nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững - Pdf 25


SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TP.HỒ CHÍ MINH
[\ BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIẺM THỦY ĐỊA HÓA CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHỤC VỤ QUI HOẠCH, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG

Cơ quan thực hiện : Sở Tài nguyên & Môi trường
Tp.HCM
Chủ nhiệm đề tài : CN. Nguyễn Thị Thu Hằng
Đồng chủ nhiệm : ThS. Nguyễn Văn Ngà

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08/2007

“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

1
Lời tựa
Thành phố Hồ Chí Minh với tốc độ phát triển lớn nhất nước, cho nên nước là
một trong những nhu cầu cần thiết nhất. Nước dưới đất là nguồn cung cấp nước
sạch rất quan trọng, nhưng chưa được bảo vệ một cách đúng mức. Tình trạng suy
thoái nguồn nước là vấn đề mà thành phố đang phải đối mặt. Tuy nhiên nhiều
nghiên cứu về vấn đề này v
ẫn còn rải rác và bỏ ngỏ. Vì vậy đề tài nghiên cúu thủy
địa hóa đã được giải quyết với mục đích phục vụ cho công tác quy hoạch quản lí
tổng thể nguồn nước và bảo vệ môi trường bền vững.

ở quy hoạch
tổng thể quản lí tài nguyên nước của thành phố trong thời gian tới.
Đề tài gồm có 162 trang thuyết minh, 26 biểu bảng, 8 hình vẽ, 12 bản đồ,
46 tài liệu tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước.
Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của hai cố vấn TS. Vũ Văn Nghi,
PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ cùng với những ý kiến đóng góp quan trọng và những hỗ
trợ
quý báu của các nhà khoa học: GS. Nguyễn Kim Cương, TS.Vũ Văn Vĩnh, TS.
Paul Cao, ThS. Bùi Trần Vượng, ThS. Võ Thị Kim Loan với sự phối hợp thực hiện
của các cán bộ chuyên môn thuộc Phòng quản lí tài nguyên Nước và Khoáng sản và
Liên đoàn địa chất thủy văn – địa chất công trình miền Nam. Nhân dịp này tác giả
bày tỏ lòng biết ơn chân thành.
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

2
Ho Chi Minh city has the highest development rate in Viet Nam, thus, the water’s
need becomes one of the highest priorities. Groundwater is one of the most
important natural resources, yet it’s unprotected. The depletion of water resource is
one of the urgent problems the city is facing. However, researches on this are still
sporadic and rare. Thus, there is a great need for researches in the area of water
conservation scheme and how to protect water supply long term in our country.
Our project has attempted to address the following area:
• Define hydrogeological condition
• Set up hydrochemical and geological characteristics of three main aquifers
(Pleistocen, Upper Pliocen and Lower Pliocen)
• Separate hydrochemical geology.
There are four forms of hydro-chemistry: stable, propitious, reverse, mixed;
following the horizontal direction (parallel to the surface), from north to south, or
northeast to southwest, almost water quality has a changed tendency from super un-

“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

3
MỤC LỤC
Mở đầu 1
Phần chung 5
Chương 1: Đặc điểm tự nhiên – kinh tế – dân cư
6
1.1 Vị trí địa lý 6
1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 6
1.3 Mạng lưới thủy văn – chế độ thủy triều 7
1.4 Đặc điểm khí hậu 8
1.5 Đặc điểm dân cư và hướng phát triển kinh tế 9
1.6 Kinh tế và hướng phát triển 9
1.7 Giao thông v
ận tải 10
1.8 Các nguồn tài nguyên 10
Chương 2: Lịch sử nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn, thủy địa hóa vùng
nghiên cứu 12
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 12
Chương 3: Đặc điểm địa chất 19
3.1 Địa tầng 19
3.2 Đặ
c điểm kiến tạo 24
3.3 Lịch sử phát triển địa chất 27
Chương 4: Đặc điểm địa chất thủy văn 31
4.1 Tầng chứa nước Holoxen 31
4.2 Tầng chứa nước Pleistocen 32

5.4.2 Sơ bộ đánh giá sự hình thành thành phần hóa học của nước dưới đất 108
Chương 6: Đánh giá khả năng nhiễm bẩn của tầng chứa nước Pleistocen 115
6.5 Một số cơ sở lập bản đồ khả năng nhiễm bẩn nước dưới đất 115
6.6 Thông tin chung về hệ thống DRASTIC 116
6.7 Trình tự lập bản đồ kh
ả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước Pleistocen thành
phố Hồ Chí Minh 119
6.8 Kết quả 143
Chương 7: Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với thủy địa hóa
thành phố 149
Chương 8: Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn nước của thành phố 157
8.1 Những thách thức đối với công tác quả
n lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài
nguyên nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 157
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

5
8.2 Những thách thức đối với nguồn nước dưới đất thành phố Hồ Chí Minh 158
8.3 Đề xuất những giải pháp quản lý bảo vệ nguồn nước dưới đất 160
Kết luận 162
Tài liệu tham khảo 164
Phần Phụ lục 167
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

6
CÁC BẢN VẼ KÈM THEO
1. Đồ thị Piper của nước mưa Hình 5.1
2. Đồ thị Piper của nước sông Hình 5.2

y địa hóa tầng Pliocen trên thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000
20. Bản đồ thủy địa hóa tầng Pliocen dưới thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000 .
21. Mặt cắt thủy địa hóa tuyến I-I, II-II, III-III,IV-IV, V-V
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”

7

CÁC BIỂU BẢNG KÈM THEO
1. Bảng thống kê số liệu quan trắc nước mưa Bảng 5.1
2. Bảng thống kê số liệu quan trắc nước sông Bảng 5.2
3. Bảng thống kê các trạm quan trắc nước mặt Bảng 5.3
4. Bảng thống kê chất lượng nước mặt tại các trạm quan trắc Bảng 5.4
5. Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pleistocen .
Bảng 5.5
6. Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pleistocen theo đồ thị piper Bảng 5.6
7. Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen
trên Bảng 5.7
8. Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pliocen trên theo đồ thị piper Bảng 5.8
9. Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen
dưới B
ảng 5.9
10. Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pliocen dưới theo đồ thị piper Bảng 5.10
11. Thang điểm của các yếu tố DRASTIC Bảng 6.1
12. Bậc điểm của các yếu tố DRASTIC Bảng 6.2
13. Bảng cơ sở tính điểm số chiều sâu tầng chứa nước Bảng 6.3
14. Bảng điểm số chiều sâu tầ
ng chứa nước và sự phân bố Bảng 6.4
15. Bảng điểm số lượng bổ cập và sự phân bố Bảng 6.5
16. Bảng mô tả đặc trưng môi trường chứa nước của tầng Bảng 6.6

thủy hóa và biểu hiện nước khoáng, sơ lược về vấn đề đồng vị thủy văn, tuy nhiên
việc giải thích những dị thường thuỷ hoá cũng chỉ dừng lại ở nguyên tố Fe và SiO
2

và một số các khí CO
2
, CH
4
, H
2
S, chưa đi sâu vào việc tìm hiểu nguồn gốc của các
thành phần hoá học có mặt trong nước và đặc biệt là chưa đánh giá được tác động
hoàn cảnh bên ngoài đến nguồn nước. Bên cạnh đó cũng có một số báo cáo nghiên
cứu địa chất thuỷ văn một số vùng cụ thể, tuy nhiên cũng chỉ nêu bật những nét cơ
bản về thuỷ hoá, chưa đi sâu giải thích nguồn gốc n
ước cũng như nguồn gốc hình
thành thành phần hóa học nước dưới đất. Trong khi đó, cùng với quá trình đô thị
hoá, chất lượng nước biến động rất nhanh. Như vậy bản chất nguồn nước, nguồn
gốc hình thành thành phần hoá học nước dưới đất là chưa được cập nhật và làm rõ,
mà điều đó lại cực kì quan trọng trong công tác quản lí nguồn nước, khai thác, sử
dụng và b
ảo vệ tài nguyên nước bền vững.
- Việc đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với thủy địa hoá
Thành phố hiện nay vẫn chưa được đề cập một cách đúng mức.
Đó là lí do chính để chúng tôi tiến hành nghiên cứu thuỷ địa hoá thành phố Hồ
Chí Minh.
5. Mục đích và nội dung nghiên cứu
a- Mục đích:
Làm rõ đặc điểm thủy đị
a hóa của thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đưa ra

b- Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu trên, chúng tôi dựa trên số liệu thu thập
được từ các báo cáo, các công trình nghiên cứu và kết quả điều tra khảo sát kết hợp
với các ứng dụng tin học, kiến thức chuyên ngành để thành lập các dạng bản đồ và
lí giải nguồn gốc hình thành các thành phần hóa học nước dưới đất.
Các phương pháp nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập tài liệu: tận dụng toàn bộ tài liệu sẵn có liên quan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được,
xem xét, đánh giá những gì đã làm được và chưa làm được. Đề ra phương hướng
tiếp theo như tiến hành khảo sát thực tế, thu thập thông tin ngoài thực địa như khảo
sát, lấy và phân tích mẫu một số vùng trọng điểm về công nghiệ
p, nông nghiệp…
- Phương pháp điều tra: tiến hành khảo sát thực địa, lấy mẫu và phân tích mẫu
để đánh giá hiện trạng chất lượng nước trên địa bàn 8 vùng chịu ảnh hưởng của các
tác động kinh tế xã hội đến nước dưới đất.
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-3-
- Phương pháp lý thuyết: vận dụng lý thuyết đã biết để nghiên cứu các số liệu
thu thập được, đưa ra những nhận định về nguồn gốc thành phần hoá học, và ứng
dụng một số phần mềm tin học như Mapinfo, Aquachem, Visual Modflow, vẽ kĩ
thuật Autocad để hỗ trợ cho công tác nghiên cứu.
- Phương pháp bản đồ: lập và số hoá bản đồ, mặt cắt để minh hoạ
đặc điểm
thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá khả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước
Pleistocen.
- Phương pháp tương tự: thuỷ địa hoá có liên quan mật thiết với địa chất thuỷ
văn, nên từ những nghiên cứu về địa chất thuỷ văn ta có thể dẫn đến những kết luận
có liên quan đặc điểm thuỷ địa hoá.
- Phương pháp chuyên gia: t

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 8 vùng:
Về nông nghiệp: vùng trồng lúa Củ Chi với diện tích khảo sát là 2km
2
, vùng
chăn nuôi Củ Chi với diện tích khảo sát là 2km
2
.
Về công nghiệp: KCN Vĩnh Lộc – Bình Chánh (2km
2
) với diện tích khảo sát
tính thêm cho vùng lân cận, tổng là 5 km
2
; KCN Tân Thới Hiệp – Quận 12
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-4-
(1,58km
2
) với diện tích khảo sát tính thêm cho vùng lân cận, tổng là 3km
2
; KCN
Tây Bắc Củ Chi (3,45km
2
) với diện tích khảo sát tính thêm cho vùng lân cận, tổng
là 6km
2
.
Nơi có cửa sổ thuỷ lực như Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, quận
9… : chúng tôi chọn Gò Vấp, Hóc Môn và quận 9; Gò Vấp với diện tích khảo sát là
2km

việc quản lí, quy hoạch, sử dụng, bảo vệ tránh các tác nhân gây ô nhiễm nguồn
nước.
c. Thành lập các bản
đồ, bản vẽ, biểu bảng theo đề cương đã duyệt.
d. Viết báo cáo thuyết minh.
7.4- Công tác số hoá bản đồ:
Công tác số hoá bản đồ là đưa loạt bản đồ và mặt cắt thuỷ địa hoá cũng như
bản đồ khả năng nhiễm bẩn đã lập được lên máy tính vừa để lưu trữ vừa để minh
họa cho báo cáo.
7.5- Công tác chuyên gia:
- Tổ chức 1 buổi hội th
ảo để lấy ý kiến về việc thành lập bản đồ thủy địa hóa
thành phố Hồ Chí Minh và ba tầng chứa nước Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen dưới
và bản đồ khả năng nhiễm bẩn tầng Pleistocen.
- Mời hai chuyên gia cố vấn trong suốt quá trình làm việc.
8. Thời gian thực hiện:
Từ tháng 08 / 2005 đến tháng 08 / 2007
9. Kinh phí thực hiện: 280.000.000 ngàn đồng.
10. Kết quả và sản phẩm đạt được:
- Báo cáo chính trình bày các khối lượng công tác đã thực hiện được kèm các
biểu bảng, phụ lục minh họa.
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-5-
- Bản đồ và mặt cắt thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh và của từng tầng
chứa nước tỷ lệ 1/50.000 (Tầng Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen dưới)
- Sơ đồ khả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước Pleistocen tỷ lệ 1/50.000.“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản

Ranh giới phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông
và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tây và tây
nam giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp biển Đông với bờ biển
dài 15 km. Thành phố Hồ Chí Minh có 24 quận huyện.
1.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, THỔ NHƯỠNG
1.2.1 Địa hình:
Địa hình thành phố Hồ Chí Minh là sự chuyển tiếp hài hoà giữa đồi núi miền
Trung và địa hình trũng thấp của đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng cao tập trung ở phía bắc và phía đông với cao độ tuyệt đối từ 10 – 25m
ở huyện Củ Chi, Hóc Môn đến 20 – 30m ở quận Thủ Đức và quận 9.
Vùng trung bình, độ cao từ 5 – 10m, phân bố ở khu vực trung tâm thành phố,
gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Đức, toàn bộ quận 12, huyện
Hóc Môn và phía tây huyện Củ Chi.
Vùng thấ
p nhất có độ cao < 5m tạo thành một dải hẹp ven theo hoặc bao
quanh địa hình đồi thấp ở phía bắc và phát triển thành diện rộng ở phía nam thành
phố và bị phân cách bởi hệ thống kênh rạch, vùng có độ cao 1 – 2m thường bị ngập
nước khi thuỷ triều lên cao. Phân bố ở phía nam – tây nam và đông nam thành phố,
thuộc các quận 7, 8, 9 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.

“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-8-

1.2.2 Thổ nhưỡng:
Vùng cao và vùng trung bình (5 – 25m): phát triển trên các trầm tích
Pleistocen (phù sa cổ). Trên chúng cũng đã hình thành đất xám, có thành phần cơ
giới chủ yếu là cát pha đến đất thịt, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy
nơi và tùy mùa biến động, sâu từ 1 – 2m đến 15m. Đất chua, độ pH khoảng 4,0 –
5,0.

lưu hoạt động thì tình hình này được cải thiện đáng kể. Cụ thể, khi có hồ Trị An xả
2110 m
3
/s, giới hạn mặn của sông Sài Gòn đã được đẩy lùi, trước đây ranh mặn ở
trên ngã ba Hiệp Bình thì nay đẩy xuống 10km ngang ngã ba Cát Lái.
* Hệ thống sông Nhà Bè:
Phía bắc Nhà Bè có mạng lưới thuỷ văn dày đặc như sông Cần Giuộc, sông
Chợ Đệm, rạch Cây Khô, Bà Phó, Ông Lớn và rất nhiều rạch và kênh nhỏ khác.
- Sông Cần Giuộc gồm nhiều nhánh, trong đó có hai nhánh chính là rạch Cần
Giuộc và sông Bà Lào. Hai nhánh chính của sông gặp nhau ở đông nam rồi ch
ảy ra
ngoài vùng công tác. Kết quả quan trắc cho thấy sông có chế độ bán nhật triều. Về
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-9-
thành phần hoá học của nước, kết quả phân tích cho hàm lượng Clo từ 425,4 –
5184,56mg/l, tổng khoáng hoá từ 0,83 – 9,28g/l, độ pH từ 6,9 – 8,32.
Sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, nước sông có chất lượng kém, nước
đục, mặn và rất bẩn, không thể dùng cho sinh hoạt và công nghiệp.
- Sông Chợ Đệm ở phía tây thành phố, chảy về đông bắc, nối liền với rạch
Cần Giuộc, kênh Đôi, và kênh Lò Gốm. Sông Chợ Đệm dài khoảng 5 km, sâu t
ừ 5 –
10m, rộng từ 80 – 120m. Sông chịu chế độ bán nhật triều. Kết quả phân tích mẫu
nước cho thấy hàm lượng Clo từ 418,31 – 4564,19mg/l, tổng khoáng hoá từ 0,82 –
8,2g/l, độ pH từ 6,88 – 7,33.
Chất lượng nước sông Chợ Đệm thay đổi theo mùa rõ rệt, mùa mưa nước
nhạt hơn mùa khô. Sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, nước sông có chất lượng
kém, nước đục, mặn và rất bẩn, không thể dùng cho sinh hoạt và công nghiệp.
Ngoài các con sông chính k
ể trên, trong vùng còn có các hệ thống kênh rạch

- Nhiệt độ trung bình vùng quanh năm cao và tương đối ổn định.
- Lượng mưa cao, bình quân 1.949 mm/năm. Khoảng 90% lượng mưa hàng
năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đ
ó hai tháng 6
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-10-
và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không
đáng kể, nhỏ nhất là 1.392 mm (1958). Trong phạm vi Thành phố, lượng mưa phân
bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục tây nam-đông bắc. Đại bộ phận
các quận nội thành và các huyện phía bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận
huyện phía nam và tây nam, lượng mưa ở Thủ Đức 1944mm, ở Duyên Hải
1010mm.
Độ ẩm tương đố
i cao, cao nhất 94 – 95%, thấp nhất 68 – 71%, trung bình là
78 – 79%.
- Lượng bốc hơi lớn, thay đổi từ 1075,4 – 1738,4mm. Lượng bốc hơi cao nhất
vào cuối mùa khô từ 140,3 – 161,2mm. Lượng bốc hơi thấp nhất vào cuối mùa mưa
(tháng 9 và tháng 10) có từ 55 – 60mm. Lượng bốc hơi trung bình từ 79 – 80mm.
- Gió: hai hướng gió chính và thịnh hành là gió mùa tây – tây nam và bắc –
đông bắc. Gió tây – tây nam từ Ấn Độ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ
tháng 6 đến tháng 10. Gió bắc – đông bắc từ biển đ
ông thổi vào trong mùa khô.
Ngoài ra, còn có gió tín phong, hướng nam – đông nam, khoảng từ tháng 3 đến
tháng 5.
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140Kcal/cm
2
/năm. Nhiệt độ không
khí trung bình 27
0

thành phố. Ngoài ra còn nhiều các cơ sở sản xuất lớn như xí nghiệp đông lạnh xuất
khẩu, công nghiệp vật tư xây dựng, xí nghiệp giày da xuất khẩ
u, các xưởng cơ khí,
chế biến hải sản cũng chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động toàn ngành công nghiệp
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-11-
Về nông nghiệp gồm có trồng trọt, chăn nuôi. Trồng trọt chủ yếu là cây lúa,
hoa màu và rừng nước mặn. Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 1.408 tỷ VNĐ vào
năm 1999.
1.7 GIAO THÔNG VẬN TẢI:
Hệ thống đường bộ lan toả đi các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ theo dạng
toả tia với các trục chính: Quốc lộ 1A, quốc lộ 22 và quốc lộ 13, quốc lộ 50, quốc lộ

51 tuyến đường sắt Bắc Nam.
Hệ thống đường thuỷ: Dọc sông Sài Gòn là một cụm cảng kéo dài trên chục
km từ Nhà Bè lên đến cầu Sài Gòn với năng lực bốc dỡ lớn nhất quốc gia. Hệ thống
cảng Sài Gòn hiện tại có thể tiếp nhận tàu trọng tải 15 – 20 ngàn tấn, với năng lực
hoạt động 10 triệu tấn/năm và có khả năng mở rộng, nâng cấ
p lên đến 17 – 20 triệu
tấn/năm.
Thành phố Hồ Chí Minh hiện là đầu mối cuối cùng của đường sắt thống nhất
bắc – nam.
Sân bay Tân Sơn Nhất là một trong những sân bay quốc tế lớn trong khu vực
Đông Nam Á; hiện tại có 12 đường bay trong nước, trên 20 đường bay quốc tế nối
hầu hết các châu lục.
1.8 CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN:
1.8.1 Tài nguyên đất:
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có 6 nhóm đất chính sau đây:
- Đấ

2
, hàng năm
cung cấp 15 tỷ m
3
nước.
- Nước ngầm: sẽ đề cập trong phần địa chất thủy văn.
1.8.3 Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh có 33.857,86
ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên.
1.8.4 Tài nguyên biển
Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở Cần Giờ là có biển với chiều dài bờ biển
khoảng 15 km kéo dài từ tỉnh Tiền Giang đến giáp ranh tỉnh Bà Rị
a – Vũng Tàu với
hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái.
1.8.5 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn thành phố không nhiều, chủ yếu là
khoáng sản rắn, tuy nhiên trữ lượng và chất lượng đạt yêu cầu khai thác sử dụng
không nhiều. Ngoài ra còn có vật liệu xây dựng như sét, gạch, ngói, cát, sỏi; phân
bố ở ngoại thành, tiềm năng khai thác ít, phù hợp với quy mô khai thác vừa và nhỏ.
- Mỏ đất sét làm gạch ngói: phân bố ở
Hóc Môn, Thủ Đức, Củ Chi.
- Mỏ đá xây dựng: tập trung chủ yếu ở khu vực quận 9 và diện tích nhỏ ở ấp
Giồng Chùa (Cần Giờ).
- Mỏ cát đen: ở Thủ Đức chưa xác định trữ lượng.
- Mỏ cuội sỏi: ở Thủ Đức và Củ Chi.
- Mỏ cao lanh: phân bố ở Củ Chi, Hóc Môn và Linh Xuân – Thủ Đức.
- Mỏ cát trằng: phân bố ở Linh Xuân – Đông Ba – Thủ
Đức.
- Mỏ than bùn: phân bố ở An Nghĩa – Gò Dầu – Cần Giờ.
Ngoài các khoáng sản nói trên phải kể đến các nguồn nguyên liệu quan trọng

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC:
2.2.1 Tình hình nghiên cứu địa ch
ất, địa chất thủy văn trong nước:
- Giai đoạn trước năm 1975
Trong thời gian này đặc điểm địa chất – địa chất thủy văn đã được các nhà địa
chất người Pháp, Nhật và Việt Nam nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là các công
trình sau:
 Năm 1932: Các nhà địa chất người Pháp đã khảo sát trên diện tích hai tờ bản
đồ Sài Gòn và Nha Trang, tỷ lệ 1/500.000. Vùng nghiên cứu thuộc tờ Sài Gòn.

Năm 1937: F. Saurin và I. Bowet tiếp tục khảo sát tỷ mỉ hơn khu vực Sài
Gòn.
 Năm 1942: J.Fromaget cho phát hành tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ
1/500.000.
 Năm 1962: F. Saurin đã hiệu chỉnh và tái bản tờ bản đồ địa chất Đông
Dương tỷ lệ 1/500.000. Trong đó một số ranh giới địa chất đã được xác định lại.
 Năm 1973: Theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn, ông Himuratate (người
Nhật) đã nghiên cứu vùng Hóc Môn, với mục đích xây dựng nhà máy nước ngầm ở
phía bắc Sài Gòn. Họ đã tiến hành khảo sát bằng các tuyến địa vật lý và các lỗ
“Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản
lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững”
-14-
khoan để nghiên cứu địa tầng tới độ sâu 120m. Dựa vào kết quả điều tra đã thiết kế
70 lỗ khoan khai thác với công suất nhà máy 210.000m
3
/ngày.
Ngoài ra trong thời gian từ 1962 đến 1975, chính quyền Sài Gòn cũng đã
khoan nhiều lỗ khoan khai thác nước để phục vụ ăn uống, sản xuất với chiều sâu
khai thác 40 đến 100m ở khu vực nội thành Sài Gòn.
Tóm lại, trong thời gian này các công trình nghiên cứu còn sơ lược, chủ yếu là

phân bố, khả năng chứa nước cùng đặc tính thuỷ hoá của các tầng chứa nước có mặt
trong vùng.
 Bản đồ địa chất tờ Đông Nam Bộ tỷ lệ 1/50.000 do tác giả Ma Công Cọ làm
chủ biên.
 Năm 1988: tác giả Vũ Văn Nghi lập báo cáo đánh giá trữ lượng nhà máy
nước ngầm Hóc Môn. Báo cáo đã được hội đồng xét duyệt trữ lượng Khoáng sản
Nhà Nước thông qua, với cấp trữ lượng phê duyệt: cấp B = 46.000m
3
/ngày, cấp C
1
= 9.150m
3
/ngày, cấp C
2
= 47.850m
3
/ngày.
 Năm 1991: tác giả Nguyễn Quốc Dũng lập báo cáo kết quả thăm dò sơ bộ
vùng Củ Chi – Hóc Môn tỷ lệ 1/25.000. Báo cáo đã được hội đồng đánh giá trữ
lượng khoáng sản thông qua, với cấp trữ lượng được phê duyệt: Cấp A+B =
53.000m
3
/ngày, cấp C
1
= 30.000 m
3
/ngày.
 Năm 1992: tác giả Bùi Thế Định lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1/200.000
Nam Bộ.
 Năm 1993: tác giả Lương Quang Luân lập báo cáo “Kết quả tìm kiếm đánh

tế quan trọng của thành phố, do nhiều ngành, nhiều cơ quan của trung ương và địa
phương đã và đang tiến hành như:
 Nhà máy nước ngầm Bình Trị Đông xây dựng năm 1997, công suất
9.000m
3
/ngày trong tầng chứa nước N
2
2
.
 Nhà máy nước ngầm Gò Vấp, xây dựng năm 1999, với công suất 15.000
m
3
/ngày.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu thủy địa hóa trong nước
Thủy địa hóa học ở Việt Nam thực chất đã được đề cập đến trong một số
công trình của các nhà địa chất người Pháp khi nghiên cứu một số nguồn nước
khoáng, nước nóng ở Đông Dương và Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XIX
và các năm đầu của thế kỷ XX. Tuy nhiên lĩnh vực Thủ
y địa hóa học thực chất chỉ
được bắt đầu nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 60 trong thế kỷ XX khi
môn Thủy địa hóa học chính thức được đưa thành môn học của chuyên ngành Địa
chất Thủy văn thuộc khoa Mỏ - Địa chất trường đại học Bách Khoa Hà Nội.
Trước năm 1975, đất nước chia làm 2 miền, miền Nam thì các nghiên cứu về
thủy địa hóa còn r
ất hạn chế, chỉ có một vài tài liệu công bố thành phần các nguồn
nước khoáng và nước khai thác từ các giếng khai thác nước ngầm ở một số đô thị.
Miền Bắc, công tác điều tra cơ bản được đẩy mạnh, nghiên cứu các nguồn nước
khoáng nước nóng, tìm kiếm các mỏ sunfua, các mỏ dầu khí. Nhiều phương án tìm
kiếm nước dưới đất được tiến hành như các phương án tìm kiếm thă
m dò nước

m cũng đã thành lập bản đồ thủy địa
hóa tỷ lệ 1:1.000.000, trong đó có một chương riêng nêu các đặc điểm thủy địa hóa
lãnh thổ Việt Nam.
Sự hình thành thành phần hóa học nước dưới đất ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam
Bộ đã được chú ý nghiên cứu không chỉ trong các đề tài khoa học, bài báo khoa học
mà còn là đề tài luận án phó tiến sĩ của các nghiên cứu sinh: Hoàng Văn Hưng,
Nguyễn Vi
ệt Kỳ, Đỗ Tiến Hùng, …Sự hình thành thành phần hóa học nước ngầm
dải ven biển miền Trung cũng đã được quan tâm vào những năm cuối của thế kỷ 20
và đầu thế kỷ 21.
Trong giai đoạn này một hướng mới trong nghiên cứu Thủy địa hóa đó là
“Địa chất thủy văn đồng vị” đã được Bùi Học thực hiện và sau đó là Vũ Kim Tuyến
đã bả
o vệ thành công luận án Tiến sĩ và hiện cũng đang lôi cuốn một nghiên cứu
sinh khác nghiên cứu theo hướng này.
Những năm gần đây nghiên cứu ô nhiễm càng được quan tâm, đặc biệt nghiên
cứu ô nhiễm các hợp chất nitơ, arsen. Các nghiên cứu về ô nhiễm đã có nhiều nét
mới là chú ý đến các nguồn tác động trực tiếp đến nước ngầm như nghiên cứu tác
động của các bãi chôn lấp chất thải, các nghĩa trang, nghiên c
ứu vai trò của các lớp
lót đáy, các bãi chôn lấp chất thải; nghiên cứu đới thông khí và sự biến đổi thành
phần của các lớp thông khí …
Lĩnh vực nghiên cứu Thủy địa hóa các mỏ dầu khí cũng được chú ý với các
nghiên cứu của Tô Quang Nhụ, Hoàng Đình Tiến và mới đây Trần Văn Xuân cũng
đã nghiên cứu về thủy địa hóa mỏ dầu Bạch Hổ.
Như vậy trong giai đoạn này (sau 1975) Th
ủy địa hóa đã được phát triển khá
rộng trên nhiều mặt của ĐCTV mà không bó hẹp như các năm 60 –70 của thế kỷ
XX.
- Đối với khu vực Nam Bộ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status