm 2006) đã có giải thích
về tranh chấp lao động. Theo đó, tranh chấp lao động là những tranh chấp về
quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể
lao động với người sử dụng lao động.
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người
lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập
thể lao động với người sử dụng lao động.
thể thương lượng được với nhau, nhưng cũng có những bất đồng không thể
dung hòa, không thể thỏa thuận bằng thương lượng. Trong những trường hợp
như thế, các bên tham gia quan hệ lao động có thể mời bên thứ ba làm trung
gian giải quyết và cũng có thể thông qua cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi bất đồng giữa các bên tham gia quan hệ lao
động đều được coi là tranh chấp lao động. Cũng không phải mọi bất đồng
đều dẫn đến tranh chấp lao động. Những bất đồng giữa các bên tham gia quan
hệ lao động được coi là tranh chấp lao động khi các bên từ chối thương lượng
hoặc thương lượng nhưng không đi đến thỏa thuận thống nhất (không giải
quyết được các bất đồng), một trong các bên tham gia quan hệ lao động yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình. Chỉ khi đó,
bất đồng này mới trở thành tranh chấp lao động.
Như vậy, tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình áp dụng pháp
luật lao động vào từng quan hệ lao động cụ thể và cả trong trường hợp các
chủ thể quan hệ lao động xác lập những nguyên tắc, điều kiện lao động hoặc
sử dụng lao động mà pháp luật hoặc hợp đồng lao động chưa được qui định
hoặc thỏa thuận.
Người ta có thể căn cứ vào những nét riêng biệt của tranh chấp lao
động để phân biệt nó với các loại tranh chấp khác. Những nét riêng ấy thể
hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, sự phát sinh, tồn tại của tranh chấp lao động luôn gắn với quan
hệ lao động. Hay nói khác đi, tranh chấp lao động phát sinh từ việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ và từ lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ lao động. Điều 8
này cho thấy tranh chấp lao động khác với những việc tranh chấp trong lao
động. Tranh chấp lao động có thể phát sinh trong trường hợp có hoặc không
có sự vi phạm pháp luật.
Hai là, qui mô và mức độ tham gia của các chủ thể quan hệ lao động có
này, chủ thể tham gia tranh chấp bao giờ cũng là tập thể NLĐ (được đại diện
bởi công đoàn cơ sở). Trong tranh chấp tập thể, công đoàn là một bên của
tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ đáp ứng những yêu cầu của NLĐ. Điều
này cho thấy, tranh chấp lao động tập thể bao giờ cũng phức tạp hơn tranh
chấp lao động cá nhân, qui mô lớn hơn và có tính tổ chức nên cần có cơ chế
riêng để giải quyết tranh chấp lao động tập thể.
1.1.2. Vấn đề đình công
Về ngữ nghĩa, trong tiếng Việt, đình công được hiểu đồng nhất với bãi
công, theo đó đình công là “cùng nhau nghỉ không làm việc để chống đối chủ
hoặc nhà nước” (Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Thông tin, H.
1999, trang 640).
Về mặt luật định, theo điều 172 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ Luật Lao động, Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số 74/2006/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2006, thì Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và
có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể.
Đình công là một quyền cơ bản của giai cấp công nhân và những người
lao động, là phương tiện cuối cùng để họ có thể tự bảo vệ mình khi cần thiết,
nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Vì vậy, đối với những nước có
nền kinh tế phát triển và ổn định thì đình công là một vấn đề quen thuộc và
được pháp luật cho phép.
Để hiểu rõ hơn về quyền đình công của người lao động, người ta
nghiên cứu nó dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế xã hội, đình công được coi là quyền kinh tế xã hội
của NLĐ trong nền kinh tế thị trường. Nó được thực hiện nhằm gây sức ép
buộc NSDLĐ phải giải quyết các vấn đề về quyền và lợi ích hợp pháp của
NLĐ phát sinh trực tiếp từ quan hệ lao động như tiền lương, tiền thưởng, thời
giờ làm việc, nghỉ ngơi, bảo đảm các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
Dưới góc độ pháp lý, đình công được hiểu là một trong những quyền cơ
bản của NLĐ được pháp luật quy định. Nó đảm bảo cho NLĐ được quyền
nghỉ việc tập thể nhằm buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn
1949 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể. ILO cho rằng quyền đình công
là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử
dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình. Việc đình
công không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những
yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp mà còn nhằm tìm ra giải pháp cho 11
bất kỳ loại lao động nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm. Như vậy, đình công không
phải đơn thuần là tranh chấp lao động tập thể như một số người vẫn còn quan
niệm. Mặt khác, đình công của NLĐ cũng khác với biểu tình. Đình công là
quyền kinh tế xã hội chỉ của riêng NLĐ theo quy định của pháp luật nhằm bảo
vệ những quyền và lợi ích kinh tế hợp pháp của mình trong phạm vi quan hệ đã
được thiết lập với NSDLĐ, chỉ liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế xã hội, còn
biểu tình là một trong những quyền chính trị cơ bản của mọi công dân nghĩa là
bao gồm cả NLĐ, NSDLĐ và mọi công dân khác, công dân có thể đòi quyền lợi
về mọi mặt, mà chủ yếu là các vấn đề chính trị như: đòi quyền tự do lập hội,
quyền tự do ngôn luận, đảm bảo các chính sách chính trị, kinh tế xã hội cho
công dân.
Trước đây, ở nước ta trong một thời gian dài, do đặc thù của cơ chế quản
lý kinh tế tập trung bao cấp, quyền đình công của NLĐ đã không được sử dụng
và trên thực tế NLĐ cũng chưa lần nào phải sử dụng tới quyền này. Ngày nay,
trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ lao động không còn mang tính
hành chính như trước nữa, nó đã mang màu sắc của các quan hệ kinh tế trên thị
trường và có sự đấu tranh về lợi ích giữa các bên. Vì vậy, các tranh chấp lao
động xảy ra ngày càng nhiều hơn và trong nhiều trường hợp NLĐ đã phải dùng
đến biện pháp cuối cùng, đó là đình công.
1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của đình công
1.1.3.1. Đình công biểu hiện thông qua sự ngừng việc triệt để của người
BCH công đoàn cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, không ai được cản
trở quyền đình công, nếu cuộc đình công đó là hợp pháp, hoặc bắt buộc người
khác đình công.
1.1.3.3. Đình công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể
NLĐ được tiến hành đình công khi tập thể NLĐ không đồng ý với việc
giải quyết tranh chấp lao động tập thể của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, không
có tranh chấp lao động tập thể thì không phát sinh đình công. Tuy nhiên, tranh
chấp lao động tập thể cũng không được vượt qua phạm vi quan hệ lao động và
không được vượt ra ngoài phạm vi của doanh nghiệp. Nhưng cũng không phải
tranh chấp lao động tập thể nào cũng dẫn đến đình công. Nếu có những cuộc
tranh chấp lao động mà hai bên chủ thể có thể thương lượng, thỏa thuận hoặc
được hòa giải thành, cùng đồng ý với quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì sẽ không có đình công xảy ra. Vì vậy, có thể nói rằng, đình công phải 13
xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể, không phải xuất phát từ tranh chấp lao
động lẻ tẻ, cá nhân, nhưng sự tranh chấp lao động tập thể đó không được giải
quyết có kết quả thì đình công là một trong những biện pháp góp phần giải quyết
tranh chấp lao động tập thể đó.
1.1.3.4. Đình công bao giờ cũng đi liền với các yêu sách
Trong mỗi cuộc đình công, tập thể lao động có thể đưa ra một hoặc nhiều
yêu sách đối với NSDLĐ. Những yêu sách này có thể xuất phát từ những nhu
cầu chính đáng, cũng có thể xuất phát từ những nguyện vọng khác. Cụ thể
những yêu sách thường gặp trong các cuộc đình công là:
- Yêu sách về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp.
Đây là loại yêu sách xuất phát từ việc có phân biệt tiền lương giữa những
người lao động; trả lương thời gian nhưng buộc lao động theo hình thức khoán
sản phẩm với định mức cao; trả lương chậm, không tính phụ cấp làm đêm,
không trả trợ cấp thôi việc cho công nhân thôi việc.
nạn lao động do không được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ và cải thiện môi
trường, điều kiện làm việc, những vụ ngộ độc thức ăn tập thể do vệ sinh thực
phẩm kém. Trên thực tế đã xảy ra một số cuộc đình công trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh đòi vệ sinh, an toàn lao động.
- Yêu sách về ký kết và thực hiện đúng hợp đồng lao động
Việc ký kết và thực hiện đúng hợp đồng lao động là một yêu sách bức
xúc, chính đáng của NLĐ. Có không ít những doanh nghiệp không thực hiện
đúng cam kết hợp đồng lao động mà còn tự ý điều công nhân làm việc khác, ở
công đoạn khác không theo hợp đồng lao động mà không thương lượng, thỏa
thuận với công nhân.
Tình trạng phổ biến ở nhiều doanh nghiệp là chưa hề ký hợp đồng lao
động với NLĐ, hoặc chỉ ký với một số, số còn lại làm việc với hình thức “tạm
tuyển”. Đây là việc làm dễ gây tranh chấp lao động và đình công.
- Yêu sách về những quyền lợi khác chưa có quy định của pháp luật lao
động hiện hành.
Đây là loại yêu sách đặc thù trong tranh chấp lao động. Loại yêu sách này
thể hiện ở việc đòi giải quyết bữa ăn giữa ca, yêu sách đòi cải tiến, nâng cao
mức ăn giữa ca, hoặc tổ chức bữa ăn giữa ca, v.v
1.1.4. Đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp 15
1.1.4.1. Đình công hợp pháp
Cuộc đình công được coi là hợp pháp khi hội đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, cuộc đình công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể và
trong phạm vi quan hệ lao động, tức là về chủ thể phải là tranh chấp của tập thể
lao động trong doanh nghiệp hoặc trong bộ phận kết cấu của doanh nghiệp và về
nội dung tranh chấp lao động phải liên quan đến quyền và lợi ích chung của tập
thể lao động trong doanh nghiệp hoặc trong kết cấu của doanh nghiệp và không
(2) Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh
nghiệp tiến hành;
(3) Khi vụ tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ
quan, tổ chức giải quyết theo quy định của Bộ luật Lao động;
(4) Không lấy ý kiến người lao động về đình công theo quy định hoặc
vi phạm các thủ tục quy định của Bộ luật Lao động;
(5) Việc tổ chức và lãnh đạo đình công không tuân theo quy định của
Bộ luật lao động;
(6) Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục
do Chính phủ quy định;
(7) Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.
1.1.5. Về đình công ở một số nƣớc trên thế giới thời gian gần đây
Tranh chấp giữa NSDLĐ với NLĐ dẫn đến đình công là một hiện
tượng bình thường trong nền kinh tế thị trường các nước trên thế giới. Những
cuộc đình công đầu tiên đã có từ thờ kỳ cách mạng công nghiệp ở nước Anh.
Trong suốt lịch sử từ đó tới nay, NLĐ trên thế giới luôn sử dụng đình công
như một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh với NSDLĐ để bảo vệ quyền lợi
của mình. Ngày nay, đình công trên thế giới vẫn là một vấn đề xã hội, vẫn
luôn là vũ khí quan trọng của NLĐ, cho dù đó là nước đang phát triển hoặc
nước công nghiệp phát triển. Với những lý do rất khác nhau, NLĐ ở các nước
công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Italia… dùng vũ khí đình công
không chỉ để đấu tranh với NSDLĐ mà đấu tranh với cả Chính phủ.
Ngày 1-11-2005 khoảng 100.000 người đã xuống đường tại thủ đô
Berlin nhằm phản đối kế hoạch cắt giảm trợ cấp xã hội của chính quyền Đức.
Từ khi chính quyền của Thủ tướng Gerhard Schroeder khởi xướng cải 17
cách nhằm vực dậy nền kinh tế Đức, đây là cuộc tập hợp rộng lớn nhất của
18
điện. Khoảng 230 chuyến bay, trong đó có 125 chuyến quốc tế đã bị hủy do
nhân viên của Hãng Hàng không Quốc gia Italia đình công.
Đây là cuộc tổng đình công thứ 5 diễn ra trong vòng 4 năm (2001-
2005). Ông Guglielmo Epifani, lãnh tụ CGIL, nhấn mạnh cuộc đình công này
nhằm phản đối kế hoạch của Chính phủ giảm thâm hụt ngân sách khoảng 16,5
tỉ Euro thông qua việc giảm chi phí, bán tài sản và các biện pháp chống gian
lận gây ảnh hưởng đến các ngành hàng không, giao thông vận tải, giáo dục,
văn hóa, y tế
Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến
sự bất bình này của dân chúng còn do sự trì trệ của nền kinh tế Italia. Theo
các nhận định của Quĩ tiền tệ quốc tế IMF, kinh tế Italia trong năm 2005 có
mức tăng trưởng bằng không và nhích lên 1,4% vào năm 2006. Trong 2 năm
qua, mức tăng trưởng kinh tế của Italia cũng thấp hơn mức trung bình chung
của khu vực đồng Euro, do tình trạng xuất khẩu, sản xuất và khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp nước này liên tục bị giảm sút. Ngành du lịch của
bán đảo Italia thì bị rớt hạng, từ thứ tư xuống còn thứ 5 trong số các điểm đến
du lịch hàng đầu thế giới. Những khó khăn trên càng làm ngân sách công ích
thêm khốn đốn. Thâm hụt ngân sách chính phủ năm 2005 lên tới 4,3% GDP,
thay vì 3,8% như dự đoán. Trong năm 2006, IMF còn dự tính thâm thủng
ngân sách Chính phủ lên tới 5,1%. Song song đó, công nợ của Italia thuộc
dạng cao nhất châu Âu và lần đầu tiên trong lịch sử kể từ những năm 1990
đang chiếm tới 105,5% GDP và có thể lên đến 120% GDP.
Ngoài sự thâm hụt về ngân sách, ngành tài chính Italia cũng đang có
mâu thuẫn quanh việc Thống đốc Ngân hàng Antonio Fazio bị cáo buộc có
liên quan đến một vụ xì-căng-đan hồi mùa hè năm ngoái. Nhiều chính khách
muốn Thống đốc Fazio từ chức nhằm khôi phục thanh danh và uy tín của
ngành ngân hàng Italia dưới con mắt của bạn bè quốc tế, đặc biệt là của Nhóm
1.1.6. Vài nét về vấn đề đình công của công nhân thành phố Hồ
Chí Minh trong lịch sử
Lịch sử hình thành giai cấp công nhân Việt Nam đã cho thấy, do vị trí
đặc biệt của mình, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có sự xuất hiện sớm nhất
của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong khoảng 40 năm đầu tiên xâm lược
Việt Nam (1858 – 1898), thực dân Pháp còn lo thôn tính, bình định tình hình
nên chưa tổ chức được việc khai thác thuộc địa một cách qui mô, chưa hình
thành những nhà máy, xí nghiệp lớn. Điều đó đồng nghĩa với việc chưa xuất
hiện tầng lớp người với tư cách là “giai cấp công nhân” ở Việt Nam nói 20
chung. Tuy nhiên, với Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta có thể khẳng định
rằng đã xuất hiện một bộ phận giai cấp công nhân Việt Nam. Sự xuất hiện
những công nhân đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với sự xuất
hiện của hãng Arsenal được thực dân Pháp xây dựng trên cơ sở thủy trại Ba
Son tại thành Gia Định (Bến Nghé) và tiếp sau đó là việc xây dựng bến cảng
Nhà Rồng phục vụ cho hãng vận tải biển Messagenies Maritimes; xây dựng
các nhà máy, công sở, phố xá, công trình giao thông như tuyến đường sắt Sài
gòn – Mỹ Tho… đã thúc đẩy việc phát triển đội ngũ công nhân lên tới hàng
vạn người vào năm 1883. Đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh tăng lên
nhanh chóng cùng với quá trình khai thác thuộc địa của Pháp (lần thứ nhất và
lần thứ hai). Tính đến năm 1929, đội ngũ công nhân Việt Nam có khoảng hơn
221.000 người thì trong đó công nhân thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 46%.
Trong quá trình trưởng thành, giai cấp công nhân thành phố đã sớm
giác ngộ việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình bằng nhiều hình
thức đấu tranh khác nhau với giai cấp tư sản bóc lột, với giới chủ, mà trong đó
hình thức đình công, bãi công được giai cấp công nhân sử dụng khá hiệu quả.
Ngay từ năm 1912 đã có những cuộc bãi công lớn của công nhân ở xưởng Ba
Son và trường Bá Nghệ (trường Cao Thắng ngày nay). Tháng 11/1922 đã nổ
5 cuộc bãi công lớn ở các hãng Standart Oil, Texaco và Pháp Á… Đặc biệt
điển hình là cuộc bãi công ngày 23/03/1931 của 700 công nhân hãng dầu
Socony đòi tăng lương, giảm giờ làm và chống đánh đập công nhân do Chi bộ
Đảng phát động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê văn Lương. Cuộc
bãi công này đã có sự kết hợp với đấu tranh vũ trang khi công nhân tổ chức
các đội tự vệ bảo vệ bãi công, bảo vệ mít-tinh, chống trả quyết liệt sự đàn áp
của địch, diệt một tên cảnh sát, bảo vệ thành công cuộc diễn thuyết của các
đồng chí lãnh đạo cuộc đình công.
Từ đó, hòa chung với phong trào công nhân trong toàn quốc, công nhân
thành phố Hồ Chí Minh đã đấu tranh tích cực, đóng góp công sức lớn lao vào
sự thành công của Cách mạng tháng Tám tại Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn.
Sau khi trở lại xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã rất chú ý việc đàn
áp phong trào công nhân Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn. Tại đây, cứ 6 công
nhân lại có 01 mật thám đi kèm nhằm chia rẽ nội bộ công nhân, dễ bề thao
túng và đàn áp phong trào. Bên cạnh đó, Pháp còn lập ra các Hội Tương tế,
đoàn đại biểu công nhân…với hình thức bên ngoài là những hội đoàn công
nhân nhưng thực chất là những tổ chức phản động chống phá cách phong trào