Tóm tắt bài giảng .
Phân lo i doanh nghi p theo quy n s h u:ạ ệ ề ở ữ 4
Phân lo i doanh nghi p theo qui mô: ạ ệ 5
Phân lo i doanh nghi p theo trách nhi m pháp lý: ạ ệ ệ 5
Phân lo i doanh nghi p theo l nh v c ho t ng: ạ ệ ĩ ự ạ độ 5
5. c i m c a m t s lo i hình doanh nghi p ch y u hi n nay n c ta.Đặ đ ể ủ ộ ố ạ ệ ủ ế ệ ở ướ 6
Doanh nghi p nh n c.ệ à ướ 6
Công ty trách nhi m h u h n ệ ữ ạ 6
Công ty c ph n ổ ầ 8
Công ty h p danh ợ 9
Doanh nghi p t nhânệ ư 10
I. Nguyên t c l p k ho ch.ắ ậ ế ạ 26
II. Các b c l p k ho ch.ướ ậ ế ạ 28
1
Tóm tắt bài giảng .
Chương I: khái niệm và các cách tiếp cận đối với quản lý doanh nghiệp.
I. Khái niệm về quản lý.
Hiểu theo nghĩa chung nhất, người ta thường coi quản lý đồng nghĩa với điều khiển.
Tuy nhiên khái niệm điều khiển có nội dung rộng hơn khái niệm quản lý. Và người
ta thường phân chia điều khiển thành nhiều lĩnh vực khác nhau:
+ Điều khiển quá trình kỹ thuật: nhiệt độ, áp suất, thể tích,
+ Điều khiển quá trình sinh học: gen, tế bào,
+ Điều khiển quá trình xã hội: quan hệ xã hội (quản lý).
Bản chất của quản lý: như vậy quản lý đồng nghĩa với quá trình điều khiển xã hội và
mang các đặc trưng cơ bản dưới đây:
- Các hệ thống quản lý bao giờ cũng được phân chia thành chủ thể quản lý và
đối tượng quản lý.
- Các tác động quản lý có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, trong đó các tác động
gián tiếp có ý nghĩa hơn.
- Mọi quá trình quản lý đều gắn với thông tin, do đó để quản lý tốt thì cần phải
xây dựng hệ thống quản lý thông tin phù hợp.
giới thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải nâng cao quá trình
quản lý.
III. Doanh nghiệp: khái niệm, mục tiêu, các đặc trưng, và phân loại doanh
nghiệp.
1. Khái niệm:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp tuỳ vào mục tiêu nghiên cứu hoặc
quản lý. Đối với môn khoa học quản lý người ta thường tiếp cận khái niệm doanh
nghiệp theo hai khía cạnh:
- Doanh nghiệp là đơn vị cơ sở của nền kinh tế quốc dân thực hiện các hoạt động
sản xuất, trao đổi hàng hoá, thương mại, theo nguyên tắc tối đa hoá lợi ích của
người tiêu dùng thông qua đó tối đa hoá lợi ích kinh tế của chủ sở hữu doanh
nghiệp.
- Doanh nghiệp là một hệ thống nhằm biến đổi các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh thành các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ.
2. Mục tiêu của doanh nghiệp.
Đa số các doanh nghiệp thông thường đều có mục tiêu dài hạn là tìm kiếm lợi
nhuận (doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh) hoặc phục vụ cho các nhu
cầu xã hội (doanh nghiệp hoạt động công ích). Tuy nhiên nếu phân tích kỹ ở từng
giai đoạn khác nhau thì mỗi doanh nghiệp lại theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn
khác nhau (thâm nhập thị trường, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí sản
3
Tóm tắt bài giảng .
xuất, cực đại hoá doanh thu), và mục tiêu xã hội. Việc lựa chọn mục tiêu ngắn hạn
phụ thuộc vào chu kỳ sống của sản phẩm của doanh nghiệp.
3. Đặc trưng.
Để có thể tác động đến doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của mình thì
trong quá trình quản doanh nghiệp, các nhà quản lý cần lưu ý một số đặc trưng sau
đây:
- Tính hệ thống: theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì hệ thống là tập hợp
có từ hai phần tử trở lên, giữa các phần tử có mối liên hệ tác động qua lại lẫn
- Doanh nghiệp nhỏ;
Các doanh nghiệp lớn có số lượng ít, là những doanh nghiệp có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, ví dụ như các tổng công ty (Tổng công ty hàng không, Xí
nghiệp liên doanh dầu khí VIETSOPETRO, Tổng công ty Than, Tổng công ty Bưu
Chính Viễn Thông, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Giấy Gỗ Diêm, Tổng công ty Xi
Măng, Tổng công ty Điện Lực VN ).
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng rất lớn, là nơi thu hút rất nhiều lao động.
Vì vậy chính sách và cơ chế hoạt động cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được
nhà nước quan tâm nhằm thu hút lao động, tạo công ăn việc làm, hạn chế thất
nghiệp.
Phân loại doanh nghiệp theo trách nhiệm pháp lý:
Người ta chia thành 2 loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý vô hạn: Doanh nghiệp tư nhân (Cá
nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp), Doanh nghiệp chung vốn
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần (Mỗi thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty).
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hỗn hợp: Công ty hợp danh (Thành
viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty).
Phân loại doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động:
Người ta chia thành các loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm công nghiệp;
- Doanh nghiệp vận tải;
5
Tóm tắt bài giảng .
- Doanh nghiệp thương mại;
- Doanh nghiệp xây dựng;
nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty;
6
Tóm tắt bài giảng .
b. Phần góp vốn của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo qui định sau:
+ Thành viên muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp phải
chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương đương
với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng một điều kiện;
+ Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên
còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết;
c. Thành viên của công ty TNHH có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng thành viên
của công ty TNHH không vượt quá 50 (Có thể chỉ có 1 thành viên là một tổ chức
duy nhất).
d. Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu. Công ty TNHH có tư cách
pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
e. Với công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên, bộ máy quản lý của công ty gồm:
Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên, là cơ quan quyết định cao
nhất của công ty. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch Hội đồng
thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc (hoặc Tổng giám
đốc). Hội đồng thành viên có quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Giám đốc (tổng Giám đốc), kế toán trưởng và các cán bộ quản lý quan trọng
khác.
f. Với công ty TNHH có một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở
hữu. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu của công ty có
quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ
chức, cá nhân khác. Công ty này cũng không được phát hành cổ phiếu. Công ty
có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty TNHH một thành viên có một số hạn chế đối với quyền sở hữu công ty:
- Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn
đồng quản trị và Ban kiểm soát.
+ Cổ phần của cổ đông sáng lập: Theo luật doanh nghiệp, trong 3 năm đầu, kể từ
ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng
lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào
bán.
+ Cổ phần phổ thông là cổ phần không được ưu đãi về biểu quyết, không được ưu
đãi về cổ tức, không được ưu đãi về hoàn lại và không được chuyển đổi thành
cổ phần ưu đãi.
b. Số thành viên (cá nhân, tổ chức) gọi là cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế
tối đa. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
8
Tóm tắt bài giảng .
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu
có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Trên cổ phiếu phải ghi rõ tên, trụ sở công ty,
số lượng cổ phần và loại cổ phần, mệnh giá cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần
ghi trên cổ phiếu, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty và dấu
của công ty, ngày phát hành cổ phiếu
c. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
d. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (Trừ
cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần
đó cho người khác);
e. Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán theo qui định của
pháp luật;
f. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi
(sau khi đã nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác).
g. Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty cổ phần gồm có: Hội đồng quản trị (đứng đầu
là Chủ tịch Hội đồng quản trị), Giám đốc (Tổng giám đốc), với công ty cổ phần có
trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát. Đại hội cổ đông gồm tất cả các cổ đông
có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội
đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp thuê người khác quản lý, điều hành hoạt
động kinh doanh nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình,
nhưng phải báo cáo với cơ quan quản lý và cơ quan thuế. Trong thời gian cho thuê,
chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là
chủ sở hữu doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân cũng có quyền bán doanh
nghiệp của mình cho người khác. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư
nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà
doanh nghiệp chưa thực hiện.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ và
lợi ích liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến
doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp.
IV. Các cách tiếp cận khác nhau đối với quản lý doanh nghiệp.
1. Tiếp cận quản lý theo kinh nghiệm.
Cách tiếp cận này cho rằng: quản lý doanh nghiệp thực chất là việc các nhà quản lý
sử dụng kinh nghiệm của mình, tức là người ta sẽ ứng xử với các tình huống phát
sinh theo cách mà họ đã ứng xử thành công với các tình huống đó trong quá khứ.
10
Tóm tắt bài giảng .
Theo cách tiếp cận này thì vấn đề quản lý doanh nghiệp tương đối đơn giản và nó
chonphép tận dụng các kinh nghiệm của nàh quản lý. Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng
kinh nghiệm để quản lý thì không thể đầy đủ, bởi vì:
- Với những tình huống mới phát sinh thì không có kinh nghiệm để ứng xử và
quá trình quản lý sẽ khó khăn.
- Có những sự kiện đúng trong quá khứ nhưng trong tương lai chưa chưa
chắc đã đúng. Do đó nếu vận dụng kinh nghiệm một cách máy móc thì có thể
dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng. Như vậy kinh nghiệm rất cần nhưng
lý phải dự báo trước, nếu quyết định được thực hiện thì sẽ gặp phải
những yếu tố hạn chế gì? và tìm ra biện pháp để khắc phục yếu tố hạn
chế đó.
o Nguyên tắc lựa chọn quyết định theo xác suất: đòi hỏi người quản lý
phải đưa ra nhiều tình huống khác nhau và kết quả thu được ở mỗi
tình huống và dự báo xác suất xảy ra. Trên cơ sở đó sẽ lựa chọn
phương án an toàn.
4. Tiếp cận theo vai trò của quản lý .
Vai trò của quản lý là tập hợp có tổ chức các hành vi của người quản lý, được phân
thành ba nhóm lớn: vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin, vai trò quyết định.
a. Vai trò liên nhân cách:
- Vai trò đại diện:
Đây là một trong những vai trò cơ bản nhất và đơn giản nhất của người quản lý,
khi họ thay mặt đại diện cho tổ chức ở các cuộc lễ lạt hoặc những hoạt động có
tính chất nghi thức. Tuy nhiệm vụ đại diện này không mấy quan trọng nhưng nó
đòi hỏi người quản lý phải lưu tâm vì nó là biểu hiện của sự quan tâm, tôn trọng
của người quản lý đến các bên đối tác, cấp dưới, khách hàng, cộng đồng.
- Vai trò thủ lĩnh, lãnh đạo:
Đây là vai trò của người quản lý khi họ thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn và
phối hợp hoạt động của những người dưới quyền nhằm đạt được mục tiêu của
tổ chức.
- Vai trò liên hệ:
Vai trò này đòi hỏi người quản lý phải mở rộng quan hệ với những người bên
ngoài tổ chức. Đó là bạn hàng, quan chức chính phủ. Khi thực hiện vai trò này,
người quản lý tìm kiếm sự giúp đỡ ủng hộ của những nhân vật có ảnh hưởng tới
sự thành đạt của tổ chức.
b. Vai trò thông tin:
12
Tóm tắt bài giảng .
- Vai trò người nhận thông tin:
13
Tóm tắt bài giảng .
phải làm việc với những cá nhân hay nhóm người ít chia sẻ những mục tiêu của
tổ chức.
5. Tiếp cận quản lý theo các mô hình toán.
Dựa vào công cụ toán học để mô phỏng hoạt động của doanh nghiệp dưới dạng các
hàm số hoặc các mô hình. Sau đó dựa vào thực nghiệm để xác định các thông số của
mô hình và của hàm. Trên cơ sở đó thì điều khiển hoạt động của doanh nghiệp.
Mô hình dự trữ vật tư:
Tuy nhiên cách tiếp cận này chưa phù hợp với thực tế hiện nay.
6. Tiếp cận theo chức năng quản lý .
Đây là cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay. Trong đó người ta xem xét quản lý như
là một quá trình bao gồm nhiều bước, nhiều khâu, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
và mỗi một khâu đó là một hoạt động cần thiết mà người quản lý phải tiến hành,
hay người ta còn gọi là các chức năng quản lý.
V. ảnh hưởng của môi trường doanh nghiệp đến quản lý.
Doanh nghiệp không tồn tại cô lập mà trong môi trường hoạt động nó có những
trao đổi về mặt vật chất hoặc thông tin với nhiều yếu tố khác như là các nhà cung
cấp, các hộ tiêu thụ, ngân hàng, bảo hiểm, chính phủ, và các yếu tố đó tạo nên môi
trường của doanh nghiệp. Khi xem xét việc quản lý doanh nghiệp thì cần phải tính
đến ảnh hưởng của môi trường bởi vì ở những điều kiện bên trong giống nhau,
14
L p k ho chậ ế ạ
T ch cổ ứ
nh biênĐị
i u khi nĐ ề ể
Ki m tra v i u ể à đ ề
ch nhỉ
Xác nh m c tiêu v các ph ng pháp t m c đị ụ à ươ đạ ụ
tiêu
tr ng ườ
v nố
Thị
tr ngườ
v t tậ ư
Th ị
tr ng ườ
lao ngđộ
Th ị
tr ng ườ
h ng hoáà
Doan
h
nghiệ
p
Y u t tâm lý ế ố
xã h iộ
Y u t qu c tế ố ố ế
Y u t lu t ế ố ậ
pháp
Y u t kinh tế ố ế
Y u t chính ế ố
trị
Y u t công ế ố
nghệ
Y u t v n hoáế ố ă
Y u t môi ế ố
tr ng sinh tháiườ
Tóm tắt bài giảng .
Chương II: lập kế hoạch.
trong nội bộ doanh nghiệp cũng như ngoài môi trường bên ngoài.
17
Tóm tắt bài giảng .
Lập kế hoạch là sự lựa chọn phương án hành động trong tương lai và quá trình
thực hiện các kế hoạch này cũng xảy ra trong tương lai. Trên thực tế thì kinh tế
càng phát triển thì càng chứa đựng nhiều yếu tố bất định và ngẫu nhiên (ví dụ như
sự huỷ bỏ đơn đặt hàng của khách hàng, các biến động trong hệ thống tài chính,
tiền tệ, ngân hàng, hay thiên tai )
Nếu không có các kế hoạch, các dự báo cho tương lai cũng như các biện pháp giải
quyết khi các yếu tố bất định xảy ra thì người quản lý khó có thể ứng phó với các
tình huống đó và kết quả là doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn .
Tuy nhiên, cần phải nói rằng để có thể đối phó với những tình huống bất định và
ngẫu nhiên nói trên, trong quá trình xác định các kế hoạch cho doanh nghiệp, người
quản lý cần phải phân tích và dự báo các tình huống có thể xảy ra; thiết lập hệ
thống kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện các kế hoạch đó và đưa ra các biện
pháp điều chỉnh kịp thời khi các mục tiêu của doanh nghiệp đã lệch khỏi ‘hành lang
an toàn’ nào đó. Điều này thể hiện tính linh hoạt của việc lập kế hoạch trong nền
kinh tế thị trường (còn gọi là tính mềm dẻo của kế hoạch).
b. Việc lập kế hoạch sẽ đưa ra hệ thống mục tiêu cụ thể cho doanh nghiệp.
Vì toàn bộ công việc lập kế hoạch là nhằm đạt được các mục tiêu cho doanh nghiệp
nên chính hoạt động lập kế hoạch sẽ tập trung sự chú ý của doanh nghiệp vào các
mục tiêu này. Việc lập kế hoạch được xem xét toàn diện sẽ thống nhất được những
hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong doanh nghiệp. Người quản lý phải
thông qua việc lập kế hoạch để xem xét tương lai, thậm chí cần phải định kỳ xem
xét, mở rộng và điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra.
c. Việc lập kế hoạch tạo điều kiện cho tổ chức các hoạt động tác nghiệp.
Việc lập kế hoạch sẽ thay các hoạt động đơn lẻ, không được phối hợp của các cá
nhân, của các bộ phận bằng những nỗ lực có định hướng chung: thay thế các hoạt
động thất thường bằng các hoạt động đều đặn và thay thế sự phán xét vội vàng
bằng các quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng.
II. Sự phân cấp trong lập kế hoạch.
Nội dung của việc lập kế hoạch kinh doanh bao gồm việc xác định các mục đích, các
mục tiêu, các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc, các chương trình,
và các ngân quỹ mà doanh nghiệp phải thực hiện. Nhà quản lý phải phân biệt rõ các
loại kế hoạch này cũng như xác định được mối quan hệ qua lại giữa chúng. Trong
một chừng mực nào đó, quan hệ giữa các loại kế hoạch này có sự phân cấp từ đó có
sự phân công, phân cấp hợp lý trong quá trình điều hành các hoạt động của doanh
nghiệp: cấp quản lý nào, bộ phận trực thuộc nào phải chịu trách nhiệm chính trong
việc xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch tương ứng, tránh sự chồng chéo
hoặc đùn đẩy nhiệm vụ giữa các cấp quản lý, các bộ phận.
19
Tóm tắt bài giảng .
1. Các mục đích
Mọi hoạt động của tổ chức bao giờ cũng phải có các mục đích nhất định đặt ra, đó
là lý do để hình thành tổ chức nhằm kết hợp những nỗ lực chung và các mong m
uốn riêng của mỗi người trong tổ chức đó.
Các mục đích của doanh nghiệp là các động cơ hoạt động dài hạn thể hiện bản chất
của doanh nghiệp trong khuôn khổ quy định của pháp luật và thông lệ của thị
trường. Mục đích thường thể hiện qua các kế hoạch phát triển dài hạn của doanh
nghiệp.
Nhìn chung, mọi doanh nghiệp đều có động cơ hoạt động dài hạn là làm giàu cho
doanh nghiệp mình, bảo đảm cho hoạt động tồn tại, phát triển, tránh rủi ro, trang
trải được các chi phí về vốn và lao động, Mọi doanh nghiệp đều phải có một ‘thặng
dư’ trong kinh doanh, có mục đích ‘sinh lợi’ nếu nó muốn tồn tại. Mục tiêu cơ bản
này được hoàn thành bằng việc tiến hành các hoạt động - tức là đi theo những
hướng được xác định rõ ràng để đạt được các mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ.
20
M c íchụ đ
v nhi m và ệ ụ
Các m c tiêuụ
thời gian. Chúng không những chỉ là điểm cuối cùng của việc lập kế hoạch mà còn
là điểm kết thúc của công việc tổ chức, điều phối, và kiểm tra.
Như vậy, có thể xem mục tiêu là kế hoạch ngắn hạn có tính chất hoạt động cụ thể, có
thể đo lường và lượng hoá được kết quả.
Các mục tiêu của doanh nghiệp là kế hoạch cơ bản của doanh nghiệp. Ngoài ra, các
bộ phận trong doanh nghiệp cũng có thể có những mục tiêu riêng biệt của mình.
Các mục tiêu bộ phận góp phần vào việc đạt được mục tiêu chung của doanh
nghiệp, tuy vậy, chúng không hoàn toàn trùng khớp với nhau. Chẳng hạn, mục tiêu
của một doanh nghiệp là thu được bao nhiêu lợi nhuận khi sản xuất – kinh doanh các
loại máy điện thoại, còn mục tiêu của bộ phận lắp ráp là đạt được sản lượng cần thiết
theo đúng thiết kế, yêu cầu về chất lượng và tiến bộ, Như vậy, cần phải có sự kết hợp
giữa mục tiêu chung và các mục tiêu bộ phận.
21
Tóm tắt bài giảng .
Mục tiêu của doanh nghiệp thường biến động qua quá trình phát triển của nó: từ
đơn giản đến phức tạp theo biểu đồ phù hợp với biểu đồ chu kỳ sống của doanh
nghiệp.
3. Các chiến lược:
Chiến lược của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát nhằm
hướng đến việc thực hiện các mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp. Nội dung chiến
lược bao gồm:
- Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp.
- Các đường lối tổng quát, các chủ trương mà doanh nghiệp sẽ thực thi trong
một thời hạn đủ dài.
- Các nguồn lực và các tiềm năng được sử dụng để đạt được các mục tiêu đó.
- Các chính sách điều hành việc thu hút và sử dụng các nguồn lực, các tiềm
năng cần thiết để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
- Các hoạt động triển khai.
- Các hoạt động kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện chiến lược.
Chiến lược giữ vai trò quan trọng, nó làm định hướng cho các kế hoạch một cách
Do chiến lược có vai trò quan trọng là đưa ra các định hướng tổng thể cho doanh
nghiệp nên quá trình xây dựng chiến lược thường thông qua các bước sau đây:
Bước 1: Đánh giá thực trạng của doanh nghiệp.
- Nhìn rõ hoàn cảnh hiện tại của doanh nghiệp đang ở đâu? đang ở ngành sản
xuất nào? điểm mạnh? điểm yếu của doanh nghiệp.
- Các tác nhân bên ngoài đối với doanh nghiệp, các chỗ dựa cần khai thác, các
đối thủ cạnh tranh cần lưu ý, các ưu thế trong cạnh tranh.
- Các cơ hội tốt mà doanh nghiệp hy vọng sẽ đến, các tai hoạ mà doanh nghiệp
phải đề phòng.
Bước 2: Xác định các mục tiêu chiến lược, nhằm trả lời doanh nghiệp muốn đi
tới đâu.
Dựa trên năng lực lập kế hoạch, trình độ nắm bắt và vận dụng các dự báo khoa học
và công nghệ để xem xét: vị trí mong muốn mà doanh nghiệp cần đạt được, mức độ
tăng trưởng các mặt, các quan hệ xã hội và nội bộ cần xử lý.
Bước 3: Xác định nhiệm vụ mà bộ máy doanh nghiệp cần thực hiện, nhằm trả
lời câu hỏi doanh nghiệp cần phải làm gì.
23
Tóm tắt bài giảng .
- Dựa trên phân tích năng lực của doanh nghiệp và các điều kiện của môi
trường triển khai mục tiêu thành những nhiệm vụ cụ thể (thông qua các
chiến lược bộ phận như tài chính, công nghệ, nhân lực, ) có cân đối với điều
kiện thực hiện.
- Thiết lập nhiệm vụ cho từng bộ phận doanh nghiệp thực hiện và truyền đạt
rõ các nhiệm vụ yêu cầu này cùng các dự báo liên quan cho mỗi bộ phận. Các
bộ phận đến lượt mình lại triển khai lập kế hoạch thực hiện chi tiết, phản hồi
lại cho người quản lý.
Bước 4: Tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ chiến lược
nhằm trả lời câu hỏi doanh nghiệp phải thực hiện như thế nào?
- Tổ chức bộ máy cho phù hợp với việc triển khai thực hiện các mục tiêu chiến
lược. Điều chỉnh, ban hành, bổ sung các thủ tục, các quy tắc cần thiết cho
như thủ tục đặt hàng, thủ tục thanh toán, )
Các thủ tục tồn tại ở tất cả các bộ phận của doanh nghiệp mà nhờ đó những hoạt
động hàng ngày ở các bộ phận và toàn bộ doanh nghiệp diễn ra theo những cách
thức có lợi nhất nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất. Như vậy một mặt thủ tục là
những công cụ điều hành trong quản lý, nhưng mặt khác bản thân các thủ tục cũng
thể hiện trình độ quản lý. Trình độ quản lý càng cao thì đòi hỏi các thủ tục thiết kế
ra càng phải đơn giản và dễ thực hiện.
7. Các chương trình.
Các chương trình là tổ hợp các mục tiêu, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc,
các công việc phải thực hiện và trình tự các bước tiến hành công việc nhằm hướng
đến việc thực hiện một mục tiêu nhất định nào đó cho doanh nghiệp.
Chương trình của doanh nghiệp có thể là dài hạn, trung hạn, hoặc ngắn hạn, nó
thường gắn với các mục tiêu. Các chương trình có thể là: chương trình đổi mới
công nghệ sản xuất, chương trình đào tạo cán bộ quản lý, chương trình nâng cao kỹ
năng cho người lao động,
Việc thành lập các chương trình là nhiệm vụ mà theo đó người quản lý thiết lập
trình tự các hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu. Chương trình quy định sự ưu tiên
cho các hoạt động, nhờ đó có thể tập trung các nguồn lực của doanh nghiệp cho các
khâu chủ yếu trước, đẩy lùi về phía sau các khâu thứ yếu tuy không phải là vô ích,
nhưng chúng ngẫu nhiên tiêu tốn quá nhiều tiền bạc và thời gian so với giá trị đem
lại.
Không có chương trình thì con người có xu hướng làm những việc có vẻ quan trọng
trước mà gạt bỏ những vấn đề lớn.
25