HOÀN THIỆN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG. - Pdf 25

Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ & QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG.
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TRƯỜNG SƠN.
Giáo viên hướng dẫn: TS. VŨ THỊ MAI.
Hà Nội – 2008.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
KHOA KINH TẾ & QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG.
Giáo viên hướng dẫn: TS. VŨ THỊ MAI.
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN TRƯỜNG SƠN.
Chuyên ngành: KINH TẾ LAO ĐỘNG.
Lớp: KINH TẾ LAO ĐỘNG 46B.
Khoá: 46.
Hệ: CHÍNH QUY.
Hà Nội – 2008.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
Danh mục các bảng biểu sơ đồ hình vẽ.
Trang
Hình vẽ:
Hình 2.1. Mô hình tổ chức chi nhánh NHCT
Hai Bà Trưng. 16
Hình 2.2. Cơ cấu cán bộ nhân viên theo giới tính
31/12/2006. 28

B. Nội dung. 3
Chương I. Bản chất tổ chức lao động trong 3
doanh nghiệp.
I.1. Khái niệm và vai trò của tổ chức lao động
khoa học. 3
I.1.1. Khái niệm. 3
I.1.2. Vai trò của tổ chức lao động. 5
I.2. Các nội dung chính của tổ chức lao động trong
doanh nghiệp. 5
I.2.1. Phân công và hiệp tác lao động. 5
I.2.2. Tổ chức và phục vụ nơi làm việc. 9
I.2.3. Điều kiện lao động và chế độ làm việc nghỉ ngơi. 10
I.2.4. Kích thích vật chất và tinh thần. 11
I.3. Sự cần thiết hoàn thiện tổ chức lao động trong
doanh nghiệp. 12
Chương II. Thực trạng tổ chức lao động tại chi nhánh
ngân hàng công thương Hai Bà Trưng. 14
II.1. Sơ lược về Chi nhánh ngân hàng công thương
Hai Bà Trưng. 14
II.1. 1. Lịch sử hình thành của Chi nhánh. 14
II.1.2. Sơ đồ tổ chức và mối quan hệ giữa các phòng ban. 15
II.1.2.1. Sơ đồ tổ chức. 16
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
II.1.2.2. Nhiệm vụ, chức năng và mối liên hệ
giữa các phòng ban. 17
II.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng. 21
II.1.3.1. Công tác huy động vốn. 21
II.1.3.2. Hoạt động tín dụng. 23
II.1.3.3. Kết quả sản xuất kinh doanh. 25

vọng nghiên cứu đề tài này mong rằng sẽ có thể phần nào đáp ứng
được yêu cầu đề ra.
Mục đích nghiên cứu hoàn thiện tổ chức lao động tại chi nhánh Ngân
hàng công thương Hai Bà Trưng để từ đó có những ý kiến đóng góp giúp
Chi nhánh hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các nội dung của tổ chức lao
động như: Phân công và hiệp tác lao động, tổ chức phục vụ nơi làm việc,
điều kiện lao động và chế độ làm việc nghỉ ngơi, kích thích vật chất và
tinh thần… Các đối tượng trên chỉ nghiên cứu trong Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hai Bà Trưng.
Phương pháp nghiên cứu của chuyên đề này gồm những phương
pháp sau: phương pháp khảo sát hiện trường, phương pháp xã hội học,
phương pháp toán học và thống kê toán. Phương pháp khảo sát hiện
trường là phương pháp người nghiên cứu vận dụng những kiến thức đã
học được qua sách vở áp dụng vào thực tế nơi làm việc như: các
phương pháp bấm giờ, chụp ảnh, dùng phiếu điều tra… Phương pháp xã
hội học, thông qua việc thăm dò phỏng vấn để hiểu về nội dung của công
việc, những tâm tư nguyện vọng của người được phỏng vấn để hoàn
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
thiện các vấn đề nảy sinh. Phương pháp toán học và thống kê toán, là
phương pháp sử dụng các công cụ toán học như đồ thị bảng biểu … để
phân tích xử lý số liệu thu thập được từ đó giúp đưa ra những kết luận
cho những số liệu đó.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
B. Nội dung.
Chương I. Bản chất tổ chức lao động trong doanh nghiệp.
I.1. Khái niệm và vai trò của tổ chức lao động khoa học.
I.1.1. Khái niệm.
Đầu tiên chúng ta cần nắm rõ những khái niệm liên quan đến đề tài
này. Đề tài nghiên cứu hoàn thiện tổ chức lao động tại chi nhánh Ngân

kế dựa trên những thành tựu khoa học và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
Để đạt được mục đích nào đó mà người lao động sử dụng công cụ
lao động để tác động vào đối tượng lao động. Hoạt động đó sẽ có hiệu
quả nếu như quá trình tổ chức lao động là hợp lý. Chẳng hạn đối với quá
trình gửi tiết kiệm của khách hàng, nếu quá nhiều khâu trung gian không
cần thiết một mặt sẽ khiến cho khách hàng không hài lòng, mặt khác sẽ
làm giảm hiệu quả hoạt động của Chi nhánh vì có nhiều khâu không cần
thiết khiến vừa tốn thời gian, vừa tốn sức người … Do đó trong quá trình
tổ chức lao động, người tổ chức cần phát hiện ra những mặt, những
khâu thừa đó để giúp cho quá trình làm việc diễn ra nhanh gọn. Để làm
được điều này, phải thông qua các khảo sát hiện trường tại Chi nhánh,
các kinh nghiệm làm việc tiên tiến đang áp dụng tại các cơ sở kinh doanh
khác. Bên cạnh đó phải thường có những sáng kiến mới mà các doanh
nghiệp khác không có, và thử nghiệm, áp dụng các sáng kiến vào thực
tế.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
I.1.2. Vai trò của tổ chức lao động.
Trong một doanh nghiệp tổ chức lao động là một khâu vô cũng quan
trọng không thể tách rời, đó là điều kiện tất yếu của hoạt động sản xuất.
Một doanh nghiệp dù trình độ kỹ thuật và phương tiện sản xuất có hiện
đại đến mấy nhưng nếu thiếu một trình độ tổ chức lao động phù hợp thì
cũng không đem lại hiệu quả được. Không những thế dù cơ sở vật chất
rất bình thường nhưng tổ chức lao động tốt cũng có thể tạo ra hiệu quả
cao. Điều này có thể làm được nhờ giảm những tổn thất và hao phí thời
gian không cần thiết. Do đó, cần có biện pháp hoàn thiện tổ chức lao
động được hợp lý hơn.
Việc tổ chức lao động tốt sẽ dẫn đến quá trình lao động trong tổ chức
được nhịp nhàng, mối liên hệ giữa các cá nhân được thông suốt, họ sẽ
phối hợp với nhau một cách ăn ý, tránh sự chồng chéo làm lãng phí
nguồn lực, giảm những hao phí về thời gian, và công sức. Từ đó nâng

khả năng phù hợp với công việc hay không.
Bước hai là sàng lọc qua đơn xin việc thông qua mẫu đơn xin việc
nhà tuyển dụng sẽ phần nào nắm cụ thể các thông tin thiết yếu như họ
tên, ngày tháng năm sinh, hộ khẩu, trình độ của các ứng viên, các công
việc đã làm trước đó… Từ đó đưa ra những kết luận để tuyển chọn tiếp
các bước tiếp đối với các ứng viên hay không.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
Bước ba trắc nghiệm nhân sự trong tuyển chọn. Các hình thức trắc
nghiệm hay được áp dụng là trắc nghiệm IQ, trắc nghiệm riêng về trình
độ, trắc nghiệm phẩm chất cá nhân. Hình thức trắc nghiệm riêng về trình
độ là những câu hỏi liên quan về nghiệp vụ mà người tham gia phỏng
vấn muốn xin vào công việc đấy, trắc nghiệm phẩm chất cá nhân sẽ tìm
ra được những phẩm chất: chăm chỉ, trung thực, có tinh thần trách
nhiệm với công việc, có trung thành với công ty hay không…
Bước bốn phỏng vấn tuyển chọn: quá trình này sẽ giúp cho bên xin
việc và công ty hiểu rõ thêm về nhau hơn. Đối với người phỏng vấn:
những thông tin thu thập được từ các ứng viên sẽ kỹ càng hơn. Đối với
người được phỏng vấn: họ có cơ hội để hiểu thêm về công ty: những đãi
ngộ, những kế hoạch đào tạo trong tương lai, những dự định sắp tới của
công ty trong tương lai như sáp nhập, cổ phần hoá, mở rộng công ty…
Bước năm khám sức khoẻ và kiểm tra thể lực của ứng viên. Mỗi một
nghề, một vị trí công việc sẽ đòi hỏi một tình trạng sức khoẻ khác nhau.
Đối với công việc nặng thì không thể để người có sức khoẻ yếu làm việc
ở vị trí đó như: khai thác hầm mỏ, công nhân bốc vác,…
Bước sáu phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp. Thông qua bước
này sẽ hạn chế sự không logic giữa bộ phận tuyển chọn và nơi sử dụng
lao động. Đây là bước người phụ trách trực tiếp sẽ tiến hành phỏng vấn
người lao động.
Bước bảy thẩm tra các thông tin thu được trong quá trình tuyển chọn.
Bước này nhằm mục đích đánh giá tính xác thực từ các thông tin thu

sẽ kém và hiệu quả làm việc không cao.
Hiệp tác lao động là sự phối hợp giữa các nhân viên trong cùng
phòng ban hay giữa các phòng ban với nhau trong quá trình làm việc.
Sau khi phân công từng công việc giao cho các cá nhân đảm nhiệm,
người tổ chức lao động cần tiến hành phối hợp các dạng lao động nhỏ
đó với nhau.
I.2.2. Tổ chức và phục vụ nơi làm việc.
Trong quá trình làm việc, để công việc tiến hành được và diễn ra một
cách thuận lợi đòi hỏi phòng tổ chức cần tổ chức và phục vụ nơi làm việc
được đầy đủ, thiết kế bố trí nơi làm việc, sắp xếp các trang thiết bị một
cách hợp lý. Trang bị đầy đủ các trang thiết bị, các máy móc, dụng cụ
cần thiết để tiến hành quá trình lao động như hệ thống thoáng khí, hệ
thống ánh sáng, các phương tiện phục vụ sinh hoạt như điện nước, trang
phục bảo hộ lao động… Đó là những công việc của tổ chức phục vụ nơi
làm việc. Việc bố trí trang thiết bị cần gọn gàng, đẹp mắt, tạo kích thích
trong quá trình làm việc của người lao động.
Mỗi một công việc, mỗi một nghề có những hình thức phục vụ khác
nhau như: phục vụ các trang thiết bị, dụng cụ, phục vụ sinh hoạt, phục vụ
bốc dỡ, vận chuyển, phục vụ năng lượng, phục vụ điều chỉnh và sửa
chữa thiết bị, phục vụ kiểm tra…
Tổ chức phục vụ đòi hỏi cần nhanh nhẹn, chính xác, đáp ứng kịp thời
những đòi hỏi của người lao động, để giúp hạn chế thời gian hao phí
trong quá trình chờ đợi phục vụ, hoặc đưa sai thiết bị dụng cụ yêu cầu.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
Làm tốt được công việc này sẽ đóng góp một phần đáng kể trong việc
nâng cao năng suất lao động cho người lao động.
I.2.3. Điều kiện lao động và chế độ làm việc nghỉ ngơi.
Điều kiện lao động là những yếu tố có tác động tích cực, hoặc tiêu
cực đến quá trình lao động như chiếu sáng trong sản xuất, nhiệt độ, độ
ẩm, tiếng ồn, vi khí hậu, màu sắc trong sản xuất… Điều kiện lao động là

xuyên theo một đơn vị thời gian ( tuần, tháng, năm ). Tiền lương thường
được trả cho các cán bộ quản lý và các nhân viên chuyên môn kỹ thuật.
Tiền công: là số tiền trả cho người lao động tuỳ thuộc vào số lượng
thời gian làm việc thực tế ( giờ, ngày ), hay số lượng sản phẩm được sản
xuất ra, hay tuỳ thuộc vào khối lượng công việc đã hoàn thành. Tiền
công thường được trả cho công nhân sản xuất, các nhân viên bảo
dưỡng máy móc thiết bị, nhân viên văn phòng.
Đối với các doanh nghiệp ngoài việc áp dụng thang bảng lương do
Nhà nước quy định có thể tự xây dựng thang bảng lương riêng cho công
ty mình, tuy nhiên vẫn phải ràng buộc theo quy định của Pháp luật để
tránh tình trạng rối loạn trong công tác trả lương.
Các khuyến khích tài chính như tiền thưởng, tiền hoa hồng, tiền phân
chia lợi nhuận … Đó là các khoản tiền được trả cho những thành tích tốt,
các cá nhân xuất sắc, cố gắng trong công việc, năng suất cao, đem lại
hiệu quả cho công ty.
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
Đối với phúc lợi xã hội, đó là các khoản thù lao gián tiếp, có tác dụng
hỗ trợ cuộc sống người lao động khi họ gặp khó khăn, những tai biến,
như bảo hiểm xã hội, tiền lương hưu, tiền trả cho những ngày nghỉ lễ,
Tết, chi trả cho những chuyến nghỉ mát, dã ngoại cho các công nhân
viên trong công ty…
Tiền lương, tiền công, các khuyến khích tài chính và các phúc lợi xã
hội có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tinh thần làm việc cho các
công nhân viên. Điều này là vô cùng quan trọng có tinh thần hăng hái thi
đua cao sẽ giúp cho năng suất làm việc cao hơn, chính xác hơn, tránh
những sai lầm do tâm lý không thoải mái mà công việc mang lại. Để làm
được công tác này người tổ chức lao động cần phải xác định một cách
chính xác, và công bằng trong công tác tính tiền lương, tiền thưởng, và
các phúc lợi xã hội, một mặt tránh những chi phí không thích đáng, mặt
khác gây nên sự ghen tị giữa các nhân viên trong công ty, mất đoàn kết

nước thành phố Hà Nội chuyển thành Ngân hàng công thương Thành
phố Hà Nội thuộc Ngân hàng công thương Việt Nam. Ngày 01/04/1993,
Tổng giám đốc Ngân hàng công thương Việt Nam quyết định số
93/NHCT - TCCB về việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức Ngân hàng công
thương trên địa bàn thành phố Hà Nội theo mô hình quản lý hai cấp của
Ngân hàng công thương Việt Nam, bỏ cấp thành phố, hai chi nhánh
Ngân hàng công thương khu vực I và khu vực II Hai Bà Trưng là những
chi nhánh trực thuộc Ngân hàng công thương Việt Nam, được tổ chức
hạch toán kinh tế và hoạt động như các Chi nhánh Ngân hàng công
thương cấp tỉnh, thành phố. Kể từ ngày 01/09/1993, theo quyết định của
Tổng giám đốc Ngân hàng công thương Việt Nam sáp nhập chi nhánh
Ngân hàng công thương khu vực I và Chi nhánh Ngân hàng công
thương khu vực II Hai Bà Trưng và với quyết định số 107/QĐ - HĐQT -
Hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
NHCT1 của Hội đồng quản trị NHCT1, Chi nhánh ngân hàng công
thương khu vực II Hai Bà Trưng được đổi tên thành Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hai Bà Trưng.
Như vậy, sau nhiều lần sáp nhập và đổi tên Chi nhánh Ngân hàng
công thương đã lấy tên này cho đến nay. Trong hoạt động kinh doanh
Chi nhánh Ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn đặc biệt là sự cạnh tranh
khá gay gắt của các Ngân hàng khác song cùng với sự nỗ lực của các
cán bộ nhân viên cộng với những thay đổi đúng đắn trong chính sách
phát triển của ban lãnh đạo đã giúp cho Chi nhánh Ngân hàng công
thương Hai Bà Trưng tìm được những hướng đi đúng đắn. Chi nhánh
Ngân hàng Hai Bà Trưng ngày càng đứng vững và lấy được niềm tin của
nhiều khách hàng, khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống các
ngân hàng Việt Nam cũng như trong hệ thống các chi nhánh Ngân hàng
công thương Việt Nam. Để làm được điều này, ban lãnh đạo Chi nhánh
có nhiều các định hướng cho sự phát triển của Chi nhánh mình như việc
chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các dịch vụ Kinh

phòng là khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại tệ từ khách hàng là các
doanh nghiệp lớn, tiếp thị, chăm sóc, tư vấn cho khách hàng về các sản
phẩm dịch vụ của Ngân hàng công thương Việt Nam, thẩm định, xác
định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu giao
dịch về tín dụng và tài trợ thương mại.
Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Phòng KH số 2): Phòng
có chức năng trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ, quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Nhiệm vụ của phòng là khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại
tệ từ khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp thị, chăm sóc, tư
vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng công

Trích đoạn Chương III Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức lao động tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status