Ảnh hưởng của đạo công giáo đối với việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở vùng giáo Nghệ An hiện nay - thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THỦY ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC
GIỮ GÌN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI Ở VÙNG GIÁO
NGHỆ AN HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn: TS. Hoàng Xuân Lương

HÀ NỘI - 2007

1
MỤC LỤC
Mở đầu 4 1
Chương 1. Đạo Công giáo và tình hình trật tự, an toàn xã hội ở vùng giáo
Nghệ An 9
1.1.Quá trình du nhập và phát triển Đạo công giáo ở Nghệ An 9

3.3. Củng cố bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo, duy trì bảo vệ TT, ATXH
vùng giáo, chống địch lợi dụng đạo Công giáo 80
3.3.1. Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần đấu tranh chống
hai xu hướng tả khuynh hoặc hữu khuynh 82
3.3.2. Củng cố hoàn thiện bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo từ tỉnh xuống
cơ sở 85
3.4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội ở vùng giáo, nâng cao đời sống cho
đồng bào có đạo 86
3.4.1. Về kinh tế 87
3.4.2. Về văn hoá - xã hội 88
Kết luận 92
Danh mục tài liệu tham khảo 98
Phụ lục 99

3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN VĂN CNXH: Chủ nghĩa xã hội
UBĐKCG Uỷ ban đoàn kết Công giáo
UBMT: Uỷ ban mặt trận
UBND: Uỷ ban nhân dân
TT, ATXH: Trật tự, an toàn xã hội

ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế của tôn giáo này. Trong khuôn khổ của một luận
văn thạc sỹ, tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh của sự ảnh hưởng, đó là ảnh
hưởng của đạo Công giáo đối với việc giữ gìn TT, ATXH ở vùng giáo Nghệ An
hiện nay. Nhìn từ góc độ triết học thì đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa

5
đạo Công giáo - một hình thái ý thức xã hội, đối với TT, ATXH - một lĩnh vực
thuộc tồn tại xã hội.
Nhìn chung, ở các vùng giáo tình hình TT, ATXH có phần ổn định hơn
so với các địa bàn khác trong toàn tỉnh, nhưng bên cạnh đó có một số phần tử
xấu đã và đang lợi dụng tôn giáo để thực hiện những hành vi gây rối, vi phạm
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đi ngược lại những giá trị đạo
đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc nói chung, của giáo lý đạo Công giáo nói
riêng, nổi lên hàng đầu hiện nay là vấn đề tranh chấp đất đai.
Đặc biệt trong hoàn cảnh phức tạp như hiện nay, khi mà các thế lực phản
động trong và ngoài nước đã, đang và sẽ lợi dụng vấn đề tôn giáo làm công cụ
cho chúng trong âm mưu "Diễn biến hoà bình" thì việc nghiên cứu ảnh hưởng
của đạo Công giáo đối với việc giữ gìn TT, ATXH vùng giáo không chỉ là
nhiệm vụ của riêng bất cứ một địa phương nào mà còn là nhiệm vụ chung của
toàn Đảng, toàn dân, góp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện một cách sáng tạo chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng
địa phương.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc như vậy, nên Tôi quyết định
chọn đề tài "Ảnh hưởng của đạo công giáo đối với việc giữ gìn Trật tự an toàn
xã hội ở vùng giáo Nghệ An hiện nay - Thực trạng và giải pháp" làm luận văn
thạc sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo nói
chung, đạo Công giáo nói riêng dưới các gióc độ và theo nhiều quan điểm tiếp

đồng tác giả Trần Phồn - Phạm Xuân Cần; “Điều tra các vụ án xâm phạm An
ninh quốc gia trong tình hình hiện nay ở Việt nam” của Nxb Công an nhân dân;
“Ảnh hưởng của giáo quyền đạo Công giáo đối với đời sống của cộng đồng giáo
dân ở tỉnh Nghệ An” - luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Long, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; “Những giải pháp nâng cao vai trò, hiệu quả
lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức cơ sở Đảng xã, phường có đồng bào theo đạo
Công giáo ở Nghệ An” của Sở Khoa học công nghệ tỉnh Nghệ An; “Về tôn giáo
và đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo” của tác giả Trần Phồn - Công
an tỉnh Nghệ An;…

7
Như vậy, việc nghiên cứu đạo Công giáo ở Việt Nam nói chung, Nghệ An
nói riêng đã được đề cập tới trong nhiều tác phẩm. Các công trình này đã nghiên
cứu một cách hệ thống đạo Công giáo ở Việt Nam, ở Nghệ An và một số địa
phương; đề cập đến một số khía cạnh có liên quan đến TT, ATXH như niềm tin,
đạo đức, giáo dục gia đình, âm mưu của bọn phản động lợi dụng đạo Công
giáo… nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn
diện và có hệ thống việc nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Công giáo đến TT,
ATXH. Trong luận văn này dựa trên cơ sở nguồn tài liệu cơ bản là qua điều tra
thực tế tại các địa bàn xã, phường, thị trấn ở tỉnh Nghệ An có đông đồng bào
theo đạo công giáo, tác giả mong muốn chỉ ra được những ảnh hưởng của đạo
Công giáo đối với lĩnh vực TT, ATXH ở vùng giáo để thông qua đó đề ra được
những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của sự
ảnh hưởng đó. Ngoài ra, đề tài cũng chọn lọc, sử dụng nhiều tài liệu báo cáo,
tổng kết, sơ kết về tình hình tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo; về tình
hình TT, ATXH ở vùng giáo của Ban Tôn giáo, Ban dân vận, Uỷ ban nhân dân
tỉnh Nghệ An, phòng PA38 công an tỉnh Nghệ An và các ngành có liên quan.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đạo công giáo ở Nghệ An (đi sâu vào nghiên cứu
ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với việc giữ gìn TT, ATXH).

quyết đối với tình hình TT, ATXH vùng giáo.
Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của các cấp, các
ngành có liên quan.
Ngoài ra đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập lý luận về tôn giáo trong các trường Đại học, Cao đẳng.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo đề tài
gồm có 3 chương, 9 tiết.
Chương 1: Đạo công giáo và tình hình trật tự, an toàn xã hội ở vùng giáo
Nghệ An.
Chương 2: Ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với việc giữ gìn trật tự, an
toàn xã hội ở vùng giáo Nghệ An hiện nay.

9
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và khắc phục
mặt hạn chế của đạo Công giáo đối với việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở
vùng giáo Nghệ An hiện nay. Chương 1
ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TRẬT TỰ,
AN TOÀN XÃ HỘI Ở VÙNG GIÁO NGHỆ AN
1.1. Quá trình du nhập và phát triển đạo Công giáo ở Nghệ An
1.1.1. Khái niệm Đạo công giáo
Trong lịch sử, Thiên Chúa giáo là tôn giáo độc thần của những tín đồ tin
theo và thờ phượng Chúa trời. Với họ, đó là một lực lượng siêu nhiên, toàn
năng, tạo dựng, quản trị và quan phòng, nắm quyền hành điều khiển mọi trật tự
Đạo Do Thái Đạo Kitô Đạo Hồi Công giáo Chính thống giáo Tin lành Anh giáo

Công giáo là một tôn giáo thuộc Kitô giáo - tôn giáo thờ Đức Chúa Giêsu
Kitô. Đạo xuất phát từ Đức Giêsu, người Nazareth, miền bắc xứ Palétxtin, vùng
Cận Đông. Đạo công giáo được hình thành qua hai sự biến động:
- Thứ nhất, sự ra đời của Kitô giáo gắn với cuộc đấu tranh chống đế quốc
La Mã thế kỷ thứ II TCN. Sự ra đời của Kitô giáo là sự kế thừa cải cách Do thái
giáo kết hợp với các tư tưởng triết học duy tâm, thần học Hy Lạp, La Mã cổ đại.

11
Đạo Kitô ra đời với hai trung tâm lớn là Rôme và Côngstantinôv cùng các
trung tâm khác như Antốt Gerusalem Mâu thuẫn giữa hai trung tâm Rôme và
Côngstantinôv diễn ra trong quá trình đấu tranh giành ngôi vị độc tôn, chi phối
toàn bộ Giáo hội Kitô giáo. Mâu thuẫn dẫn đến năm 1054 (thế kỷ XI), trong
Kitô giáo diễn ra cuộc phân liệt thứ nhất và dẫn đến sự hình thành của Công
giáo - thế lực lớn nhất - thuộc phần tây đế chế La Mã và Chính thống giáo ở
Phương Đông.
Trong đó Công giáo thừa nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng, giữ mối
liên hệ hiệp thông với toà thánh Vatican trong các vấn đề về giáo lý, giáo luật,
nghi lễ phụng tự và nền tảng của đức tin là bộ kinh thánh (Cựu ước và Tân ước).
Công giáo là giáo hội Tây phương hay thường gọi là giáo hội La Mã; còn Chính
thống giáo hay còn gọi là giáo hội Phương Đông lại không thừa nhận quyền tối
thượng của Giáo hoàng; dựa vào phúc âm Gioan họ chỉ tin đức chúa Thánh thần
(ngôi ba) bởi Chúa Cha (ngôi nhất mà ra chứ không phải từ cả ngôi hai (Giê su),
không công nhận ơn vô ngộ của Giáo hoàng mà chỉ cộng đồng chung mới có.

hội lan tràn trên khắp thế giới từ đầu này đến đầu kia của trái đất, vì Giáo hội
giảng dạy một cách phổ biến, không loại trừ tất cả tín điều con người cần phải
biết và cũng vì Giáo hội muốn cho loài người, vua quan cũng như thường dân,
người thông thái cũng như kẻ dốt nát suy phục sự tôn sùng đích thực" [43,
tr.34]. Ở cách hiểu này, Công giáo được coi là đạo chung cho mọi người hay
quốc giáo.
Dù có những khác biệt nhưng điểm chung cơ bản nhất là cả bốn tôn giáo
này đều cho rằng Thiên Chúa là nhân vật tối cao của họ.
Đạo Thiên Chúa du nhập vào nước ta gồm có Kitô giáo và Hồi giáo (một
ít ở Miền Nam, cho đến nay tôn giáo này vẫn có mặt ở một số tỉnh Miền Nam
nước ta), trong Kitô giáo chỉ có Tin lành và Công giáo. Tuy vậy, tôn giáo này
khi được truyền vào Việt Nam (1553) đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau,
như: Đạo Giatô, đạo Cơ đốc, Công giáo, Kitô giáo, Thiên Chúa giáo Mỗi tên
gọi được giải thích khác nhau và nhấn mạnh vào một nội dung hoặc một khía
cạnh riêng của tôn giáo này, ví dụ tên gọi đạo Gia tô, Thiên Chúa giáo nhấn
mạnh vào đấng được gọi là Thiên Chúa, vị Chúa độc nhất, Đấng tạo hoá được
thờ kính trong tôn giáo này; Kitô giáo nhấn mạnh vào Đức Kitô, Đấng cứu thế;
Còn Công giáo có thể hiểu theo cả hai nghĩa này vì tín lý Công giáo là thờ Thiên

13
Chúa ba ngôi: Thiên Chúa - Chúa cha, Đức Giêsu Kitô - Chúa con và Chúa
thánh thần.
Thật ra, tại Việt Nam, các tên gọi này nhất là Thiên Chúa giáo, Kitô giáo,
Công giáo thường được dùng một cách lẫn lộn, ít có sự phân biệt rõ ràng và
chưa có một văn bản chính thức nào khẳng định nên gọi như thế nào cho phù
hợp. Tuy nhiên theo những căn cứ sau đây chúng ta có thể đi đến khẳng định
nên gọi như thế nào là phù hợp nhất:
Thứ nhất: Với tên gọi là Thiên Chúa giáo, cách gọi này có ý nghĩa chỉ ra
nhân vật tối cao được tôn thờ của Giáo hội là Thiên Chúa. Tuy nhiên trong lịch
sử có 3 tôn giáo khác nhau cùng thờ Chúa trời là Do thái giáo, Hồi giáo và Kitô

Ý định "Phúc âm hoá" các dân tộc, "Mở rộng nước chúa" trên trái đất của
Giáo hội Công giáo đã được thực hiện mạnh mẽ từ sau những phát kiến địa lý vĩ
đại thế kỷ XV. Sự gặp gỡ của hai ý định lớn: ý định của Giáo hội Công giáo
đem sự cứu rỗi của Chúa Kitô đến với mọi miền và ý định của giai cấp tư sản
mở rộng thị trường đã trở thành động lực thúc đẩy việc truyền bá đạo Công giáo
ra nhiều khu vực, trong đó có Đông Nam Á, Đông Dương và Việt Nam.
Từ thế kỷ XV - XVI đã lác đác có giáo sĩ phương tây đến nước ta. Sang
thế kỷ XVII, việc truyền bá đạo Công giáo vào Việt nam mới thực sự có kết quả
và có hệ thống.
Riêng với Nghệ An dưới thời phong kiến là mảnh đất nghèo khổ nhưng
nhân dân ở đây có truyền thống chống ngoại xâm rất oai hùng - Thực dân Pháp
biết rõ điều đó nên trong từng bước xâm lấn mảnh đất này, chúng đã triệt để lợi
dụng việc truyền giáo để từng bước thực hiện âm mưu xâm lược và nô dịch. Quá
trình du nhập và phát triển của tôn giáo này tại Nghệ An đã phản ánh đúng thực
trạng tình hình đó.
Nguyên nhân chủ yếu khiến cho đạo Công giáo phát triển ở Nghệ An nói
riêng và cả nước nói chung là nguyên nhân xã hội lúc bấy giờ. Một thời gian dài
đất nước không có chính quyền thống nhất. Các tập đoàn phong kiến không chú
ý đến phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân mà chỉ lo "xưng bá, xưng
hùng", Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nhà Tây Sơn thống nhất quốc gia trong vinh
quang chống ngoại xâm nhưng chưa đủ thời gian để thực thi quốc sách, vả lại
còn lo đối phó với thù trong giặc ngoài. Triều Nguyễn không những không giải
quyết được những vấn đề lớn của xã hội mà còn đưa đất nước vào con đường bế
tắc, trì trệ, bảo thủ về mọi mặt. Hàng thế kỷ, người Việt Nam không còn cơ sở

15
để đặt niềm tin vào bộ máy cai trị của Nhà nước phong kiến. Tâm trạng hoang
mang, bế tắc không có đường ra là sự thực khá phổ biến trong nhiều tầng lớp
nhân dân. Tôn giáo bản địa (thờ cúng tổ tiên) không có hệ thống lý luận hoàn
chỉnh. Phật giáo và Nho giáo cũng ở vào tình trạng không làm nổi vai trò hướng

Đến năm 1632, có một số thừa sai Dòng Tên tiếp tục đến Nghệ An để
truyền đạo. Tiêu biểu nhất là linh mục Magorica người Italia. Theo số liệu
không chính thức của một số thừa sai, vào cuối năm 1659, ở Nghệ An đã có tới
120 nhà thờ (trên tổng số 414 nhà thờ toàn Miền Bắc). Cũng năm 1659, hai địa
phận Đàng Trong và Đàng Ngoài được thành lập. Nghệ - Tĩnh - Bình là những
tỉnh cực nam của Đàng Ngoài, thuộc khu vực truyền giáo của các thừa sai người
Pháp. Đến năm 1668, linh mục xứ Nghệ đầu tiên được phong tại Thái Lan là
linh mục Bênêđiô Hiền. Năm 1679, xứ Nghệ đã có một toà giám mục giành cho
Đức giám mục phó để coi sóc giáo dân đặt tại Tràng Đen (Nam Đàn); đến 1792,
toà Phó giám mục được di chuyển xuống Thọ Kỳ (Đức Thọ, Hà Tĩnh) và đến
năm 1842, Đức cha Hậu II (Jean Denis Gauthier) Đức cha phó cuối cùng của
giáo phận Tây đàng ngoài coi sóc phần lãnh thổ này đã quyết định dời Toà giám
mục từ Thọ Kỳ ra làng Đoài (Xã Đoài, Nghi Diên, Nghi Lộc) và ổn định cho
đến ngày nay.
Đánh giá về thực trạng tình hình giáo hội Thiên Chúa giáo ở Nghệ Tĩnh
trong giai đoạn này, năm 1893, Giám mục Liêu (Mgr. retordd) đã viết trong báo
cáo gửi về Rôma rằng: "Tại Hà Tĩnh và Nghệ An có 45.364 bổn đạo, bổn đạo
trong hai tỉnh này là những bổn đạo sốt sắng nhất địa phận" [14, tr.396].
Như vậy, mặc dù về tổ chức cho mãi đến năm 1845 vẫn chưa có giáo
phận Vinh tồn tại độc lập, các hoạt động tôn giáo của các tín đồ Công giáo từ
năm 1679 trở về trước phụ thuộc vào giáo phận Đàng Ngoài, từ 1679 đến 1845
phụ thuộc vào giáo phận Tây Đàng Ngoài, nhưng các hoạt động về tôn giáo đã
diễn ra sôi nổi và liên tục. Về mặt tổ chức, các tổ chức bên dưới như: xứ, họ đã
hình thành một hệ thống cơ sở tương đối bền vững - đây là yếu tố hạt nhân, là cơ
sở hạ tầng đặc biệt quan trọng để Giáo hoàng cho phép thành lập Giáo phận
Vinh sau này.
1.1.2.2. Giai đoạn từ 1846 đến 1945

17
Trong thời gian này, Giáo hội Công giáo tại Nghệ An nói riêng và địa

18
Như vậy, trong gần 100 năm tính từ ngày thành lập Giáo phận Vinh đến
cách mạng tháng 8 năm 1945, Giáo phận Vinh đã đạt được một số kết quả lớn
như: giành được thế và lực hợp pháp trong các hoạt động xã hội , hoàn chỉnh hệ
thống tổ chức từ Họ, Xứ đến Toà giám mục, phát triển nhanh lực lượng giáo sĩ
và giáo dân.
1.1.2.3. Từ 1945 đến nay
Sau năm 1945, Công giáo địa phận phát triển nhanh, mạnh. Việc chỉ đạo
cũng rất chặt chẽ từ trên xuống dưới qua các hệ thống của tôn giáo. Trong thời
kỳ này, toàn dân ta đang ra sức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần
thứ hai, đại bộ phận người công giáo Việt Nam đã cảm nhận sâu sắc nỗi nhục
mất nước, tích cực tham gia, đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung của Tổ
Quốc. Hàng nghìn thanh niên Công giáo yêu nước đã trực tiếp tham gia chiến
đấu trên tất cả các chiến trường với quyết tâm tất cả cho Tổ quốc quyết sinh.
Ngày 7/10/1945, hơn 30.000 đồng bào giáo dân cùng giáo sỹ đã kéo về sân vận
động Vinh dâng thánh lễ cầu nguyện cho Tổ quốc, nói lên quyết tâm bảo vệ Tổ
quốc bằng bất cứ giá nào. Trong thời gian này chúng ta cần ghi nhận công lao
đóng góp của một bộ phận không nhỏ đồng bào giáo dân và các linh mục tiến
bộ, yêu nước; tiêu biểu như linh mục Nguyễn Văn Tường, Đậu Quang Lĩnh, Lê
Đình Huân, Trần Đức Triều
Thế nhưng bên cạnh đó vẫn có những thế lực đen tối cố tình khoét sâu
mâu thuẫn giữa vô thần và hữu thần, chia rẽ giáo dân với cách mạng, một số
chức sắc giáo hội đã đi theo đường lối chính trị, không đồng hành với dân tộc,
với nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Thậm chí những
phần tử này còn liên kết với thực dân và các đối tượng ngăn cản, chống phá cách
mạng. Vì vậy sau 1954, Giáo phận Vinh tuy nằm trong vùng tự do nhưng vẫn bị
ảnh hưởng bởi các luận điệu tuyên truyền tâm lý chiến rằng "Việt minh cấm đạo,
cộng sản cấm đạo" kết quả là có khoảng 61 linh mục, 27 chủng sinh, 52 tiểu
chủng sinh, 43 nữ tu và khoảng 45.000 giáo dân Nghệ An đã di cư vào Nam,
làm cho hoạt động công giáo của địa phận bị xáo trộn và trở nên rất nhạy cảm,

đặt ưu tiên ngang nhau. Chính vì thế tính vong bản của tôn giáo này thể hiện rất
rõ trong cộng đồng giáo dân Nghệ An.
Hai là, do tính cách có phần cực đoan của một bộ phận người dân xứ
Nghệ (theo nhận xét của nhiều học gỉả, trong đó có nhà văn hoá Phan Ngọc) nên

20
trong lòng cộng đồng này có những nét đặc trưng riêng dễ nảy sinh những mâu
thuẫn giữa những người đứng đầu tôn giáo truyền thống (thờ cúng tổ tiên) là các
nhà Nho, cả cộng đồng theo tôn giáo truyền thống này với đội ngũ chức sắc,
chức việc và giáo dân. Trong quá khứ, qua các thời kỳ cấm đạo của các triều đại
phong kiến thì Nghệ An là nơi thực hiện một cách triệt để nhất các chỉ dụ của
nhà Vua - điển hình nhất là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn với khẩu hiệu
"Bình Tây sát Tả". Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù khu
IV là chiến khu cách mạng song rất nhiều vấn đề phức tạp đã diễn ra, đã có
những xung đột dẫn đến đổ máu và chính trong thời kỳ di cư 1954, xấp xỉ 20%
tín đồ tại đây đã di cư vào Nam. Hiện nay, do thời gian, do các chính sách đúng
đắn của Đảng và Nhà nước nên những xung đột này đã được hoá giải, tình đoàn
kết lương - giáo được phát huy.
Ba là, người Nghệ có đức tính nhẫn nhục chịu đựng, tính cách này càng
thể hiện rõ hơn đối với giáo dân. Nếu chỉ quan sát những biểu hiện bên ngoài
mang tính hình thức thì nhiều lúc, nhiều địa phương lầm tưởng là mọi việc đã
được giải quyết êm thấm, thế nhưng chính vì nhẫn nhục chịu đựng nên các mâu
thuẫn thường bị tích tụ và một khi bùng phát thì rất khó kiểm soát (đặc điểm này
tác giả sẽ phân tích kỹ hơn ở phần thực trạng trật tự an toàn xã hội).
Bên cạnh đó một điểm nổi bật thể hiện sự tương đồng về ý thức dân tộc
của người công giáo nói chung, người công giáo Nghệ An nói riêng với toàn thể
dân tộc Việt Nam đó là phần lớn các tín đồ công giáo có lòng yêu nước, cần cù
lao động, đã góp phần cùng toàn dân tham gia phong trào đấu tranh giành độc
lập và bảo vệ tổ quốc. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ, đã có hàng ngàn thanh niên công giáo hăng hái ra chiến trường theo

CNXH. Nhiều nội dung mới được đề ra và giải quyết, như: vấn đề thành lập các
tổ chức tôn giáo hợp pháp, vấn đề tách - lập cơ sở tôn giáo Tất cả những việc
làm thiết thực đó đem lại cho Giáo hội, giáo dân Nghệ An tâm lý phấn khởi, tin
tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong quá trình
"đồng hành" cùng dân tộc vì mục tiêu chung "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh".
Riêng ở Nghệ An, cấp uỷ, chính quyền các cấp cũng đã rất quan tâm đến
công tác tôn giáo, thực hiện đúng chính sách pháp luật, giải quyết đáp ứng kịp
thời các nhu cầu hoạt động tôn giáo chính đáng. UBND tỉnh, Tỉnh uỷ cũng đã
ban hành kịp thời các văn bản, chỉ thị sâu sát về công tác tôn giáo. Trên cơ sở đó

22
mỗi người công giáo tỉnh nhà đã nâng cao ý thức công dân nghiêm chỉnh chấp
hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của
chính quyền địa phương. Đa số các linh mục, tu sĩ đã tích cực phối hợp với
UBMT Tổ quốc các cấp vận động bà con giáo dân tham gia học tập các chủ
trương chính sách của Nhà nước như: Nghị định số 36/CP của Chính phủ về
đảm bảo ATGT , Nghị định số 29/CP về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Nghị
định số 26/CP về các hoạt động tôn giáo vv Đặc biệt trong cuộc bầu cử Đại
biểu Quốc hội Khoá XII, bà con giáo dân đã hăng hái đi bầu cử đạt tỷ lệ 100%
và hoàn thành cuộc bầu cử đúng thời gian quy định.
Ngoài ra với nhận thức bảo vệ và xây dựng tổ quốc XHCN là nghĩa vụ
thiêng liêng và cao cả, các linh mục, tu sĩ và đồng bào công giáo đã tích cực
tham gia các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội, tham gia xây dựng chính quyền,
nêu cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng
tôn giáo nhằm gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời tích
cực tham gia các phong trào giữ gìn trật tự tại địa phương, tham gia lực lượng
tuần tra, dân phòng, dân quân cơ sở. Hưởng ứng cuộc vận động "Toàn dân tham
gia phòng chống, phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hoá, giáo dục, cải tạo những
người lầm lỗi tại gia đình và cộng đồng dân cư", nhiều giáo xứ đạt đảm bảo về

họ Đan Nhiệm (Nam Đàn) Trong đó có một số vụ từ đòi đất đến chiếm giữ đất
trái phép và kích động gây rối công cộng như: vụ đòi lại 2,7 ha đất nhà thờ Cầu
Rầm (phường Cửa Nam, thành phố Vinh), lợi dụng sơ hở của ta trong việc thi
công xây dựng Công viên Hồ Cá ở khu vực đất Cầu Rầm cũ vào ngày
26/5/1998, ngày 27/5/1998 các phần tử cực đoan đã kích động tập hợp một số
giáo dân kéo đến cản trở thi công, tiếp đó họ huy động lực lượng chiếm giữ đất
xây dựng nhà tạm, đặt lán trại, tổ chức lực lượng thường trực canh giữ. Cao hơn
họ đặt Thánh giá tượng đức mẹ Maria, có lúc họ tập hợp hơn 1000 giáo dân dọa
biểu tình phản đối (vụ việc kéo dài đến 5 tháng). Hoặc gần đây nổi lên các vụ
việc như: một số phần tử xứ Lưu Mỹ, xứ Thanh Tân (Đô lương) đã kích động 80
giáo dân lên trụ sở UBND tỉnh yêu sách đòi lại đất đai cũ trái phép (2004); Ở xứ
Ngọc Long (Công Thành, Yên Thành) một số chức sắc tôn giáo đã chỉ đạo giáo
dân xây dựng nơi cầu hồn (ở nghĩa địa) trái phép bị Chính quyền xử lý đã kích
động giáo dân gây rối trật tự công cộng, bao vây trụ sở chính quyền, giữ người
trái pháp luật. Nguy hiểm hơn là từ tháng 3/2005 đến nay, họ tiếp tục vận động
giáo dân không đóng các loại thuế, yêu sách đòi kỷ luật cán bộ một cách sai trái

24
làm cho tình hình TTATXH tại địa bàn thêm phức tạp. Tiếp đó là vụ đòi lại đất
đai sai trái dẫn tới lấn chiếm 5776m2 đất tại giáo xứ Trung Hoà (Thanh Hoà-
Thanh Chương) xảy ra từ 25/9/2005, kích động hàng nghìn giáo dân kéo lên trụ
sở Chính quyền tỉnh, trụ sở tiếp dân Trung ương để khiếu kiện. Đặc biệt, linh
mục quản xứ ở đây đã vận động giáo dân không chấp hành pháp luật, rao giảng
cho rằng Chính quyền đàn áp tôn giáo, chia rẽ khối đoàn kết lương - giáo, gây
nên tình hình căng thẳng, kéo dài ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở các xã
thuộc cụm Cát Ngạn huyện Thanh Chương.
Về chuyển nhượng, lấn chiếm đất trái phép đã xảy ra ở 57 điểm nhằm mở
rộng khuôn viên, lập cơ sở tôn giáo mới Đáng chú ý là hầu hết các sai phạm
này linh mục và BHG không chấp hành Pháp luật đất đai (Thông tư liên tịch
1646/TTLT-TCĐC-TGCP (2001) và chỉ thị số 32 của UBND tỉnh), không chấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status