ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=================
CAO THỊ THƢỜNG
HÔN NHÂN HỖN HỢP CỦA NGƢỜI DAO
THANH Y Ở XÃ THƢỢNG YÊN CÔNG,
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội ngày 16 tháng 10 năm 2014
Học viên cao học Cao Thị Thường Lời cám ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của đơn
vị nơi tôi công tác, của các thầy, cô trong bộ môn Nhân học, các thầy cô trong
khoa Lịch sử, trường đại học KHXH&NV - ĐHQGHN, của thầy hướng dẫn, các
cơ quan ban ngành của tỉnh, huyện, xã tại địa bàn nghiên cứu.
TDTT : Thể dục thể thao
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Uỷ ban nhân dân 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4. Nguồn tư liệu của luận văn 6
5. Đóng góp của luận văn 6
6. Kết cấu của luận văn 7
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not
defined.
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Những nghiên cứu về người Dao và nhóm Dao Thanh Y 8
1.1.2 Những nghiên cứu về hôn nhân và hôn nhân hỗn hợp 10
1.2 Cơ sở lý thuyêt và phƣơng pháp nghiên cứu 13
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn 13
1.2.2 Cơ sở lý thuyết 14
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Tiểu kết chƣơng 1 Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU
Error! Bookmark not defined.
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu 20
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 20
2.1.2 Về kinh tế 22
4.1.5 Nâng cao chất lượng dân số 95
4.2 Mặt hạn chế của hôn nhân hỗn hợp Error! Bookmark not defined.
4.2.1 Phá vỡ các nguyên tắc hôn nhân truyền thống 96
4.2.2 Bất đồng ngôn ngữ 99
4.2.3 Xung đột văn hoá 101
4.2.4 Tư tưởng phân biệt đối xử 102
Tiểu kết chƣơng 4 103
KẾT LUẬN 105
3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 113
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu dân số các thôn ở xã Thượng Yên Công 20
Bảng 2.2: Dân số và thành phần các dân tộc trên địa bàn xã Thượng Yên Công 24
Bảng 2.3: Số dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 28
Bảng 3.1: Những trường hợp kết hôn với người nước ngoài 64
Bảng 4.1: Tuổi kết hôn lần đầu của người Dao Thanh Y (trước 1986) 74
Bảng 4.2: Tuổi kết hôn lần đầu của người Dao Thanh Y (sau 1986) 75
Bảng 4.3: Người quyết định hôn nhân hiện nay 76
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hôn nhân có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi dân tộc, không chỉ
có ý nghĩa đối với cá nhân, mà còn đối với cả gia đình và dòng tộc. Hôn nhân
gắn liền với nhiều nghi lễ, phong tục và chứa đựng nhiều sắc thái văn hoá của
Thanh Y ở xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh làm đề tài
luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài Hôn nhân hỗn hợp của người Dao Thanh Y ở xã Thượng Yên
Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, việc nghiên cứu nhằm những mục
đích sau đây:
- Thông qua những câu chuyện cụ thể, bước đầu luận văn cung cấp tư liệu về
thực trạng hôn nhân hỗn hợp qua các thời kỳ cũng như hiện nay của người Dao
Thanh Y ở xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Tìm hiểu những yếu tố nào chi phối tới hôn nhân hỗn hợp, trong đó nhấn
mạnh yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất.
- Bước đầu xác định những hệ quả tích cực và hạn chế (xung đột văn hóa)
của hôn nhân hỗn hợp trong đời sống của người Dao Thanh Y.
- Góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết dân tộc ở địa phương
trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng hôn nhân hỗn hợp của
người Dao Thanh Y qua các thời kỳ cũng như trong bối cảnh hiện nay. Tình hình
hôn nhân hỗn hợp trong hai giai đoạn: từ năm 1975 đến 1986 và từ năm 1986
đến nay được xác định làm đối tượng tiếp cận nghiên cứu.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
7
Địa bàn nghiên cứu được giới hạn trong xã Thượng Yên Công, thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Đây là nơi có số người Dao Thanh Y chiếm đông
đảo nhất ở thành phố Uông Bí; đồng thời đây cũng là địa phương mà đồng bào
Dao Thanh Y còn bảo lưu khá đậm nét các yếu tố văn hóa tộc người truyền
thống. Tuy nhiên, những thôn bản có các cặp vợ chồng hỗn hợp sẽ được ưu tiên
tập trung nghiên cứu để thu thập tư liệu để hoàn thành luận văn.
hình thức hôn nhân này.
- Góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định
chính sách cũng như ngành văn hóa hiểu biết thêm thực trạng của hình thức hôn
nhân mới ở người Dao tại địa phương hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số nét khái quát về
người Dao Thanh Y ở Quảng Ninh
Chương 2: Tình hình hôn nhân hỗn hợp của người Dao Thanh Y qua các
thời kỳ
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra 9
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ NÉT KHÁI
QUÁT VỀ NGƢỜI DAO THANH Y Ở QUẢNG NINH
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về người Dao và nhóm Dao Thanh Y
Trong các tác phẩm Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn viết năm 1777, Việt
sử thông giám cương mục, của Bộ quốc sử của triều Nguyễn được viết từ năm
1856-1881, Đại Nam thực lục, bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các
chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn biên soạn trong 88 năm mới hoàn thành
(1821-1909) … các học giả thời phong kiến khi viết về sự phân bố dân cư, tình
hình các dân tộc vùng biên giới đều có ghi chép ít nhiều về người Dao. Tuy vậy,
những tài liệu đó chưa phải là những nghiên cứu về các dân tộc nói chung, về
người Dao nói riêng. Người Dao thường vẫn được biết đến qua tên gọi “man”,
nên khó xác định liên quan đến nhóm Dao cụ thể nào.
Dưới thời thuộc Pháp, cũng có nhiều bài viết về người Dao đăng trên các
tạp chí: kỷ yếu hội nhân học Paris (Bulletin de la Société d Anthropologie de
có dân tộc Dao. Tuy nhiên, hôn nhân nói riêng cũng như các phạm trù sinh hoạt
văn hoá vật chất cũng như tinh thần nói chung của người Dao chỉ được đề cập
đến khá sơ lược. Cuốn Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam (nhiều tác giả) của Viện
dân tộc học, do Nxb KHXH ấn hành năm 1983, gồm bài viết của nhiều nhà
nghiên cứu Dân tộc học. Có thể nói, đây là những tài liệu giới thiệu khái quát, cô
đọng về hình ảnh của 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Cuốn kỷ yếu
hội thảo Sự phát triển văn hóa – xã hội của người Dao: hiện tại và tương lai,
Nxb KHXH, Hà Nội, 1998 bao gồm nhiều bài viết liên quan đến nhiều lĩnh vực
của người Dao ở Việt Nam như đặc điểm dân tộc, tình hình kinh tế, văn hóa, xã
hội; các phong tục tập quán như hôn nhân, tang ma Tại hội thảo này, nhóm
Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh được nhắc đến qua bài Tục lệ tang ma của người
Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh của Vi Văn An; đặc biệt, nhóm Dao Thanh Y
11
cũng được nhắc đến qua bài Trang phục cổ truyền của người Dao Thanh Y ở
Quảng Ninh của tác giả Nguyễn Anh Cường. Cuốn Văn hóa truyền thống người
Dao Hà Giang của Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (cb) (1999), Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội là công trình giới thiệu khá đầy đủ, chi tiết về người Dao
tỉnh Hà Giang. Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc đến công trình Địa chí
Quảng Ninh (2003), tập 1, tập 2 và tập 3 của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Quảng Ninh,
do Nxb Thế giới, Hà Nội ấn hành. Trong tập 1, chương 10 giới thiệu về các dân
tộc thiểu số trong tỉnh, trong đó có người Dao và cả nhóm Dao Thanh Y do Vi
Văn An chấp bút. Ngoài ra, còn phải kể đến khá nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận
văn án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học tại
các trường đại học Văn hóa Hà Nội, đại học KHXH&NV thuộc đại học Quốc gia
Hà Nội, đặc biệt là Học viện KHXH thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN.
Liên quan đến người Dao ở Quảng Ninh, cuốn Một số vấn đề về người Dao
ở Quảng Ninh (1998) của Nguyễn Quang Vinh, trong đó nhóm Dao Thanh Y
được đề cập đến với những khía cạnh như nguồn gốc lịch sử, văn hoá vật chất,
văn hoá tinh thần, đời sống xã hội… nhưng vẫn chỉ mang tính khái quát, chưa
này, theo tác giả các hình thái gia đình mà loài người đã trải qua đó là: gia đình
huyết tộc; gia đình punalua; gia đình đối ngẫu; gia đình phụ hệ gia trưởng và gia
đình một vợ một chồng. Đến năm 1884 F.Ăngghen cho ra đời cuốn sách kinh
điển về hôn nhân gia đình, đó là cuốn sách “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ
tư hữu và của nhà nước”. Tác giả tiếp thu công trình nghiên cứu của L.Morgan,
dựa vào những thành tựu của khoa học lúc bấy giờ, bên cạnh đó ông dựa vào
những công trình nghiên cứu của chính mình và ông còn tiếp thu những ý kiến
của C. Mác. Cuốn sách này có giá trị đặc biệt quan trọng, là cơ sở lý luận để các
nhà dân tộc học nghiên cứu về vấn đề hôn nhân và gia đình.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam ngày
càng nhiều. Đây là đề tài được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Trong
13
đó phải kể đến những bài viết về hôn nhân của Giáo sư Phan Hữu Dật trong cuốn
“Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam” (Nxb ĐHQG Hà Nội, năm 1998).
Bài “Hôn nhân và gia đình các dân tộc ở nước ta”, tác giả khái quát
chung đặc điểm chủ yếu của hôn nhân và gia đình ở các dân tộc Việt Nam. Tác
giả chia thành hai đặc điểm chính theo thuyết tiến hoá. Đặc điểm thứ nhất là
những dân tộc đang ở trong giai đoạn tan rã khác nhau của xã hội nguyên thuỷ.
Đặc điểm thứ hai là các dân tộc đã phân hoá giai cấp, đã đến quan hệ phong kiến
sơ kỳ như Mường, Tày, Nùng… hay phong kiến tập quyền như Kinh, Hoa,
Khơme…
Bài “Dấu vết hôn nhân liên minh ba thị tộc ở người Vân Kiều” nói về hôn
nhân liên minh ba “mu” ở một số tộc người Vân Kiều, Tri, Măng Coong. “Hình
thái liên minh này đặc thù này tương tự như hình thái liên minh ba thị tộc lần
đầu tiên được nhà khoa học Nga Stecbe phát hiện vào cuối thề kỷ XIX ở người
Ghiliắc. Đây chính là hình thức ngoại hôn giữa các dòng họ trong cùng một tộc
người” [9;275].
Bài “Dấu vết hệ thống bốn hôn đẳng ở Tây Nguyên - Việt Nam” nói về
tập tục hôn nhân của người Ê Đê ở Tây Nguyên, đó là tục nối nòi.
theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người
thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định
mối quan hệ và trách nhiệm với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận
đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới.
Dưới xã hội nguyên thuỷ, hôn nhân tiến hành theo luật tục. Trong các xã hội có
giai cấp và nhà nước, hôn nhân phải được pháp luật công nhận, do đó quyền
hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng con cái cũng được pháp luật xác
định và bảo đảm. Có những trường hợp hôn nhân phải được tiến hành ở nhà
thờ, phải tuân theo những nghi thức tôn giáo nhất định để được giáo hội công
nhận…” [24;389].
15
Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát về hôn nhân hỗn hợp như sau:
Hôn nhân hỗn hợp là một hiện tượng kết hôn giữa nam và nữ thuộc các thành
phần dân tộc khác nhau mà không trái với quy định của pháp luật. Từ cơ sở
đó,“có thể nói những cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc là một trong những hình
thức biểu hiện mối quan hệ giữa các dân tộc. Sau khi gia đình hỗn hợp ra đời thì
xu hướng phát triển của đơn vị xã hội vi mô này cũng thể hiện khác hẳn gia đình
thuần dân tộc, thứ nhất ở việc chọn ngôn ngữ tiếp xúc, thứ hai ở việc xác định
thành phần dân tộc của những đứa con (thường nghiêng về thành phần dân tộc
của người cha)” [5;24].
Hôn nhân hỗn hợp là một hiện tượng phổ biến diễn ra trong nền kinh tế thị
trường hiện nay. Bởi vì quá trình tiếp xúc giao lưu văn hoá không chỉ bó trong
phạm vi một cộng đồng tộc người mà xu hướng sẽ phát triển ra bên ngoài.
Không những thuộc phạm vi quốc gia mà còn giữa quốc gia này với quốc gia
khác trong xu thế toàn cầu hoá như ngày nay.
Như vậy, việc nghiên cứu vấn đề hôn nhân hỗn hợp không chỉ góp phần
vào việc tìm hiếu sự thay đổi xung quanh đời sống của bản thân gia đình hỗn
hợp mà qua đó còn nói lên bản chất của hiện tượng xã hội và một phần dự đoán
xu hướng phát triển của nó trong tương lai.
trạng thái khác nhau. Từ đó, có thể so sánh được các hiện tượng biến đổi theo
thời gian.
Đối với đề tài này, hôn nhân hỗn hợp của người Dao Thanh Y được nghiên
cứu khái quát trong hai giai đoạn chính. Giai đoạn 1 từ năm 1975 đến 1986; đây
là giai đoạn nước ta được hoàn toàn thống nhất, bước vào giai đoạn phục hồi nền
kinh tế. Mọi mặt trong đời sống xã hội cũng thay đổi dựa trên những quyết sách
của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn này đồng bào Dao Thanh Y cũng có
những bước chuyển mình cùng xã hội. Đồng bào không chỉ ở trong không gian
của làng, bản mà còn dịch chuyển, giao lưu văn hoá, kinh tế với các vùng miền
17
khác. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hôn nhân
hỗn hợp bắt đầu xuất hiện và ngày một phát triển.
Giai đoạn 2 từ năm 1986 đến nay, trong bối cảnh nước ta bước vào một giai
đoạn phát triển mới đánh dấu bởi Đại hội VI năm 1986. Nền kinh tế thị trường
phát triển, tạo tiền đề phát triển cho nền kinh tế phát triển, đời sống văn hoá, xã
hội mở rộng. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin, các
vùng miền trong cả nước được giao lưu, thu hẹp khoảng cách về không gian.
Đồng bào Dao Thanh Y đã có những thay đổi trong nhận thức, đặc biệt là vấn đề
hôn nhân.
1.2.2.3 Tiếp cận thuyết xung đột
Dựa trên cơ sở lý luận của M.Weber (về xung đột quyền lực) và đặc biệt
là C.Mác (về xung đột giai cấp), người ta cho rằng các mâu thuẫn và xung đột
không chỉ là đặc trưng mà còn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống xã
hội. Các mâu thuẫn và xung đột xã hội là hiện tượng có tính chất phổ biến và
được lặp đi lặp lại trong các xã hội và các nền văn hoá khác nhau. Thuyết xung
đột đưa ra những lý giải về sự hội nhập và biến đổi xã hội trên cơ sở của quyền
lực, cũng như những lợi ích về kinh tế, xã hội trong hoạt động thực tiễn của con
người. Vận dụng cách tiếp cận xung đột vào phân tích văn hoá, các nhà nghiên
cứu nhận thấy rằng xung đột không chỉ diễn ra ở mọi cấp độ trong hệ thống xã
Giao lưu và tiếp biến văn hóa vừa là kết quả của sự trao đổi văn hóa, vừa là
chính bản thân của sự trao đổi ấy, do đó sự giao lưu tiếp biến văn hóa có một
tầm quan trọng trong lịch sử nhân lọai.
Giao lưu văn hoá tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hoá ở các
cộng đồng, tiếp biến văn hóa là quy luật tồn tại và phát triển của mọi nền văn
hóa và mọi xã hội từ xưa đến nay. Xét về thực chất, tiếp biến văn hóa chính là sự
tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh của quá trình
phát triển. Trong đó, các yếu tố nội sinh, mà trung tâm là con người giữ vai trò
chủ thể có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng mối quan hệ của chúng với
19
các yếu tố ngoại sinh.
Lý thuyết tiếp biến văn hóa được vận dụng trong luận văn nhằm lý giải sự
biến đổi của các giá trị văn hóa trong các gia đình hỗn hợp như các nghi lễ, các
quan niệm, sinh hoạt vật chất, những nhận thức mới… trong đời sống thường
ngày.
1.2.2.5 Lý thuyết tương tác
Khi nghiên cứu về hôn nhân không thể tách rời sự vận động và phát triển
của văn hóa. Tất cả các hành vi ứng xử trong hôn nhân đều được đặt dưới góc độ
của văn hóa, chính vì vậy tôi đã chọn lý thuyết tương tác để giải thích các hiện
tượng trong hôn nhân hỗn hợp. Mỗi một hành động xã hội nói chung đều có
những động cơ thúc đẩy. Vì vậy, muốn nghiên cứu một hành động xã hội, thì
phải tìm hiểu các nguyên nhân để giải thích cho hành động ấy. Trong đề tài này
không chỉ đơn thuần là mô tả các cuộc hôn nhân hỗn hợp của người Dao Thanh
Y mà phải giải thích được tại sao họ lại làm như vậy? Muốn giải thích được
những câu hỏi trên không chỉ dựa vào suy nghĩ chủ quan của con người mà còn
phải dựa vào tính khách quan của hiện tượng chịu tác động của những tiền đề
kinh tế - xã hội từ bên ngoài.
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
áp dụng các phương pháp này trong việc ghi chép và phân tích các trường hợp
hôn nhân hỗn hợp. Sử dụng bảng hỏi tại địa bàn nghiên cứu ở xã Thượng Yên
Công với các đối tượng khác nhau về các vấn đề liên quan đến hôn nhân hỗn
hợp.
Khi trình bày luận văn, chúng tôi còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so
sánh. Đặc biệt là so sánh các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Thanh Y với
các nhóm Dao khác. Qua đó thấy được những điểm giống và khác nhau trong
hôn nhân của các nhóm Dao.