hướng dẫn giáo viên mầm non dạy học tích hợp cho trẻ từ 24 tháng đến 48 tháng - Pdf 25

1

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÊN ĐỀ TÀI : HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN MẦM NON
DẠY HỌC TÍCH HP CHO TRẺ
TỪ 24 ĐẾN 48 THÁNG

(ĐÃ ĐƯC CHỈNH SỬA BỔ SUNG
SAU KHI NGHIỆM THU) Tên chủ nhiệm đề tài:
TS. NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯNG

Tháng 6 năm 2008 2

3


.
.M
M
U
U
Ï
Ï
C
CL
L
U
U
Ï
Ï
C
CNỘI DUNG TRANG

1.MỤC LỤC 3
2.DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
3.TỔNG QUAN TRONG NƯỚC, NGOÀI NƯỚC 6
VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

b. Những vấn đề căn bản trong lý thuyết dạy học tích hợp 47
cho trẻ 36 đến 48
th

1.2.5. Qui trình công việc dạy học tích hợp của GVMN 51

Đúc kết chương một 52

Chương hai. Cơ sở thực tiễn của đề tài 53
5
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực tiễn 53
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề: 54
2.2.1. Ghi nhận từ việc nghiên cứu thực trạng đào tạo- 54
bồi dưỡng GVMN ở TP HCM
2.2.2. Ghi nhận từ việc nghiên cứu thực trạng dạy học 58
tích hợp cho trẻ từ 24 – 48
th
tuổi ở trường MN thuộc đòa bàn
Tp HCM:
* Phần ghi nhận chung 59
* Phần ghi nhận theo các nhóm tuổi của trẻ: 67
a. Thực trạng dạy học tích hợp cho trẻ 24- 36
th
67
b. Thực trạng dạy học tích hợp cho trẻ 36-48
th
76
2.2.3. Ghi nhận từ việc điều tra qua các mẫu phiếu hỏi và phỏng
vấn sâu các nhóm đối tượng nghiên cứu. 82
2.3. Đúc kết và đònh hướng cải thiện thực trạng của vấn đề 83
B
B
A
A
Û
Û
N
N
G
GV
V
I
I
E
E
Á
Á
T
TC

MN
MTXQ
QS
TGXQ

XH
dạy học
giáo dục
giáo dục mẫu giáo
giáo dục mầm non
giáo viên sư phạm
hoạt động
hoạt động đồ vật
hoạt động vui chơi
mẫu giáo
mầm non
môi trường xung quanh
quan sát
thế giới xung quanh
vận động
xã hội

73
3

N
N
G
GN
N
Ư
Ư
Ơ
Ơ
Ù
Ù
C
C
,
,N
N
G
G
O
O
A
A
Ø
Ø

N

Đ
E
E
À
ÀN
N
G
G
H
H
I
I
E
E
Â
Â
N
NC
C

Trẻ nhỏ học tích hợp sẽ gặp hai khó khăn lớn sau
đây:
-Trẻ càng bé thì trình độ phát triển ngôn ngữ, tư duy còn thấp nên khó nhận
thức đồng thời vài nội dung, khó tham gia một HĐ mà có lồng ghép vài lónh vực
kiến thức; các em cũng khó tự đònh hướng vào thế giới đồ vật, chưa đủ kỹ năng tự
HĐ, tự khám phá trong khi việc học tích hợp lại đòi hỏi kỹ năng HĐ chủ động, độc
lập ở người học.
-Mặt khác, ở độ tuổi từ 24 đến 48
th
thì đứa trẻ phải “bước qua” nhiều bước
chuyển tiếp lớn. Từ nhu cầu- hứng thú được giao lưu đầy cảm xúc với người lớn
chuyển sang nhu cầu được tiếp cận và HĐ trực tiếp khám phá thế giới đồ vật- bắt
đầu được người lớn dạy học, chuyển qua HĐ phản ánh sinh hoạt XH “theo kiểu trẻ
8
con” rồi bước hẳn vào HĐ vui chơi cùng với những tiền đề nhận thức thực thụ – tư
duy trực quan hành động và bắt đầu tư duy trực quan hình ảnh, có tưởng tượng tích
cực và phần nào sáng tạo. Chỉ trong hai năm – từ 24 đến 48 tháng, đứa trẻ phải qua
bấy nhiêu bước chuyển! Vì vậy, tác động sư phạm lên trẻ phải thay đổi rất nhiều - từ
cách dạy trẻ, cách chọn hình thức tổ chức dạy và cách quản lý trẻ trong HĐ, cho đến
cách đánh giá sự tiến bộ của các em.
2. Khó khăn đối với GV:
Mặc dù GDMN nước ta đã bước qua gần 10 năm tiếp cận với hướng DH tích
hợp nhưng các giáo viên mầm non (GVMN) vẫn còn rất lúng túng ở nhiều mặt, đặc
biệt là thiếu các năng lực sư phạm:
-thiết kế chương trình DH tích hợp: xác đònh các mục tiêu độ tuổi, tích hợp
các kỹ năng và nội dung (ưu tiên nhắm tới các kỹ năng, năng lực, thái độ nhận thức
của trẻ)…;
-tổ chức: chọn nơi lúc dạy học; chọn cách dùng đồ vật kích thích trẻ tự HĐ,
thử- sai trên chúng, xác đònh loại và lượng đồ dùng DH, cách bố trí và sắp xếp chúng,
-thực hiện kế hoạch, chương trình: xác đònh biện pháp để giao tiếp cảm xúc

CT
T
I
I
E
E
Â
Â
U
U
-
-N
N
O
O
Ä
Ä
I
ID
D
U


Đ
Đ
A
A
Õ
ÕĐ
Đ
A
A
Ê
Ê
N
N
G
GK
K
Y
Y
Ù
Ù(

N
G
GX
X
E
E
Ù
Ù
T
TD
D
U
U
Y
Y
E
E
Ä
Ä
T

A. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu việc hướng dẫn GVMN DH tích
hợp cho trẻ 24 – 48 tháng nhằm góp phần đònh hình những bước đi khoa học cho
cuộc đổi mới GDMN.
B. Khách thể nghiên cứu: Vấn đề DH tích hợp mầm non
C. Đối tượng nghiên cứu:
-Lý luận DH tích hợp cho trẻ 24 – 48 tháng
-Hệ quy trình của việc DH này
-Chương trình hướng dẫn GVMN thiết kế- tổ chức- thực hiện- đánh giá việc
DH tích hợp cho trẻ 24 – 48
th
.

D. Giả thuyết khoa học:
Nếu:
-Xác đònh được lý luận DH tích hợp cho trẻ 24 – 48
th
,
-Làm rõ được hệ quy trình của việc DH tích hợp
thì:
-Xác đònh được chương trình hướng dẫn GVMN DH tích hợp cho trẻ 24 – 48
thE. Các nhiệm vụ nghiên cứu:
Cơ sở lý luận:

-Tổng quan nghiên cứu vấn đề
-Các khái niệm công cụ: DH tích hợp - DH tích hợp theo chủ đề / theo đề

th
.
*Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
-Quan sát- dự giờ DH tích hợp ở hai nhóm trẻ (24 – 36
th
và 36- 48
th
) nhằm
tìm hiểu và đánh giá:
Khả năng tích hợp trong DH của GVMN, các hướng tích hợp (theo kỹ năng?
theo chủ đề? theo chương trình phát sinh?)
Các ưu/ nhược điểm trong thực hành của HĐ DH này: trong các quá trình
thiết kế, tổ chức môi trường HĐ cho trẻ (chọn các loại phương tiện HĐ, các kiểu bố
trí- sắp xếp đồ dùng đồ chơi trong môi trường, khả năng kích thích trẻ HĐ của
chúng), thực hiện việc DH (chủ yếu dưới hình thức buổi HĐ, giờ học), đánh giá (các
tiêu chí, cách đánh giá việc DH tích hợp cho trẻ 24 – 48
th
)
-Quan sát (QS) – dự giờ hướng dẫn sinh viên DH tích hợp tại trường SPMN,
khoa GDMN
-Điều tra ý kiến, phỏng vấn, đàm thoại: với các GVMN, cán bộ quản lý
GDMN cấp trường, GVSP về các công việc cụ thể cần làm để DH tích hợp, về
những khó khăn trong đào tạo- bồi dưỡng này.
-Nghiên cứu hồ sơ DH có liên quan tới đề tài (của GVMN, GVSP)
-Biên soạn tài liệu tập huấn GVMN.
-Thực nghiệm sư phạm: triển khai trên mẫu nghiên cứu.
*Nhóm phương pháp xử lý thông tin: toán học và thống kê.
H. Phạm vi giới hạn đề tài:
-Nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm trên đòa bàn TP HCM


Suốt hơn hai mươi năm qua, các nghiên cứu khoa học GDMN tập trung đònh
hướng biên soạn các loại chương trình DH. Không những thế, sự bùng nổ thông tin
đã biến trẻ em thành người hiện đại hơn nghóa là năng động hơn, cho nên trẻ em
chóng chán những giờ học “ngồi thành vòng tròn nghe hỏi để đáp”; do đó nẩy sinh
nhu cầu đổi mới hình thức DH cho trẻ - Trẻ cần học trong chính hoạt động (HĐ) của
chúng.
Mặt khác, cuộc sống vốn là phức hợp, mọi thứ như hòa quyện vào nhau;
trong thực tế con người luôn nhìn đối tượng dưới nhiều lăng kính khác nhau: cách
nhìn mỗi người khác nhau, mỗi người thì nhìn ra được không chỉ một mà vài góc độ
của đối tượng; trong khi đó nhà trường yêu cầu trẻ chỉ nhìn đối tượng dưới một góc
độ trong vài ngày. Với người thầy nào thì trẻ cũng được “nhấc lên” trên các bậc
12
thang tiến bộ, nhưng sự bước đi trên các bậc thang đó sẽ nhanh hơn và nhẹ nhàng
hơn khi điều và cách học được ở nhà trường cũng cùng lôgic như từ trong đời sống.
Cũng do đó mà nẩy sinh chương trình DH tích hợp, và dù cách làm là khác nhau ở
nhiều nước tiên tiến nhưng nhìn chung hướng đi này đặc biệt thích hợp cho giai đoạn
tiền học đường.
Như đã biết, trẻ em phát triển dựa trên sự phát triển của các dạng HĐ của
chính các em; còn sự phát triển HĐ thì dựa trên hệ thống các mối quan hệ XH thực tế
của đứa trẻ. Vì thế các nhà nghiên cứu cần phát triển các dạng HĐ thực tế, dựa trên
các mối tương tác giữa đứa trẻ với con người và môi trường.
Dựa trên những quan điểm căn bản này có thể nhìn lại các hướng nghiên
cứu quan trọng trong lòch sử nghiên cứu vấn đề DH cho trẻ nhỏ.

Hai nhà nghiên cứu có tầm nhìn sâu xa về vấn đề DH cho trẻ em là J. Piaget
và L.C. Vygotsky. Các chương trình DH theo hướng tích hợp đều xuất phát từ các tư
tưởng DH của họ. Việc tìm hiểu các tư tưởng cơ sở của họ rất cần thiết trong đề tài
nghiên cứu này. Dưới đây là bản tóm kết những tư tưởng cần xem xét:

Bảng 1. Các tư tưởng cơ sở về việc DH cho trẻ nhỏ của J. Piaget và L.C.

cứu GDMN Singapore đúc kết để hỗ trợ GVMN DH tích hợp có hiệu quả hơn.
Ở nước ta, sau nhiều năm đổi mới hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ trong
trường MN, từ năm 2005 bậc học GD MN bắt đầu có chương trình GDMN thực
nghiệm và thí điểm, áp dụng thử tại một số trường tiêu biểu trên các thành phố lớn.
Cho đến năm học 2007- 2008 Tp HCM có 4 trường MN thực hiện thành công
chương trình này. Theo đó, người GVMN Việt Nam bước đầu được hướng dẫn cách
tự lập kế hoạch GD cho mình, cách tự soạn chương trình DH cho lớp và cách tổ chức
thực hiện chương trình này. Đây là một bước ngoặt tích cực trên bước đường đổi mới
của GDMN nước ta.
Tài liệu hướng dẫn GVMN (thực hiện GD trẻ theo chương trình GDMN thí
điểm) đã đưa ra những HĐ cụ thể cho trẻ từ 3- 36
th
tuổi, từ 3-4 tuổi, từ 4-5 tuổi và từ
5- 6 tuổi. Có thể hiện sự khác biệt theo các độ tuổi bằng các bảng tóm tắt các mốc
phát triển tâm sinh lý của trẻ trong từng độ tuổi, bằng cách xác đònh một số mục tiêu
GD trong từng lónh vực (thể chất- nhận thức- ngôn ngữ- tình cảm cá nhân- XH).
GVMN có thể dựa vào chương trình này để thực hiện một số HĐ theo gợi ý của các
tài liệu. Đây là một bước tiến rất có giá trò của GDMN Việt Nam vì nhấn mạnh rằng
những hiểu biết của Gv về đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ giữ vai trò nền
tảng. Tuy nhiên so với các tài liệu khác của các nước tiên tiến thì tài liệu này chưa
so sánh đủ tầm giữa hai nhóm tuổi có sự chuyển biến rất rõ là nhóm từ 24 đến 36
th

với nhóm từ 36 đến 48
th
tuổi, còn “nặng phần gợi ý cho GV làm theo”, chưa giới
thiệu cho GV qui trình công việc cụ thể của việc DH tích hợp nên người GV sẽ bò lệ
thuộc vào tài liệu hướng dẫn, chưa thể chủ động tự quan sát trẻ, tự nghiên cứ
Dựa vào đây, chúng tôi cho rằng trong GDMN Việt Nam cần nghiên cứu
nhiều vấn đề, như:

1
Ï
Ngày nay khái niệm DH tích hợp đã được phổ biến tương đối sâu rộng trên
thế giới, thường được hiểu như sau:
DH tích hợp :
Trong các nền GD phương Tây, tìm thấy có nhiều cách hiểu khái niệm DH
tích hợp nói chung. Như:
• Đó là hình thức tổ chức các hoạt động cho người học nhằm ứng dụng
chung giữa các môn học
• Ở hướng tiếp cận tích hợp trong DH, có sự nhóm lại theo đề tài của
các quá trình học tập của nhiều môn học
• Đó là sự lồng ghép, đan cài các môn học xung quanh những mục tiêu
chung
2

Trong đề tài này, chúng tôi dựa vào khái niệm DH tích hợp sau đây:

1
Bernard Spodek (1991), Educationally appropriate kindergarten practices,
Washington. Tr.8 – 9

2
De Ketele (1980).
15
DH tích hợp là việc DH được đặt trên cơ sở lồng ghép các HĐ có giá trò DH
và phát triển cho người học, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu GD (nghóa rộng)
của chương trình GD nói chung.
Sự lồng ghép các HĐ này cho phép người học trong cùng một lúc lónh hội
được kiến thức, kỹ năng của nhiều lónh vực bộ môn, khác với kiểu DH tuyến tính
thông thường trong các lớp học.

Chương trình DH này có các đặc điểm sau đây:
-có nội dung phong phú và có ý nghóa đối với người học
-mang tính HĐ cao
-thích hợp với đặc điểm tâm lý của người học
-có giá trò DH tích hợp.

DH tích hợp nhằm hình thành kỹ năng :
Trước hết, cần xác đònh rõ khái niệm kỹ năng.
Kỹ năng (trong dạy và học):
Là kết quả của một quá trình vận dụng kiến thức để đạt được một cấp độ khả
năng và phương thức thực hiện nào đó.
Có nhiều loại kỹ năng. Trong việc DH cho trẻ nhỏ chúng ta thường nhắm vào
hai nhóm kỹ năng: kỹ năng thực hành, kỹ năng nhận thức
Đối với trẻ lớn hơn, cần tập thêm các kỹ năng chung như: kỹ năng tổ chức, kỹ
năng học đường…
Trong mỗi môn học có những nhóm kỹ năng đặc thù. Như ở lónh vực toán học,
cần các kỹ năng như: xếp tương ứng 1-1, phân nhóm, xếp hạng thứ tự…
Có những kỹ năng xuyên môn.: tức là những kỹ năng ở tầm khái quát, không
thuộc riêng một bộ môn nào, chúng cần thiết cho đời sống của chủ thể hơn là cần
đạt các yêu cầu của bộ môn riêng rẽ.
Trong trường MN, thường chọn hướng DH tích hợp theo kỹ năng đối với trẻ
nhỏ (trước 36
th
tuổi).

Chương trình phát sinh trong DH tích hợp:
Là chương trình DH xuất hiện một cách tự nhiên từ sự tương tác giữa người lớn
- trẻ, giữa trẻ - trẻ để tạo ra các khoảnh khắc- cơ hội DH cho trẻ. Nó đáp ứng hứng
thú của trẻ hơn là tập trung vào các chủ đề hẹp; nó tập trung vào quá trình hơn làvào
sản phẩm cuối cùng.

Dựa trên các khái niệm công cụ của đề tài, chúng tôi có thể xác đònh bản
chất của việc DH tích hợp cho trẻ nhỏ bởi các ý tưởng sau đây:
- Lồng ghép các HĐ có giá trò DH và phát triển cho trẻ trong độ tuổi
-Trong cùng một buổi HĐ (hay trong mỗi HĐ) trẻ có cơ hội được tiếp nhận
nhiều kỹ năng môn học, liên môn hay xuyên môn
Từ đây rút ra những điều căn bản, như:
1. Chương trình DH tích hợp thể hiện rõ tinh thần: “Trẻ HĐ để học điều
mới”, nên kỹ năng thường là phần chính trong mục tiêu DH tích hợp.
Thí dụ: Trẻ biết làm nở vật bằng cách cho vào nước, biết nhiều vật nở
trong nước, một số vật khác không nở.

1
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, các vấn đề trên sẽ được giải quyết trong độ tuổi của
trẻ từ 24 đến 48
th
18
2. Mục tiêu DH có thể là mục tiêu tích hợp hay mục tiêu môn học, do vậy
kỹ năng được hình thành có thể là kỹ năng xuyên môn hay kỹ năng môn học. Có
những giờ dạy nhằm hình thành kỹ năng bộ môn thì tính tích hợp sẽ thấp (nhưng
vẫn cần loại giờ học này), nếu nhắm vào việc hình thành kỹ năng liên môn và kỹ
năng xuyên môn thì tính tích hợp sẽ rất cao
3.Phần lớn GV phải dành nhiều cơ hội cho trẻ tự làm, nên nẩy sinh nhiều
cấp độ hình thành một kỹ năng cho trẻ: biết làm nếu được hướng dẫn, tự phát hiện
ra cách làm sau quá trình thử- sai, đoán ra ngay được cách làm, làm được một cách
thành thạo
4. Thường không sắp xếp nội dung DH theo kiểu tuyến tính (lần lượt và
riêng rẽ từng bộ môn). Các nội dung DH sẽ được GVMN xoay sở để lồng cài vào

Tìm hiểu MTXQ trong đề tài “ Lễ mừng Vua sư tử ra đời”. Mỗi đứa trẻ tự chọn
một con vật yêu thích, VĐ và tạo tư thế đơn giản nhưng đặc trưng của con vật đang
đóng vai đó và nhảy tự do trong tiếng nhạc vui.
Kiểu thứ ba: Có những môn học có các mục tiêu phát triển khác nhau,
nhưng GV có thể khai thác các mục tiêu phát triển bổ xung cho nhau, bằng cách
chọn một môn học làm trọng tâm, các môn khác bổ trợ kiểu xoay quanh môn trọng
tâm, chủ yếu nhằm triển khai một chủ đề/ đề tài
Đây là kiểu DH tích hợp rất quen thuộc với phần lớn GVMN ở nước ta.
Kiểu thứ tư: Soạn ra các mục tiêu tích hợp giữa các bộ môn, chúng rất khái
quát (vượt lên khỏi chính bộ môn). Các kỹ năng xuyên môn thường là mục tiêu
DH ở hướng này. Chiến lược DH của hướng này là:
“Đưa ra những tình huống có vấn đề, trong các điều kiện sống rất khác nhau
để tạo cơ hội cho trẻ “luyện” các kỹ năng này thành năng lực, vì :
Năng lực được hình thành từ kỹ năng đã có và trong các tình huống đời sống
khác nhau”

GVMN có thể đi lần lượt từ kiểu 1 đến kiểu 4 này;
GVMN có năng lực khái quát hóa và kinh nghiệm tổ chức hoạt động cho trẻ
nhỏ cũng có thể bắt đầu thử từ kiểu thứ (3) rồi chuyển sang kiểu (4)
Mặt khác, GVMN có kinh nghiệm tích hợp cả 4 kiểu kể trên cũng có thể tùy
thích sử dụng chúng trong quá trình DH của mình, chọn kiểu tích hợp nào là tùy
thuộc vào các mục tiêu DH tích hợp đã đề ra.

VẤN ĐỀ THỨ BA
Việc thiết kế và tổ chức DH tích hợp cho trẻ nhỏ:
GDMN phương Tây chòu ảnh hưởng chủ yếu bởi các tư tưởng DH của
Piaget, Decroly, Dewey…nên khâu thiết kế và tổ chức DH được xem là quan trọng
nhất, là cơ sở để đạt các mục tiêu DH đã đề ra.
20
Có nhiều công việc cần làm ở giai đoạn thiết kế và tổ chức DH tích hợp.

2
Suy gẫm cả (1), (2), (3) để:
-chọn, sắp xếp- bày trí, phân phối các phương tiện DH
-chọn kiểu quan hệ GD thích hợp với HĐ (nhanh- dứt
khoát nếu là HĐ vận động thể chất; biểu cảm-đẹp nếu
là vận động âm nhạc; kích thích động não- tónh- khích
lệ nếu là HĐ khám phá…)

4 Xác đònh
hình thức
tổ chức HĐ
Dựa trên:
-mục tiêu DH, đặc biệt là mục tiêu của từng tiểu HĐ
4

-điều kiện thực tế (phòng học lớn hay nhỏ, số trẻ, số
học cụ…) 1
Lilian G.Katz et al, (1980), Engaging Children’s minds: The project approach, Ablex Publishing
Corporation Norwood, New Jersey….
Eve-Marie Arce, (2000), Curriculum for young children, by Delmar publishers Inc.;
Christine Chen et al, (2006), Phát triển chương trình GDMN, Hà Nội;

2
Đây là công việc khó, cần được hướng dẫn ở các trường, khoa SPMN; sẽ được hướng dẫn chi tiết ở
phần dưới đây
3
Xem các kiểu trình bày kế hoạch DH ở phụ lục số 1

năng đó ở tầm cao hơn, trở thành thuần thục hơn. Tức là để có năng lực thì chủ thể
phải chòu những thử thách ứng dụng kỹ năng đã có.

Đối với trẻ nhỏ thì các năng lực đời sống là ưu tiên hàng đầu được đưa vào
các mục tiêu DH.
* Cách soạn ra nội dung DH tích hợp :

22
Xavier Roegiers, Carol Seefeldt, Diane Trister Dodge
1
và nhiều nhà nghiên
cứu khác chứng minh rằng “cuộc sống thực vốn dó đã là tích hợp”. Có thể thấy rõ
điều này qua hình tượng bất kỳ một đối tượng nào lấy ra từ MTXQ:
Nếu đó là một cây kem lạnh mà trẻ em nào cũng ưa thích, thì tính tích hợp ở
đâu?
Nhưng kem có thể lại là thức ăn bò cấm của một số trẻ em!
Cây kem khổng lồ đủ màu đủ sắc còn là vật thể trang trí cửa hàng kem
Bé tập phân biệt, gọi tên rất nhiều sắc màu của kem, đủ cở, đã gắp vào
bánh kẹp được bao nhiêu thìa kem (bằng cái gắp kem có miệng tròn)

Từ lôgic đó có thể tìm ra “chiếc chìa khóa vàng” để GVMN dựa vào đó mà
phát triển ý tưởng DH từ một đối tượng bất kỳ, gần gũi cuộc sống của trẻ. “Chìa
khóa vàng” này chính là ý tưởng của D’Hainaut (1983) phân chia các nội dung DH
thành 5 loại dựa vào cấp độ cụ thể hay trừu tượng của nó:
Cấp độ 1. Một sự vật hiện tượng riêng rẽ
Cấp độ 2. Các sự vật hiện tượng tạo thành một nhóm với đối tượng chính
Cấp độ 3. Những sự vật hiện tượng có quan hệ tới đối tượng chính
Cấp độ 4. Những nội dung toán học với đối tượng
Cấp độ 5. Những nội dung mang tính cấu trúc, hệ thống- chuỗi


3. Thường thức chăm sóc và rèn luyện thể chất
4. HĐ tự do: hầu như trẻ không bò cô giáo can thiệp khi chưa cần thiết
Đặc biệt cần quan tâm đến hình thức thứ (4) ở các nền GD chưa phát triển,
vì nơi đó người thầy thường có xu hướng làm mẫu, hướng dẫn từng bước cho trẻ!
-Cách thứ ba
Theo Karen Vander Merve
1
, có thể phân biệt 3 hình thức tổ chức HĐ sau
đây:
1. Học mang tính chất tự chọn (Free-choice learning) bởi GV hay bởi trẻ:
thường thực hiện vào giờ chơi (play time). Bao hàm 2 loại HĐ thường gặp là HĐ ở
các góc chơi (thường có 7 góc) và HĐ đặc biệt (thường là HĐ nhóm nhỏ, do GV
soạn ra và cùng HĐ với trẻ)
2. HĐ chung có mục đích học tập (Group learning): kéo dài khoảng 20 đến
30 phút/ buổi HĐ, có thể tổ chức 1 hoặc 2 buổi HĐ/ sáng.
3. Thường thức chăm sóc và rèn luyện thể chất

Dù chọn phương án tổ chức nào thì người thầy cũng cần đầu tư cho khâu tổ
chức chu đáo và cần có năng lực điều khiển HĐ của người học một cách thích hợp
với hình thức tổ chức đã chọn. Một thái độ chuyên tâm là điều kiện tối cần để tập
một năng lực tổ chức linh hoạt và đa diện như thế. * Cách tổ chức một môi trường HĐ :

1
Karen Vander Merve, Learning together, by ELRU, Cape Town
24

J. Dewey đã đặt ra tam giác tương tác giữa Môi trường- Đứa trẻ- Người lớn.

Như vậy, khi đã soạn xong một kế hoạch- giáo án, GVMN còn phải dành
thời gian và trí tuệ để đầu tư cho việc lựa chọn, sắp xếp, phân phối…các phương
tiện DH cho phù hợp với mục tiêu DH của mình.

25
Khi làm xong những phần việc trên đây là người thầy đã hoàn tất khâu
chuẩn bò và tổ chức cho buổi DH của mình. Khâu kế tiếp sẽ là việc thực hiện kế
hoạch DH tích hợp đã đề ra.

VẤN ĐỀ THỨ TƯ. Việc thực hiện DH tích hợp cho trẻ nhỏ

Thực hiện một kế hoạch DH cho trẻ là công việc đặc biệt phức hợp. Phức
hợp vì trong từng thời điểm của buổi DH người GV phải đồng thời phân phối chú ý
tới nhiều mặt, đặc biệt là 5 mặt sau đây:

1. Ý thức các mục tiêu phải đạt
2.

Bao quát được cái đang xảy ra (nghe thấy lời nói của trẻ, nhìn thấy cách hành
động của trẻ và cảm nhận được tác động SP của mình lên trẻ)
3. Biết sẽ làm gì tiếp theo
4. Xử lý tình huống
5. Điều chỉnh quá trình DH khi cần thiết

Trong DH tích hợp, người GV còn phải bao quát thêm những vấn đề khác
nữa, như :
6. Điều khiển sự chuyển đổi tâm trạng của mình và của trẻ theo đặc thù HĐ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status