Môn : quản trị học
Ts,Gv: Lê Văn Tý
Chào mừng thầy và các bạn đến
với bài thuyết trình của nhóm 10
1
Danh sách nhóm:
1. Huỳnh Thị Phúc Loan (NT)……………12016181
2. Đỗ Thị Mỹ Dung………………………… 13017251
3. Trịnh Mỹ Hồng Hạnh…………………….13018801
4. Nguyễn Thuận Hiền………………………13028181
5. Võ Hoàng Tuyết Hương……………… 13011081
6. Nguyễn Thị Vi……………………………… 13018071
7. Nguyễn Thị Yến Nhi……………………….13018361
2
CHƯƠNG 2
SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC
TƯ TƯỞNG QUẢN TRỊ
3
NỘI
DUNG
I) Bối cảnh lịch sử
II) Các trường phái học thuyết về
quản trị
1) Trường phái học thuyết cổ điển
2) Trường phái tâm lý xã hội
3) Trường phái định lượng
4) Trường phái học thuyết quản trị
hiện đại
III) Bài tập tình
huống
4
Hội quốc liên, sauđó là Liên hiệp quốc và các tổ chức
nhỏ như:công ty cổ phần, hiệp hội.
• Giai đoạn 3: Từ thập niên 1960-> nay.
Vai trò quản trị càng có xu hướng xã hội hóa, chú trọng đến chất
lượng, không chỉ là chất lượng sản phẩm, mà là chất lượng cuộc
sống của mọi người trong thời đại ngày nay.
7
II) CÁC TRƯỜNG PHÁI HỌC THUYẾT
VỀ QUẢN TRỊ
1) Lý thuyết quản trị cổ điển:
- Lý thuyết về giá trị là thuật ngữ được dùng để chỉ những
quan điểm về tổ chức và quảntrị được đưa ra ở Châu Âu. Lý
thuyết đưa ra vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, đó là thời
điểm thịnh hành của đại cơ khí và kỹ sư là những người điều
hành doanh nghiệp.
- Được phân chia thành hai trường phái:
+ Trường phái quản trị khoa học
+ Trường phái quản trị hành chính
- Trường phái cổ điển bao gồm một số tác giả với những
nghiên cứu về quản trị kinh doanh, dưới đây là một số tác
giả điển hình và những tư tưởng chủ yếu của họ.
8
Frederich Taylor (1856 – 1915): Là đại biểu ưu tú nhất của trường
phái này và được gọi là cha đẻ của phương pháp quản trị khoa học.
Taylor xuất thân là một công nhân và trở thành kỹ sư trải qua quá
trình ban ngày đi làm, ban đêm đi học hàm thụ đại học. Trong quá
trình làm việc trong nhà máy luyện cán thép, Taylor đã có nhiều cơ
hội quan sát và thực hành quản trị trong nhà máy. Ông là tác giả với
những nghiên cứu và lý thuyết khá nổi tiếng về quản trị trong thời
gian từ 1890 đến 1930.
Herny L. Gantt (1861-1919)
Ông là kỹ sư chuyên về hệ thống kiểm soát trong nhà máy. Trên
cơ sở các lý thuyết của Taylor, Gantt đã phát triển và đưa ra lý
thuyết của mình, trong đó chủ yếu tập trung vào mở rộng hệ
thống khuyến khích vật chất cho người lao động với các biện
pháp như:
-
Khuyến khích công nhân sau một ngày làm việc nếu họ làm
việc tốt
-
Khuyến khích cho đốc công, quản đốc dựa vào kết quả làm
việc của công nhân dưới sự giám sát trực tiếp của họ nhằm
động viên họ trong công việc quản trị.
-
Đưa ra biểu đồ Gantt diễn tả thời gian kế hoạch của từng
cộng việc bằng cách phân tích thời gian của từng công đoạn
11
Frank B (1886-1924) và Liliant M. Gibreth (1878-1972).
Hai tác giả này đã nghiên cứu rất chi tiết quá
trình thực hiện và quan hệ giữa các thao tác,
động tác và cử động với một mức độ căng
thẳng và mệt mỏi nhất định của công nhân
trong quá trình làm việc, từ đó đưa ra phương
pháp thực hành tối ưu nhằm tăng năng suất lao
động, giảm sự mệt mỏi của công nhân.
Nhận xét chung về học thuyết quản trị khoa học
Ưu điểm: - Được áp dụng và công nhận trong nhiều công ty.
- Năng suất lao động cao hơn, giá thành rẻ hơn.
- Quản trị thống nhất
- Phân quyền và định rõ cơ cấu quản trị trong tổ chức
- Trật tự
- Công bằng: tạo quan hệ bình đẳng trong công việc
- Công việc của mỗi người phải được ổn định trong tổ chức
- Khuyến khích phát triển các giá trị chung trong quá trình làm việc
của một tổ chức
.
14
2. Max Weber (1864-1920)
Là nhà xã hội học người Đức, tác giả đã phát triển một tổ chức
quan liêu bàn giấy. Khái niệm quan liêu bàn giấy được định nghĩa:
là hệ thống chức vụ và nhiệm vụ được xác định rõ ràng, phân công
phân nhiệm chính xác, hệ thống quyền hành có tôn ti trật tự. Theo
Weber, hệ thống tổ chức kinh doanh phải được:
- Xây dựng một cơ cấu chặt chẽ
- Định rõ các quy luật, các luật lệ, chính sách trong hoạt động quản
trị.
- Định rõ quyền lực và thừa hành trong quản trị.
15
3.Chester Barnard (1886-1961)
Tác giả cho rằng một tổ chức là một hệ
thống hợp pháp của nhiều người
và ba yếu tố cơ bản:
- Sự sẵn sàng hợp tác.
- Có mục tiêu chung.
- Có sự thông đạt.
Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó tổ chức sẽ tan vỡ. Cũng như weber,
ông nhấn mạnh yếu tố quyền hành trong tổ chức, nhưng ông cho rằng
nguồn gốc quyền hành không xuất phát từ người ra lệnh, mà xuất
1) Hugo Munsterberg (1863-1916)
Nhiều nhà khoa học xem Hugo Munsterberg là người đã lập ra một
ngành học mới là ngành tâm lý học công nghiệp. Trong tác phẩm
nhan đề “Tâm lý học và hiệu quả trong công nghiệp” xuất bản năm
1913, Ông đã đặt vấn đề phải nghiên cứu một cách khoa học tác
phong của con người để tìm ra những mẫu mực chung và giải thích
những sự khác biệt. Đóng góp đáng kể của ông là chủ trương tuyển
người bằng trắc nghiệm tâm lý ( hiện nay được áp dụng rất rộng rãi)
18
2) Mary Parker Follet (1863-1933)
Nếu Hugo Munsterberg được xem là người có tư tưởng tâm lý
(tâm lý trong quản lý) đầu tiên thì Mary Parker Follet là người
có tư tưởng xã hội (xã hội trong quản lý) sớm nhất. Bà cho
rằng, ngoài khía cạnh kinh tế và kỹ thuật, các doanh nghiệp
còn được xem là một hệ thống của những quan hệ xã hội, và
hoạt động quản trị là một tiến trình mang tính chất quan hệ xã
hội.
Những ý kiến của bà nhấn mạnh về sự chấp nhận quyền hành;
sự quan trọng của phối hợp; sự hội nhập của các thành viên
trong tổ chức là những giả thuyết khoa học hướng dẫn cho
những người sau này nghiên cứu. Những ý tưởng đó được
người Nhật tin tưởng áp dụng, đem lại những thành quả nhất
định.
19
3) Elton Mayo (1880-1949)
Là một giáo sư về tâm lý học của trường kinh doanh harvard, ông
đã nghiên cứu và cho rằng: “ánh sáng làm việc, các kích thích tiền
lương, tiền thưởng và sự thay đổi các điều kiện làm việc như:
tiếng ồn, độ nóng không ảnh hưởng đáng kể đến năng suất đáng
kể của người công nhân. Trái lại, những yếu tố phi vật chất như
nhà quản trị trước đây đã tiến hành các cách thức quản trị trên
những giả thuyết sai lầm về tác phong con người. Năm 1960, ông
cho xuất bản cuốn “The Human Side of Enterprise” và trở nên nổi
tiếng với lý thuyết “cây gậy và củ cà rốt”. Lý thuyết này được rất
nhiều lý thuyết gia khoa quản trị học hiện đại nhắc nhở đến trong
các tác phẩm của họ. Mc Gregor đặt ra 2 lý thuyết: Thuyết X gồm
những người chưa trưởng thành và thuyết Y gồm những người đã
trưởng thành. Thuyết X chỉ những nhân viên biếng nhác. Họ không
thích làm việc nhưng phải làm việc để sống còn. Do đó, họ cần được
điều khiển và không thể tự đảm nhận trách nhiệm. Để chỉ huy
nhóm này, quản trị viên cần cả gậy lẫn cà rốt.
23
Thuyết Y chỉ những nhân viên có ý thức, muốn làm việc và yêu
thích làm việc. Họ có tinh thần độc lập, không muốn bị chỉ huy và
sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm. Mc Gregore nhấn mạnh rằng con
người là một con vật đầy ham muốn và ham muốn không bao giờ
được thỏa mãn, do đó, đường lối quản trị kiểm soát không động
viên được con người.
Bảng so sánh học thuyết x và học thuyết y :
5) Donglas Mc. Gregor (1909 – 1964)
24
Lý thuyết X
Lý thuyết Y
+ Hầu hết mọi người đều không thích làm
việc, và họ sẽ lảng tránh công việc khi hoàn
cảnh cho phép.
+ Đa số mọi người phải bị ép buộc, đe dọa
- Quá chú ý đến yếu tố xã hội - Khái niệm “con người xã hội” chỉ
có thể bổ sung cho khái niệm “con người kinh tế”chứ không thể
thay thế.
- Lý thuyết này coi con người là phần tử trong hệ thống khép kín
mà không quan tâm đến yếu tố ngoại lai.
Nhận xét chung về học thuyết tâm lý xã hội