sinh kế hiện nay của người dao thanh y ở xã xuân vân, huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang - Pdf 25

MỞ ĐẦU
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN DÂN TỘC HỌC
*****
BÁO CÁO TẬP SỰ
TÊN ĐỀ TÀI
SINH KẾ HIỆN NAY CỦA NGƯỜI DAO THANH Y
Ở XÃ XUÂN VÂN, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH
TUYÊN QUANG
Người hướng dẫn: TS. Lý Hành Sơn
Người thực hiện: Lê Thị Thỏa
Hà Nội, 2011
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua Việt Nam không ngừng có những chuyển biến tích
cực, đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa -
xã hội. Điều đó đã chứng minh và khẳng định dù trải qua thăng trầm lịch sử,
qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt mà dân tộc ta vẫn đứng vững và vươn lên, đó
là vì truyền thống yêu nước cộng hưởng với sức mạnh đoàn kết của 54 dân tộc
anh em đang từng ngày, từng giờ cùng chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh,
vươn cao cùng bạn bè trong khu vực và trên thế giới.
Thực tế cho thấy, trong công cuộc xây dựng đất nước, mục tiêu của Đảng
ta là phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở tất cả các vùng miền trong cả nước.
Cụ thể là Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo thực hiện nhiều chương trình để phát
triển toàn diện các địa bàn miền núi và biên giới là nơi có nhiều dân tộc thiểu số
sinh sống, đặc biệt quan tâm tới những vùng còn nhiều khó khăn, để cho miền
núi cũng như đồng bằng, dân tộc đa số hay thiểu số đều có điều kiện phát triển
như nhau, đời sống được nâng cao cả về vật chất và tinh thần.
Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã và đang áp dụng nhiều
chính sách nhất quán và mang tầm chiến lược đối với tất cả các vùng miền và
các dân tộc thiểu số trên cả nước. Trong các chính sách đó, vấn đề sinh kế tộc
người luôn được đặt lên hàng đầu. Ngay từ Đại hội VIII của Đảng, chương trình

tộc học (nguồn tư liệu chính) mà bản tôi thân thu thập được tại địa bàn được
chọn, mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập sự này như sau:
- Trình bày một cách tổng quan về bức tranh sinh kế của người Dao
Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
3
- Nêu lên những hoạt động sinh kế của người Dao Thanh y ở xã Xuân
Vân trong bối cảnh hiện nay;
- Khuyến nghị một số giải pháp cho việc phát triển sinh kế bền vững hơn
trong khung cảnh mới đối với người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên
Sơn, tinh Tuyên Quang.
Kết quả thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã được thể hiện rõ
trong bản báo cáo tập sự. Cụ thể là nội dung của bản báo cáo này đã trả lời được
các câu hỏi như sau:
Thứ nhất: Sinh kế truyền thống của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân
trước đây bao gồm những hoạt động như thế nào? Câu hỏi này được thể hiện ở
Chương 2 của báo cáo với 2 nội dung chính: Một số khái niệm về sinh kế - sinh
kế tộc người; các hoạt động sinh kế truyền thống của người Dao Thanh y.
Thứ hai: Trong bối cảnh hiện nay, sinh kế của người Dao Thanh y thay
đổi như thế nào? Dưới tác động của yếu tố nào? Đây là nội dung của Chương 3
trong báo cáo, cụ thể là đã giải quyết 2 vấn đề lớn: Bức tranh sinh kế của người
Dao Thanh y hiện nay và yếu tố tác động tới sự biến đổi sinh kế.
Thứ ba: Những giải pháp gì có thể đặt ra để các cấp các ngành trợ giúp
người Dao Thanh y phát huy được các thế mạnh của mình cũng như biết nắm
bắt cơ hội, đối mặt với thử thách mà tộc người sẽ phải lựa chọn?
Qua đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng muốn cung cấp thêm một số
tư liệu nhằm góp phần cho việc hiểu biết và nghiên cứu về người Dao nói chung
và người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân nói riêng. Từ đó, có những chính sách
giúp họ phát huy được thế mạnh sẵn có, tận dụng được nhiều hơn cơ hội làm
giàu cho chính tộc người mình và làm giàu cho xã hội.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

người Dao ở Việt Nam. Đặc biệt, Ông là người đầu tiên tìm ra những tiêu chí
5
khá thuyết phục để phân chia tộc người Dao ở nước ta thành nhiều ngành nhóm
địa phương khác nhau. Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Tụng cùng với tập thể tác
giả Bế Viết Đẳng, Nông Trung và Nguyễn Nam Tiến đã viết và cho xuất bản
cuốn sách Người Dao ở Việt Nam (1971). Cuốn sách này được coi như cẩm
nang cho những ai bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu về người Dao ở nước ta.
Ngoài các vấn đề liên quan đến nguồn gốc lịch sử, địa vực cư trú, phong tục tập
quán và sinh hoạt văn hóa của người Dao, cuốn sách đó còn đề cập khá sâu về
hoạt động sinh kế của người Dao ở cả 3 vùng sinh thái trong những năm trước
năm 1970, trong đó có tỉnh Tuyên Quang và huyện Yên Sơn.
Đặc biệt, vào năm 1972, hai tác giả Hà Văn Viễn và Hà Văn Phụng đã
cho ra mắt cuốn sách chuyên khảo với tiêu đề Các dân tộc thiểu số ở Tuyên
Quang (1972). Trong đó, nội dung cuốn sách này cũng đã có nhiều tư liệu viết
về tập quán hoạt động sinh kế của người Dao ở tỉnh Tuyên Quang nói chung, ở
huyện Yên Sơn nói riêng.
Một trong những tài liệu không thể không nhắc tới là cuốn Sự phát triển
văn hóa xã hội người Dao: Hiện tại và tương lai do Trung tâm Khoa học Xã
hội và Nhân văn Quốc gia xuất bản tại Hà Nội 1998. Đây là công trình tập hợp
các bài viết, các bài nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế trình bày
tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 7 về người Dao (tổ chức tại thành phố Thái Nguyên
vào tháng 12 năm 1995). Nội dung các bài viết về người Dao trong công trình
này đã thể hiện trên tất cả các khía cạnh từ nguồn gốc lịch sử, trang phục, phong
tục tập quán đến sự phát triển kinh tế xã hội của người Dao ở nước ta thời kỳ
trước và sau đổi mới. Trong đó, nổi bật lên là các vấn đề về nhân học ứng dụng,
nhân học phát triển như nghiên cứu về tri thức của người Dao với việc quản lí
tài nguyên thiên nhiên. Hay như vấn đề phát triển nông thôn miền núi và dân tộc
trong thời kì chuyển đổi kinh tế
Riêng các công trình và nghiên cứu đã được công bố viết về người Dao ở
tỉnh Tuyên Quang, ngoài các cuốn sách như Các dân tộc thiểu số ở Tuyên

người Dao. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên là những tư liệu quý giá để giúp tôi
hoàn thành tốt đề tài tập sự: Sinh kế hiện nay của người Dao Thanh y ở xã
Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân thuộc huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Sinh kế của người Dao Thanh y trong
giai đoạn hiện nay. Trong đó, có đề cập đến truyền thống và hiện tại dưới tác
động của các yếu tố phát triển hiện nay.
- Địa bàn nghiên cứu: Xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lí luận của Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc và chính sách dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc.
- Cách tiếp cận:
+ Tiếp cận từ góc nhìn Dân tộc học/Nhân học: Dân tộc là chủ thể của các
hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội và các vấn đề đó đều mang tính tộc người.
Trong đó, một trong những nghiên cứu quan trọng của nghành Dân tộc
học/Nhân học là xem xét sự vật như nó vốn có từ con mắt của chủ thể, người
trong cuộc, bởi vậy càng không được tìm cách áp đặt những đánh giá chủ quan
của nhà khoa học. Có nghĩa là, mọi hoạt động sản xuất kinh tế cần được trao
quyền và tiếng nói để người dân tộc thiểu số nói lên tâm sự, nguyện vọng của
mình, đây cũng là lí do để người dân tộc thiểu số được lên tiếng. Ngoài ra, nhà
8
nghiên cứu cũng cần đặt các hoạt động sinh kế tộc người trong mối quan hệ
biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử để thấy được quy luật của sự phát triển
và mâu thuẫn là động lực của nó. Từ đó đưa ra những nhận xét chính xác và cụ
thể về bức tranh sinh kế tộc người. Trong quá trình nghiên cứu về sinh kế của

xóm thuộc xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn
+ Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ ý kiến đóng góp của các chuyên
gia và đồng nghiệp nghiên cứu về người Dao.
+ Phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh đối chiếu: Hệ thống, phân
tích, so sánh các tư liệu, tài liệu thu thập được khi viết Luận văn.
6. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu chính của Luận văn là các tư liệu điền dã thu thập được
qua các đợt khảo sát nghiên cứu từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011 tại
xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, việc tham khảo các
công trình nghiên cứu đã được công bố, các bài viết đăng trên tạp chí chuyên
ngành, khóa luận tốt nghiệp, các cuốn sách viết về người Dao và nguồn tài
liệu thứ cấp của địa phương cũng được xử lý tối đa nhằm đem lại những thông
tin cần thiết và cụ thể nhất cho Luận văn.
7. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình đầu tiên phản ánh một cách rõ nét và chuyên sâu về
các hình thức hoạt động sinh kế (Bức tranh sinh kế) của người Dao thanh y.
- Cho thấy được những tích cực trong sự vươn lên cũng như những hạn
chế của chính bản thân tộc người thiểu số trong xu thế hội nhập và phát triển
bền vững như hiện nay.
- Cung cấp luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc đề xuất kiến nghị và giải
pháp nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát huy thế mạnh tộc người tạo sinh kế bền vững
10
góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của người Dao nói chung và người
Dao Thanh y ở Tuyên Quang nói riêng.
- Đóng góp thêm tư liệu cho sự hiểu biết về người Dao nói chung, người
Dao Thanh y nói riêng.
8. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn
được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên

chủ cộng hòa, nhắc tới Tuyên Quang thì mọi người dân Việt Nam ai cũng biết,
bởi nơi đây là quê hương cách mạng với mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào
đã đi vào lịch sử. Năm 1976, Hà Giang sáp nhập với Tuyên Quang thành tỉnh
Hà Tuyên; đến năm 1991, Hà Giang và Tuyên Quang tách thành hai đơn vị
hành chính riêng. Do vậy, tỉnh lỵ Tuyên Quang thời đó bao gồm 5 huyện thị:
Chiêm Hóa, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương, Yên Sơn và thị xã Tuyên Quang.
Tới năm 2008, theo Nghị định số 99/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Sơn, mở rộng thị xã Tuyên
Quang, thành lập một số phường thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Và Nghị định số 27/NQ-CP ngày 2/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Quyết
định thành lập thành phố Tuyên Quang thuộc tỉnh Tuyên Quang. Do đó, đơn vị
hành chính hiện nay của tỉnh Tuyên Quang gồm 1 thành phố và 5 huyện: thành
phố Tuyên Quang, gồm có 7 phường, 6 xã; Chiêm Hóa, có 1 thị trấn và 28 xã;
12
Hàm Yên với 1 thị trấn, 17 xã; Na Hang có 1 thị trấn, 16 xã; Sơn Dương, gồm 1
thị trấn, 32 xã; Yên Sơn có 1 thị trấn, 30 xã.
Diện tích toàn tỉnh Tuyên Quang là 5.868 km
2
; dân số có 724.821 người,
trong đó 363.108 người là nam, 361.713 người là nữ, số người trong độ tuổi lao
động là 377.314 người (chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh, mật độ dân số 124
người/km
2
. Tuyên Quang hiện nay có 22 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh
chiếm 48,22%, dân tộc Tày chiếm 25,45%, các dân tộc khác chiếm 16,33%.
Nằm trong tọa độ địa lí 21
0
30

- 22

chứa nhiều khoáng sản như vàng, thiếc, kẽm, pi sit, ăng ti moan, măng gan, cao
lanh cũng như các vật liệu xây dựng như cát, sỏi, đá vôi, đất chịu lửa Rừng
ở Tuyên Quang nhiều gỗ quý và dược liệu như: Đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát,
pơmu, tre, nứa, song mây, sa nhân, ba kích, thục sâm cùng nhiều loài thú quý
hiếm, nhất là Voọc mũi hếch (loài thú có tên trong danh mục bảo vệ động vật
quý hiếm thế giới). Tuy nhiên, hiện nay số lượng gỗ quý cũng như một số loài
động vật quý hiếm còn ít do sự chặt phá rừng quá mức. Vì vậy cần phải bảo vệ
và phát triển rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn và bảo tồn một số loài động vật
quý hiếm.
Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng
khí hậu lục địa bắc á Trung Hoa với 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, khô hạn; mùa
hè nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm khoảng 1500 - 1700mm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm 22 - 24
0
c, thấp nhất 12
0
c - 13
0
c, cao nhất 33 -
35
0
c. Độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển, nhất là rừng.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng gió mùa nên thường có lũ to, lốc mạnh, sương muối,
gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của các dân tộc trên địa bàn.
Mạng lưới giao thông phát triển cả đường thủy và đường bộ, riêng đường
sắt thì Tuyên Quang chưa có. Đường bộ có tuyến quốc lộ 2 là con đường huyết
mạch nối liền thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang; quốc
lộ 37 từ Thái Nguyên qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái; quốc lộ 2C
nối Vĩnh Yên với Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang. Chính mạng lưới
giao thông đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tất cả các mặt về

Tỉ lệ
(%)
1 Kinh 85.746 54,1
2 Dao 22.065 13,9
3 Tày 21.127 13,3
4 Cao Lan 16.940 10,7
5 Hmông 7.074 4,5
6 Các dân tộc khác 5.537 3,5
15
Tổng 158.589 100
(Nguồn: Tài liệu điền dã vào tháng 1/2011)
1.1.2. Xã Xuân Vân
Vị trí địa lí
Xuân Vân nằm ở phía Bắc huyện Yên Sơn với tổng diện tích 3.987,15ha
(số liệu kiểm kê 2010 của xã); số dân là 7.921 người (tính đến ngày 1/4/2009),
mật độ dân số 198 người/km
2
với 8 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Hoa, Nùng,
Dao, Cao Lan, Hmông, Mường. Vì thuộc vùng thượng huyện Yên Sơn mà
Xuân Vân có 4 mặt tiếp giáp với các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện như:
phía Bắc giáp xã Quý Quân, phía Nam giáp 2 xã Tân Long và Tân Tiến, phía
Đông giáp xã Trung Trực, phía Tây giáp 2 xã Phúc Ninh và Lực Hành.
Do dân cư phân bố tập trung theo mỗi khu vực được phân cách về mặt
địa lí như sông, suối hay cánh đồng, đường xá mà xã Xuân Vân được chia thành
25 thôn bản: Xóm Sơn Hạ (Sơn Hạ 1, 2 ,3 ,4, vông Vàng 1, 2, Đèo Mủng), xóm
Đô Thượng( Đô Thượng 1, 2, 3, 4, 5, 6), Tân Sơn (Tân Sơn 1, 2), An Lạc (An
Lạc 1, 2) Soi Đen, Vân Giang, Đồng Tầy, Khuôn Khán, Lương Trung, Soi Hà
và Soi Đát, Đồng Dài Các xóm cách trung tâm xã và chợ phiên Xuân Vân
trung bình khoảng 5-6km. Trong đó, các xóm Tân Sơn, An Lạc và Vân Giang
ngăn cách với trung tâm xã và các xóm khác bởi dòng sông Gâm. Tên gọi các

c. Trong những ngày rét đậm nhiệt độ tối
thấp tuyệt đối là 6
0
c, ngày nắng nóng có thể vượt ngưỡng 38
0
c. Lượng mưa
trung bình hằng năm 1600-1800mm, số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm tập
trung nhiều vào mùa hè (tháng 7, tháng 8) có lúc mưa đạt trên 300mm/tháng.
Mùa đông thời thiết khô hạn lượng mưa ít chỉ đạt 10-15mm/tháng.
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1500 giờ. Mùa đông số giờ nắng chỉ
đạt 10-15h/tháng, mùa hè số giờ nắng cao 140-160h/tháng. Độ ẩm không khí
trung bình năm từ 80-82%, biến động độ ẩm không khí trong năm không lớn.
Ngoài ra, hiện tượng thời tiết khác cũng thường xuyên xảy ra như giông, mưa
phùn, sương mù, sương muối nhưng nhìn chung không gây thiệt hại lớn cho sản
xuất, vì người dân hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh và khắc phục.
Tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội xã Xuân Vân
17
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Xuân Vân đã đẩy mạnh tập trung
phát triển nông - lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong đó phát triển nông
- lâm là thế mạnh và cũng là ngành kinh tế chủ đạo của xã. Trong đó, trồng trọt
giữ vai trò quan trọng đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu lương thực phục vụ đời
sống của nhân dân trong xã. Theo kết quả thống kê năm 2010 của xã, diện tích
đất sản xuất nông nghiệp toàn xã là 886,59ha (trong đó 585,38ha là đất trồng
lúa; 301,21ha đất trồng màu và cây hàng năm khác (ngô, đậu tương, mía ).
Hiện nay, xã Xuân Vân cũng đầu tư và mở rộng diện tích cây ăn quả theo
hướng sản xuất hàng hóa thành vùng chuyên canh tập trung như bưởi, lúa, mía,
chè, ngô, đậu tương, lạc, sắn, khoai lang, cây rau, cây ăn quả, đạt năng suất cao.
Tổng sản lượng lương thực năm 2010 của xã đạt 2.715,6 tấn.
Do tính chất đất tơi xốp, cộng với diện tích 2 cánh đồng Lịch và Quải, diện
tích soi bãi tương đối rộng mà lại nhiều suối khe nhỏ cung cấp nước cho đồng

đích dạy và học còn chưa được quan tâm đúng mức, nên số học sinh đỗ tốt
nghiệp THPT thấp, tỷ lệ thi đỗ Đại học và Cao đẳng chưa cao.
Một trạm y tế xã khám chữa bệnh và điều trị nội trú, ngoại trú cho nhân
dân, không có cơ sở y tế thôn bản. Theo lãnh đạo Y tế xã, riêng năm 2010,
khám chữa bệnh cho 11.254 lượt người, điều trị nội trú 603 lượt người, điều trị
6.445 bệnh nhân, chuyển tuyến 33 bệnh nhân. Hầu hết 100% các dân tộc trên
địa bàn ốm đau đều tới trạm xã hoặc bệnh viện khám và điều trị, không có hiện
tượng mê tín. Tuy nhiên, vẫn có số lượng nhỏ chủ quan với bệnh tật, khâu vệ
sinh phòng bệnh chưa cao, nhất là hệ thống nhà vệ sinh chưa hợp phù hợp,
nguồn nước uống còn kém chất lượng
Chợ phiên tại trung tâm xã Xuân Vân họp tuần 3 buổi vào các ngày thứ 3,
5 và chủ nhật. Đây là chợ trung tâm xã với đầy đủ các mặt hàng thịt, cá, rau, củ,
quả Mùa nào thức nấy, chợ này còn là nơi giao lưu buôn bán cố định. Chợ
được quy hoạch lại vào năm 2005, góp phần thúc đẩy giao thương đưa hàng hóa
đặc sản của xã Xuân Vân đến với địa phương khác.
19
Bên cạnh đó, vấn đề xã hội và an ninh quốc phòng tại xã vẫn luôn được
đảm bảo, đang từng bước hạn chế các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, vi phạm
luật giao thông Gần đây, lãnh đạo, các đoan thể ở xã Xuân Vân cũng thường
xuyên đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên
truyền pháp luật và đời sống văn hóa cho nhân dân trong xã, đã tạo nên sự
chuyển biến tích cực và ngày càng củng cố phong trào toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư trong các xóm.
Hoạt động đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư được đẩy mạnh như Dự án
Ridp hay chương trình 135 giai đoạn 2 nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho các
thôn xóm còn khó khăn. Ngoài ra, các hộ nghèo còn được tạo điều kiện vay vốn
phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo từ nguồn vốn của ngân hàng chính sách
xã hội. Tổ chức làm mới và nghiệm thu 56 nhà cho hộ nghèo năm 2010 (số hộ
nghèo theo tiêu chí mới là 712 hộ, chiếm 36%). Năm 2010, xã có 441 lao động
làm việc trong nước, 6 lao động xuất khẩu nước ngoài, mở lớp đào tạo nghề hàn

tuổi chẳng lo sầu” - Bàn Hộ, (Đặng Nghiêm Vạn, 2003).
Căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa, người Dao ở nước ta được chia
thành 7 nhóm khác nhau. Cụ thể là: Dao Đỏ (hay còn gọi là Dao Coóc ngáng,
Dao Sừng, Dao Dụ lạy, Dao Đại bản); Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam
đảo, Dao Nga hoàng, Dao Dụ cùn); Dao Tiền (Dao Đeo tiền, Dao Tiểu bản);
Dao Lô gang (Dao thanh phán, Dao Coóc mùn); Dao Quần trắng (Dao họ); Dao
Thanh Y; Dao Làn tiẻn (Dao Tuyển, Dao Áo dài).
Tuy được chia ra làm nhiều nhóm địa phương và cư trú ở nhiều địa bàn
khác nhau, song họ đều coi Bàn Hồ (ông tổ huyền thoại) là thủy tổ của mình,
coi Dương Châu đại điện là quê hương. Qua truyện thơ “Bàn Hồ” đã phản ánh
được thế giới quan, nhân sinh quan của người Dao về nguồn gốc vũ trụ, nguồn
gốc muôn vật và nguồn gốc người Dao, cụ thể như sau:
21
Thái cực tiên sinh, sinh Bàn cổ
Khai bảo nguyên niên vua ra đời
Chưa có trời mà đã có đất
Trước có Ngọc Hoàng với Bàn cổ
Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng
Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa cách
Bàn cổ ba trăm sáu hóa thân
Mắt trái biến thành mặt trời đỏ
Mắt phải biến thành mặt trăng tròn
Cỏ tranh trên đồi là tóc biến
Cá nước dưới biến là tim gan
Răng biến thành vàng thành bạc
Xương cốt biến thành đá thành tro
Thịt biến thành đất trồng trọt lúa
Máu hóa thành sông ra biển khơi
Gân cốt biến thành cây rừng núi
Móng chân biến thành ngôi sao

xưa nên cũng là tên gọi hợp lí cho các nhóm người Dao ở Tuyên Quang.
Từ khi di cư vào nước ta và tới Tuyên Quang, dân tộc Dao chung sống
hòa bình cùng với các dân tộc anh em, họ luôn đoàn kết với nhau cùng xây
dựng quê hương giàu đẹp. Mặc dù được chia làm nhiều nhóm do dựa vào trang
phục nữ của họ, nhưng tất cả các nhóm Dao ở Tuyên Quang đều có mối liên hệ
cố kết cộng đồng khá chặt chẽ, họ cùng ý thức được là cùng chung một nguồn
gốc nên văn hóa khá tương đồng về nhiều mặt.
Về quá trình di cư của các nhóm Dao đến Tuyên Quang vẫn còn nhiều
tranh cãi. Song, nhìn chung tất cả các nhóm Dao ở Tuyên Quang nói riêng và
trên cả nước nói chung đều di cư từ Trung Quốc sang. Trước tiên họ tới một số
tỉnh ở miền Bắc như Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng
Sơn, Vĩnh Phúc rồi sau đó mới tới Tuyên Quang. Theo hai công trình “Các
dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” do Ban Dân tộc Tuyên Quang xuất bản năm
1972, “Người Dao ở Việt Nam” của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1971,
người Dao đã cư trú ở Tuyên Quang từ thế kỉ XIII. Trong đó, nhóm Dao Quần
23
Trắng có mặt sớm nhất, họ từ Phúc Kiến Trung Quốc theo đường biển đến
Quảng Yên (Quảng Ninh), ngược lên Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên rồi tới
Tuyên Quang; sau đó nhóm Dao Quần chẹt và Dao Đeo tiền từ Quảng Đông
(Trung Quốc) theo đường biển vào Quảng Yên tới Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà
Tây, Hòa Bình, Yên Bái rồi đến Tuyên Quang; khoảng thế kỉ XVII - dưới thời
Minh nhóm Dao Thanh Y từ Quảng Đông vào Móng Cái (Quảng Ninh), Lục
Ngạn (Hà Bắc) sang sông Đuống ngược lên Tuyên Quang; nhóm Dao đỏ cũng
đến Tuyên Quang vào khoảng thời gian đó; riêng nhóm Lô gang đến muộn hơn
khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Đối với đời sống kinh tế, trước đây hầu hết người Dao, trong đó có Dao
Thanh y đều sống du canh du cư nên họ di đến nhiều tỉnh và tới Tuyên Quang,
bởi nơi đây có nhiều đồi núi có thể khai phá làm rẫy. Họ phát rẫy trên các sườn
đồi núi trồng lúa, ngô, khoai, rau, đậu Nương rẫy của họ phần lớn là đất dốc,
chóng bạc màu. Mỗi đám nương chỉ canh tác được 2 - 3 năm, rồi họ lại chuyển

cúng tổ tiên được họ rất coi trọng, bàn thờ được đặt ở chỗ tôn nghiêm trong nhà,
việc thờ cúng gia tiên do đàn ông chủ gia đình chủ trì hoặc trao cho người con
trai trưởng. Đàn ông Dao đến tuổi trưởng thành đều phải làm lễ cấp sắc, vì quan
niệm nếu chưa cấp sắc thì chết hồn không về được với tổ tiên nên lúc còn sống
chưa cấp sắc thì khi chết con cháu vẫn phải làm.
Trong cuộc sống hàng ngày, người Dao ở Tuyên Quang có tập quán đổi
công, giúp đỡ nhau. Họ có sở trường đi săn bắn, trước kia khi bắn được thú
rừng thì họ mời nhau ăn uống, chia thịt cho những người đi săn và cả các hộ gia
đình trong bản nếu săn được thú lớn. Họ sống giản dị thật thà, chất phác, thích
sống yên tĩnh, biết giữ lời hứa, ghét lừa đảo dối trá. Họ có lòng thương người
mến khách, dễ kết bạn với các dân tộc khác, đi đâu cũng có đôi, có đoàn, ít khi
đi một mình. Cũng như các dân tộc khác, người Dao ăn tết Nguyên đán. Vào
dịp tết Thanh minh (3/3), họ làm lễ tảo mộ cho tổ tiên, trường hợp mồ mả ở xa
25

Trích đoạn Người Dao Thanh Yở xê Xuđn Vđn Nguồn gốc Quâ trình tổ chức lại sản xuất Câc chính sâch của Nhă nước Những khó khăn cộng đồng Dao Thanh y phải đối diện Khuyến nghị một số giải phâp phât triển sinh kế bền vững
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status